Bản án số 31/2022/HNGĐ-ST ngày 22/04/2022 của TAND huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 31/2022/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 31/2022/HNGĐ-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 31/2022/HNGĐ-ST ngày 22/04/2022 của TAND huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Tân Hiệp (TAND tỉnh Kiên Giang) |
| Số hiệu: | 31/2022/HNGĐ-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 22/04/2022 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | chị T xin được ly hôn với anh D, chị T xin được nuôi con, về tài sản chung và nợ chung không có, không yêu cầu Toà án giải quyết. |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN TÂN HIỆP Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 31/2022/HNGĐ-ST
Ngày 22/4/2022
Về việc“Tranh chấp ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HIỆP, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Ái
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trương Văn Sắc
2. Bà Võ Thị Ngọc The
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Huỳnh Thiên Ân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang tham gia
phiên tòa: Ông Nguyễn Trần Đức Tuyên – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên
Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 79/2021/TLST- HNGĐ ngày 22 tháng 3
năm 2021 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2022/
QĐXXST-HNGĐ ngày 17/3/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2022/QĐST-
HNGĐ ngày 05/4/2022 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị Thuỷ T – sinh năm 1996 (có mặt)
Địa chỉ: ấp T, xã T1, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang.
* Bị đơn: Anh Phạm Tùng D – sinh năm 1996 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp P, xã A, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa chị Huỳnh Thị Thuỷ T trình
bày: Tôi và anh Phạm Tùng D chung sống với nhau vào ngày 09 tháng 8 năm 2017, có
đăng ký kết hôn tại UBND xã A, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang. Có tổ chức đám cưới
theo phong tục tập quán địa phương, có tìm hiểu nhau trước khoảng 2, 3 năm mới tiến tới
hôn nhân, hôn nhân tự nguyện, không bị cưỡng ép.
Vợ chồng chung sống thời gian đầu hạnh phúc đến năm 2020 thì xảy ra mâu thuẫn.
Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh D thường xuyên có tính ghen tuông, chửi bới đánh đập
2
tôi, anh D không có trách nhiệm với vợ con, từ đó vợ chồng luôn bất đồng quan điểm với
nhau trong cuộc sống, tôi đã khuyên và tha thứ cho anh D nhiều lần nhưng anh D vẫn
không thay đổi, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, không thể hàn gắn lại được. Vợ chồng
không sống với nhau từ năm 2020 cho đến nay.
- Về con chung: quá trình chung sống vợ chồng có 01 người con chung tên Phạm
Huỳnh Gia P, sinh ngày 01/01/2018, hiện nay cháu P đang sống với tôi.
- Về tài sản chung: vợ chồng không có tài sản chung.
- Về nợ chung: vợ chồng không nợ ai và cũng không ai nợ vợ chồng.
Tại phiên tòa chị T yêu cầu:
- Về quan hệ hôn nhân: chị T yêu cầu được ly hôn với anh Phạm Tùng D.
- Về quan hệ con chung: tôi xin nuôi cháu P, không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi
con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đối với bị đơn anh Phạm Tùng D, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các
văn bản tố tụng như Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao
nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh D vẫn không đến Tòa án để
tham gia tố tụng và cũng không có bất cứ văn bản nào thể hiện ý kiến của mình đối với
yêu cầu khởi kiện của chị T.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hiệp phát biểu ý kiến: Thẩm
phán, Hội đồng xét xử và thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân
sự trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ
quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Bị đơn vắng mặt mặc dù Tòa án
đã tống đạt các thủ tục tố tụng hợp lệ.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hiệp đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của chị Huỳnh Thị Thuỷ T, cho ly hôn giữa chị Huỳnh Thị Thuỷ T và anh
Phạm Tùng D. Về quan hệ con chung: giao cháu Phúc cho chị T nuôi dưỡng, anh D
không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa
án giải quyết nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa,
Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Phạm Tùng D với tư cách là bị đơn. Tại phiên tòa hôm
nay anh D vắng mặt. Xét thấy anh D đã được Tòa án tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét
xử, Quyết định hoãn phiên tòa và Thông báo mở lại phiên toà hợp lệ theo quy định của
Bộ luật tố tụng dân sự nhưng anh D vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử vẫn
3
tiến hành xét xử vụ án là phù hợp theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3
Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Xét mối quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh D là hôn
nhân hợp pháp, vì anh chị chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại UBND xã A,
huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang, giấy chứng nhận kết hôn số 187 ngày 08/11/2017 theo
đúng quy định của pháp luật. Phù hợp với Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3] Xét yêu cầu xin được ly hôn của chị T cho thấy vợ chồng anh chị chung sống
với nhau được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, chị T cho rằng Nguyên nhân mâu
thuẫn là do anh D có tính ghen tuông, hay chửi bới đánh đập chị T, anh D không có trách
nhiệm với vợ con, chị T đã tha thứ và khuyện anh D nhiều lần nhưng anh D vẫn không
thay đổi, vợ chồng không sống chung từ năm 2020 cho đến nay.
Sau khi thụ lý vụ án, tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên
họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải hợp lệ, nhưng anh D
không đến Tòa án để tham gia tố tụng, vắng mặt không có lý do nên Tòa án không ghi
nhận được ý kiến của anh D và anh D cũng không có bất cứ văn bản nào thể hiện ý kiến
của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị T. Tại phiên tòa chị T vẫn giữ nguyên yêu
cầu xin được ly hôn. Theo quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy
định “ Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, giúp đỡ nhau,
cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình; Vợ chồng có nghĩa vụ sống
chung với nhau....”. Xét thấy thực tế giữa chị T và anh D không có tiếng nói chung trong
cuộc sống, không sống chung với nhau từ năm 2020 cho đến nay, không ai quan tâm đến
ai, không ai có ý muốn hàn gắn cuộc sống vợ chồng, xét thấy mục đích hôn nhân không
đạt được nên Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu xin được ly hôn của chị T.
[4] Về quan hệ con chung: chị T xác nhận chị và anh D có 01 người con chung tên
Phạm Huỳnh Gia P, sinh ngày 01/01/2018.
Tại phiên tòa chị Tiên yêu cầu được nuôi cháu P, không yêu cầu anh D cấp dưỡng
nuôi con. Theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 “vợ
chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn
đối với con, trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một
bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên
thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Xét yêu cầu của chị T xin được nuôi cháu P là có
cơ sở chấp nhận và phù hợp với đạo đức xã hội vì từ khi chị T và anh D không sống
chung với nhau thì cháu P trực tiếp sống với chị T, hơn nữa cháu P còn nhỏ còn sự chăm
sóc của người mẹ nhiều hơn và anh D cũng không có ý kiến gì về việc chị T xin được

4
nuôi cháu P. Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu xin được nuôi cháu P không
yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con của chị T.
Tiếp tục giao cháu Phạm Huỳnh Gia P, sinh ngày 01/01/2018 cho chị T trực tiếp
trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Anh D không phải cấp dưỡng nuôi con.
Không ai có quyền cản trở việc tới lui thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: chị T xác nhận chị và anh D không có tài sản
chung và không có nợ chung, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem
xét.
[6] Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Từ những nhận định trên Hội đồng
xét xử xét thấy đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát là hoàn toàn phù hợp, có cơ sở chấp
nhận theo đúng quy định của pháp luật.
[7] Về án phí HNST: Buộc chị T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo trong hạn luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào các Điều 28, 147, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ các Điều 51, khoản 1 Điều 56, 57 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường Vụ Quốc Hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu nộp,
quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị Thuỷ
T. Cho ly hôn giữa chị Huỳnh Thị Thuỷ T và anh Phạm Tùng D.
2. Về quan hệ con chung: Tiếp tục giao cháu Phạm Huỳnh Gia P, sinh ngày
01/01/2018 cho chị Huỳnh Thị Thuỷ T trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi
dưỡng. Anh Phạm Tùng D không phải cấp dưỡng nuôi con. Không ai có quyền cản trở
việc tới lui thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.
3. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Buộc chị Huỳnh Thị Thuỷ T phải nộp 300.000đ
(Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo lai thu số
0008290 ngày 19/3/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên
Giang.
Trường hợp bản án quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị

5
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời
hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày
tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được
bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND huyện Tân Hiệp; Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- Chi cục THADS huyện Tân Hiệp;
- TAND tỉnh Kiên Giang;
- UBND xã A;
- Các đương sự;
- Lưu HS.
Trần Thị Ngọc Ái
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 03/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 02/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 28/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 20/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm