Bản án số 31/2021/HS-ST ngày 15/07/2021 của TAND tỉnh Tây Ninh về tội tham ô tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 31/2021/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 31/2021/HS-ST ngày 15/07/2021 của TAND tỉnh Tây Ninh về tội tham ô tài sản
Tội danh: 353.Tội tham ô tài sản (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 31/2021/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 15/07/2021
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Nguyễn Hoàng S phạm tội tham ô tài sản
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập Tự do – Hạnh Phúc
Bản án số: 31/2021/HS-ST
Ngày: 15-7-2021
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Thanh Giang.
Thẩm phán: Lê Thị Thu Trang
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Nguyễn Văn Hẩn;
2/ Bà Nguyễn Thị Hồng Minh;
3/ Ông Võ Hòa Minh.
- Thư phiên tòa: Ông Trần Phước Hậu Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:
Nguyễn Thị Minh Trang Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 7 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử
thẩm công khai vụ án hình sự thẩm thụ số: 26/2021/TLST-HS ngày 01
tháng 6 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2021/QĐXXST-
HS ngày 28 tháng 6 năm 2021 đối với bị cáo:
Nguyễn Hoàng S, sinh năm 1985 tại tỉnh Tây Ninh. Nơi cư trú: Số MB Khu
phố M, Phường M1, thành phố TN, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Nguyên Kế
toán Tòa án nhân dân huyện CT, tỉnh Tây Ninh; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc:
Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không ; quốc tịch; Việt Nam; con ông Nguyễn
Văn N, sinh năm 1960 Phạm Thị Ngọc D, sinh năm 1962; vtên Thi Thị
Hồng Đ, sinh năm 1985 02 người con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm
2014.
Tiền án, tiền sự: không có.
Bị bắt tạm giam từ ngày 24-8-2019 đến nay. (có mặt)
Người o chữa ch định cho b cáo: Ông Phạm Văn T– Luật ng ty
lut Trách nhiệm hu hn Một thành viên BML, thuộc Đoàn Luật tỉnh Tây
Ninh. (có mt)
2
Người bào chữa theo yêu cầu cho b cáo: Ông Vương Sơn H– Luật sư Công
ty luật Trách nhiệm hu hn Một thành viên SHL, thuộc Đoàn Luật tỉnh Tây
Ninh. (có mt)
Bị hại: Tòa án nhân dân huyện CT, tỉnh Tây Ninh; địa chỉ trụ sở: Số 12, tỉnh
lộ 781, thị trấn CT, huyện CT, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện hợp pháp: Ông Mai Thanh T1, chức vụ: Chánh án Tòa án
nhân dân huyện CT, tỉnh y Ninh;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Tấn T, chức vụ: Chánh văn phòng -
Thẩm phán Tòa án nhân dân huyện CT, tỉnh Tây Ninh. (có đơn xin vắng mặt)
-Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Thi Thị Hồng Đ, sinh năm 1985; t tại: Số MB Khu phố M,
Phường M1, thành phố TN, tỉnh Tây Ninh; (có mặt).
+ Nguyễn Thị Kiều M, sinh năm 1985; trú tại: Số MKH đường
NKKN, Khu phố M, Phường B, thành phố TN, tỉnh Tây Ninh; (có đơn xin vắng
mặt).
+ Lâm Thúy L, sinh m 1989; trú tại: Ấp TS, TĐ, huyện CT, tỉnh
Tây Ninh; (có đơn xin vắng mặt).
+ Phạm Thị Kim N1, sinh năm 1985; trú tại: Số HBB đường ĐBP,
khu phố NP, phường NT, thành phố TN, tỉnh Tây Ninh; (có đơn xin vắng mặt).
+ Ông Nguyễn Thiên D, sinh năm 1977; trú tại: Ấp TL, TĐ, thị HT,
tỉnh Tây Ninh; (vắng mặt).
+ Ông Trần Tuấn V, sinh năm 1966; trú tại: Ấp LT, LTT, thị HT,
tỉnh Tây Ninh; (có đơn xin vắng mặt).
+ Ông Nguyễn Duy L1, sinh năm 1965; t tại: BBH TVT, Ấp GT,
BM, thành phố TN, tỉnh Tây Ninh; (có đơn xin vắng mặt).
+ Ông Đỗ Thanh B, sinh năm 1967; trú tại: NSB Ấp LB, LTN, thị
HT, tỉnh Tây Ninh; (có đơn xin vắng mặt).
+ Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1960; trú tại: Số MB Khu phố M,
Phường M1, thành phố TN, tỉnh Tây Ninh; (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các i liệu trong hồ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 12-8-2019, Tòa án nhân dân huyện CT, tỉnh Tây Ninh ban hành Công
văn số 128 về việc chuyển tin báo về tội phạm đối với kế toán Nguyễn Hoàng S,
công tác tại Tòa án nhân dân huyện CT, tỉnh Tây Ninh đến cơ quan Cảnh sát điều
tra Công an huyện CT, tỉnh Tây Ninh để xử lý theo quy định của pháp luật. Quá
trình điều tra thể hiện:
3
Theo Quyết định số 38/QĐ-CA ngày 20-5-2009 của Tòa án nhân dân tỉnh
Tây Ninh, bị cáo Nguyễn Hoàng S được tuyển dụng làm kế toán của đơn vị a
án nhân dân huyện CT, tỉnh Tây Ninh kể từ ngày 01-6-2009.
Từ tháng 6-2013 đến tháng 3-2019, bị o Nguyễn Hoàng S lợi dụng nhiệm
vụ được phân công, khi lập chứng từ thanh toán, quyết toán, trình cho chủ tài
khoản, người được ủy quyền chủ tài khoản của Tòa án nhân dân huyện CT
duyệt, gửi chứng từ cho Kho bạc Nhà nước huyện CT. Đồng thời, khi lập danh
sách cán bộ công chức lãnh lương hàng tháng, trình chủ tài khoản ký duyệt để gửi
Ngân hàng Nông nghiệp Phát triển Nông thôn chi nhánh huyện CT, tỉnh Tây
Ninh, bị o Nguyễn Hoàng S đã lập danh sách cán bộ công chức vượt số lượng
so với biên chế được giao, cụ thể là Thi Thị Hồng Đ (vợ của bị cáo), Nguyễn Thị
Kiều M (bạn học của bcáo) Ngô Thị Kim Q(không xác định được họ tên, địa
chỉ), Trịnh Ngọc Â(sinh năm 1982, ngụ: Số HB, Đường số HT, BL, khu phố NT,
phường NS, thành phố TN, tỉnh Tây Ninh, hiện đã bỏ địa phương) vào danh sách
cán bộ chuyển khoản chi trả lương, phụ cấp hàng tháng; chuyển vào tài khoản của
nhân bị cáo Nguyễn Hoàng S các khoản lương, phụ cấp, tiền làm thêm giờ,
công tác phí, tiền xét xử, tăng thu nhập của cán bộ Tòa án nhân dân huyện CT;
chuyển vào tài khoản của 03 công chức của Tòa án nhân dân huyện CT (Lâm
Thúy L - Thẩm phán kiêm thủ quỹ, Phạm Thị Kim N1 - Thẩm phán, Nguyễn
Thiên D - Thẩm phán) các khoản chi trả lương, phụ cấp hàng tháng, tiền công tác
phí các khoản khác, nhiều hơn số tiền thực tế những người này được
hưởng. Với thủ đoạn trên, bị cáo Nguyễn Hoàng S đã chiếm đoạt tổng số tiền
1.971.853.636 đồng, trong đó: nguồn kinh phí thực hiện tự chủ 1.892.193.160
đồng, nguồn kinh phí thực hiện không tự chủ là 79.660.476 đồng.
Cụ thể:
- Bị cáo Nguyễn Hoàng S đã nhiều lần chuyển vào i khoản nhân của b
cáo các khoản tiền lương, làm thêm giờ, tăng thu nhập cuối năm, phụ cấp, khoán
công tác phí, tiền xét xử số tiền cao hơn số tiền bị cáo được hưởng, những
khoản tiền bị cáo S không được hưởng theo quy định, để chiếm đoạt số tiền
1.352.398.443 đồng.
- Khi lập chứng từ chuyển lương, phụ cấp hàng tháng cho công chức của
Tòa án nhân dân huyện CT, bị cáo Nguyễn Hoàng S đã nhiều lần đưa thêm tên
của những người không phải công chức của Tòa án nhân dân huyện CT là Thi Thị
Hồng Đ, Nguyễn Thị Kiều M, Ngô Thị Kim Q, Trịnh Ngọc  để chiếm đoạt
482.356.197 đồng. Trong đó, từ tháng 11-2013 đến tháng 12-2017 chuyển tiền
vào tài khoản của Thi Thị Hồng Đ với số tiền 404.741.979 đồng; từ tháng 02-
2015 đến tháng 5-2017, chuyển vào tài khoản của Nguyễn Thị Kiều M với số tiền
67.029.220 đồng; tháng 11-2013, chuyển vào tài khoản của Ngô Thị Kim Q số
tiền 5.000.000 đồng, tháng 12-2013, chuyển vào tài khoản của Trịnh Ngọc  số
tiền 5.584.998 đồng. Sau khi chuyển tiền vào tài khoản Thi Thị Hồng Đ
Nguyễn Thị Kiều M, bị cáo Nguyễn Hoàng S sử dụng thẻ ATM (đã mượn trước
khi chuyển tiền) để tự rút tiền tiêu xài nhân. Khi mượn thẻ ATM, Thi Thị
Hồng Đ Nguyễn Thị Kiều M do không có nhu cầu sử dụng nên đồng ý cho bị
cáo Nguyễn Hoàng S mượn thẻ ATM.
4
- Ngoài ra, bị cáo Nguyễn Hoàng S còn mượn tài khoản của 03 công chức tại
Tòa án nhân dân huyện CT Lâm Thúy L, Phạm Thị Kim N1 ông
Nguyễn Thiên D đchuyển tiền chiếm đoạt số tiền 137.098.996 đồng. Trong
đó: từ tháng 01-2016 đến tháng 6-2018, bị cáo S đã chuyển vào tài khoản của
Lâm Thúy L nhiều hơn stiền của L thực tế được hưởng là 47.746.699 đồng;
từ tháng 01-2016 đến tháng 12-2018, đã chuyển vào tài khoản của Phạm Thị
Kim N1 với tổng số tiền 79.048.915 đồng; từ tháng 5-2018 đến tháng 9-2018, đã
chuyển vào tài khoản của ông Nguyễn Thiên D với số tiền 10.303.382 đồng.
Số tiền chuyển vào tài khoản của bà Lâm Thúy L bao gồm tiền lương của
L tiền bị cáo S chuyển thêm vào. Số tiền chuyển vào tài khoản Phạm Thị
Kim N1, ngoài tiền lương của N1, còn lại dùng để trả nợ cho bà N1. Số tiền
chuyển vào tài khoản của Nguyễn Thiên D bao gồm tiền lương của ông D tiền
bị cáo S trả nợ cho ông D. Sau khi tiền đã chuyển vào i khoản tN1, L,
ông D đã tự rút tiền và đưa lại cho bị cáo Nguyễn Hoàng S đúng với số tiền bị cáo
S đã trao đổi trước khi chuyển khoản. Ngoài số tiền được hưởng theo chế độ, ông
Nguyễn Thiên D Phạm Thị Kim N1 không xác định được cụ thể số tiền
bị cáo S đã chuyển vào tài khoản cá nhân là bao nhiêu.
Số tiền chiếm đoạt được, bị cáo Nguyễn Hoàng S đã tiêu xài cá nhân hết.
Số tiền bị cáo Nguyễn Hoàng S chiếm đoạt liên quan đến trách nhiệm của
các chủ tài khoản Tòa án nhân dân huyện CT, cụ thể như sau:
- Từ tháng 6-2013 đến tháng 02-2016: Chứng từ do ông Nguyễn Duy L1-
Chánh án, chtài khoản duyệt bị cáo đã chiếm đoạt với số tiền 832.406.846
đồng.
- Từ tháng 02-2016 đến tháng 9-2018: Chứng từ do ông Đỗ Thanh B- Phó
Chánh án, được ông Trần Tuấn V, Chánh án Tòa án nhân dân huyện CT ủy quyền
chủ tài khoản ký duyệt bị cáo đã chiếm đoạt với số tiền 1.083.094.252 đồng.
- Từ tháng 10-2018 đến tháng 3-2019: Chứng từ do ông Trần Tuấn V, chủ
tài khoản ký duyệt bị cáo đã chiếm đoạt với số tiền 2.996.834 đồng; mặt khác, bị
cáo Nguyễn Hoàng S đã giả mạo chữ ký của ông Trần Tuấn V- Chánh án, chủ tài
khoản trên các chứng từ để chiếm đoạt số tiền 53.355.704 đồng.
* Kết luận giám định số 609/KLBS-KTHS ngày 21-5-2020 của Phòng kỹ
thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, kết luận:
- Chữ mang tên Nguyễn Duy L1 trên 66 tài liệu cần giám định (ký hiệu
A01 đến A4, A44 đến A69) với chữ ký đứng tên Nguyễn Duy L1 trên các tài liệu
mẫu (ký hiệu M01 đến M08) là do cùng một người ký ra.
- Chmang tên Đỗ Thanh B trên 72 tài liệu cần giám định (ký hiệu A45
đến A47, A70 đến A138) với chữ đứng tên Đỗ Thanh B trên các tài liệu mẫu
(ký hiệu M09 đến M16) là do cùng một người ký ra.
- Chữ Trần Tuấn V trên 18 tài liệu cần giám định (ký hiệu A139 đến
A150, A156 đến A158, A162 đến A164) với chđứng tên Trần Tuấn V trên
các tài liệu mẫu (ký hiệu M17 đến M022) là do cùng một người ký ra.
- Chữ Trần Tuấn V trên 08 tài liệu cần giám định (ký hiệu A151 đến
A155, A159 đến A161) với chữ đứng tên Trần Tuấn V trên các tài liệu mẫu
(ký hiệu M17 đến M022) là không phải do cùng một người ký ra.
* Vật chứng đã thu giữ trong vụ án: Có bản kê vật chứng kèm theo.
5
* Về bồi thường thiệt hại:
Bị cáo Nguyễn Hoàng S đã nộp 791.100.000 đồng để khắc phục hậu quả.
Giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm bị cáo tác động gia đình nộp 800.000.000 đồng
tiếp tục khắc phục hậu quả.
* Kê biên tài sản: Bị cáo không có tài sản nên không tiến hành kê biên.
Tại bản Cáo trạng số: 17/CT-VKS-P3 ngày 08-10-2020 của Viện kiểm sát
nhân dân tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng S về tội “Tham ô tài sản
theo điểm a khoản 4 Điều 353 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm;
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh đề
nghị: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng S phạm tội Tham ô tài sản”. Căn cứ điểm
a khoản 4 Điều 353; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52;
khoản 1 Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng S
từ 18 năm đến 20 năm tù. Cấm bị cáo đảm nhiệm chức vụ từ 02 năm đến 03 năm.
Về bồi thường thiệt hại: Buộc bị cáo bồi thường số tiền 1.971.853.636
đồng. Ghi nhận bị cáo đã bồi thường 1.591.100.000 đồng.
Về xử vật chứng: Căn cứ Điều 46 của Bộ luật Hình sự Điều 106 của
Bluật Tố tụng hình sự. Trả cho bị cáo 01 máy tính xách tay của bị cáo. Trả cho
ông Nguyễn Văn N 01 máy tính xách tay.
* Luật Phạm Văn T bào chữa cho bcáo Nguyễn Hoàng S trình bày:
Thống nhất tội danh cáo trạng truy tố. Đề nghị xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho
bị cáo, cụ thể: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm
s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Khắc phục hậu quả số tiền 1.591.000.000 đồng khắc phục trên ¾ thuộc
điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa thể hiện: Trong thời gian công tác bị cáo được tặng danh hiệu
lao động tiên tiến, có thành tích xuất sắc trong công tác, áp dụng điểm v khoản 1
Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo có cha, mẹ có giấy khen trong quá trình công
tác; Ông nội tham gia cách mạng liệt thuộc khoản 2 Điều 51 của Bộ luật
Hình sự. Theo nguyên tắc xét xử các tội phạm tham nhũng theo Nghị quyết 03
ngày 30-12-2020 thuộc khoản 2 Điều 5 bị cáo đã khắc phục trên ¾ thiệt hại.
Không đồng ý tình tiết: Phạm tội nhiều lần thuộc điểm g khoản 1 Điều
Điều 52 của Bộ luật Hình sự bị cáo phạm tội liên tục, không xác định được
từng lần phạm tội.
Bị cáo nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s, v khoản 1, khoản
2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử
phạt bị cáo mức án thấp nhất của khung hình phạt liền kề phù hợp, đồng thời
thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.
* Luật sư Vương Sơn H trình bày lời bào chữa cho bị cáo S: Thống nhất tội
danh truy tố.
6
Mức án viện kiểm sát đnghị quá nặng vì: Bị cáo đã thái độ ăn năn
hối cải, nhận thức được hành vi sai trái do mình gây ra, đã tác động gia đình khắc
phục hậu quả. Không căn cứ xác định bcáo phạm tội nhiều lần, không chứng
minh được định lượng từng lần đã cộng lại để truy tố. Bản kết luận điều tra
xác định bị cáo phạm tội không tình tiết tăng nặng nhưng Cáo trạng xác định
bị cáo phạm tội tình tiết tăng nặng mâu thuẩn nhau Cáo trạng đánh giá
chưa toàn diện, chưa khách quan. Bị cáo S đủ điều kiện áp dụng khoản 1 Điều 54
của Bộ luật Hình sự, đề nghị áp dụng khoản 3 Điều 353 của Bộ luật Hình sự
áp dụng mức án khởi điểm khung hình phạt cho bị cáo cũng đủ tác dụng giáo dục
và phòng ngừa.
Bị cáo không tranh luận.
Ông Nguyễn Văn N: xin nhận lại chiếc máy nh xách tay đó máy của
ông, ông đã sử dụng vào công việc tại Công ty cơ khí, bị cáo S mượn sử dụng ông
không biết Sơn dùng vào việc phạm tội.
* Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã sai, vi phạm pháp luật xin xem xét
cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN;
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ
vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Trong suốt quá trình điều tra, truy tố bị cáo và những người
tham gia tố tụng không khiếu nại hoặc ý kiến về hành vi, quyết định tố
tụng của quan tiến nh tố tụng, người tiến hành ttụng. Do đó, các hành vi,
quyết định tố tụng của quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực
hiện đều hợp pháp.
[1.1] Tại phiên tòa những người tham gia tố tụng với cách bị hại
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, đã được triệu tập hợp lệ, có đơn
xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Hội đồng
xét xử tiến hành xét xử vắng mặt.
[1.2] Việc thu thập chứng cứ: Ngày 13-8-2020 Cơ quan điều tra ra Kết luận
điều tra, tống đạt cho bị cáo chuyển hồ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân
tỉnh Tây Ninh ng ngày, nhưng đến ngày 03-10-2020 điều tra viên tiếp tục làm
việc lấy lời khai ông Trần Tấn T, đại diện theo y quyền của Tòa án nhân dân
huyện CT; làm việc lấy lời khai ông Nguyễn Văn N, cha bị cáo Nguyễn Hoàng S
(BL 3370 - 3373). BL 3374 biên bản xác minh sửa chữa ngày tháng. Vi phạm
về trình tự thủ tục thu thập chứng cứ theo Điều 88; Điều 133 của Bộ luật Tố tụng
hình sự. Hội đồng xét xkhông sử dụng các tài liệu trên trong quá trình đánh giá
chưng cứ, giải quyết vụ án.
[1.3] Về Kết luận giám định: Bị cáo đã nhận được thông báo Kết luận giám
định số 609/KLBS-KTHS ngày 21-5-2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an
tỉnh Tây Ninh về kết luận chữ của ông Nguyễn Duy L1, ông Đỗ Thanh B
7
ông Trần Tuấn V trên các tài liệu, chứng từ tài chính do bị cáo phạm tội đúng,
bị cáo không có ý kiến.
[1.4] Về giám định tài chính: Tại Quyết định Trưng cầu giám định số 64/
-VPCQCSĐT ngày 30-7-2020 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Tây
Ninh yêu cầu Sở Tài Chính tỉnh Tây Ninh tiến hành giám định tài chính: Hồ
thanh quyết toán từ 6-2013 đến 8-2019. Không có thể hiện có thời hạn kết thúc.
Tại Công văn số 2430/STC-TTS ngày 07-8-2020 của Sở Tài chính đề nghị
bổ sung hồ sơ, tài liệu phục vụ giám định. Tại Công văn số: 176/VPCQCSĐT
ngày 13-8-2020 của quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Tây Ninh đã phúc
đáp công văn số 2430 ngày 07-8-2020 cho Sở Tài chính.
Ngày 30-8-2020 theo yêu cầu của cơ quan điều tra, Tòa án nhân dân huyện
CT đã tiến hành giao toàn bộ tài liệu, chứng từ tài chính còn lưu tại Tòa án huyện
CT cho quan điều tra công an tỉnh Tây Ninh từ năm 2015 đến năm 2018 để
phục vụ giám định tài chính.
Sau đó, Tại ng n 3074/STC –TTS ngày 05-10-2020 của Sở Tài chính
tiếp tục yêu cầu quan cảnh sát điều tra gửi đầy đủ hồ sơ, tài liệu liên quan để
thực hiện việc giám định nhưng cơ quan điều tra không cung cấp được. Tại Quyết
định số 02 ngày 21-5-2021 của Tòa án tỉnh Tây Ninh trả hồ sơ để điều tra bổ sung
về kết quả giám định tài chính. Tại Công văn số 1589/STC-TTr ngày 21-5-2021
của Sở Tài chính tỉnh Tây Ninh trả lời từ chối giám định do hồ sơ, tài liệu cung
cấp giám định không đầy đủ không giá trị để kết luận giám định pháp
theo nội dung trưng cầu giám định.
- Do tài liệu, chứng từ tài chính qua nhiều năm, việc lưu trữ bthất thoát
không đầy đủ, từ đó không có cơ sở để tiến hành giám định tài chính.
[1.5] Đối với số tiền 30.454.894 đồng do ông Nguyễn Văn N nộp tại Tòa
án nhân dân huyện CT, tỉnh Tây Ninh vào ngày 10-6-2020 (BL 3428) cùng ngày
Tòa án huyện CT đã chuyển vào tài khoản của Bảo hiểm hội huyn CT giải
quyết tiền bảo hiểm hội. Tại Văn bản s206/VKS-P3 ngày 31-12-2020 của
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh trả lời: Số tiền 30.454.894 đồng (cha bị cáo
S ông Nguyễn Văn N) giao nộp tiền đóng bảo hiểm hội, bảo hiểm y tế,
bảo hiểm thất nghiệp... của tháng 6-2020 theo thông báo của Bảo hiểm. Đây
giao dịch giữa ông N với Tòa án nhân dân huyện CT, về bản chất không liên quan
đến số tiền chiếm đoạt của bị cáo Nguyễn Hoàng S.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với tài liệu, chứng cứ thu thập
trong hồ vụ án, sở xác định bị cáo thực hiện hành vi như sau: Bị cáo
Nguyễn Hoàng S được nhận vào làm việc tại Tòa án nhân dân huyện CT từ năm
2009, với vai trò kế toán nhiệm vụ kiểm tra, giám sát việc thu chi tài chính;
kiểm tra giám sát việc quản lý, sử dụng nguồn kinh phí của đơn vị... lợi dụng vị
trí, vai trò nhiệm vụ được giao bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối khi lập các
chứng từ tài chính để chiếm đoạt tiền của đơn vị, cthể: Vào năm 2013 lợi dụng
việc Kho bạc Nhà nước không kiểm tra chi tiết các chứng từ tài chính, bị cáo đã
kê khống những người không thuộc diện cán bộ của Tòa án o danh sách bảng
lương hàng tháng của đơn vị để chuyển tiền chiếm đoạt vào tài khoản của họ, sau
8
đó bị cáo rút ra sử dụng, song song đó bị cáo chiếm đoạt tiền bằng cách chuyển
thẳng vào tài khoản của bị cáo; Ngoài ra, bcáo còn mượn tài khoản của các cán
bộ công tác tại Tòa án huyện CT để chuyển tiền vào tài khoản của họ, rồi yêu cầu
họ rút ra đưa lại cho bị cáo sử dụng, với các hành vi trên, trong khoản thời gian từ
tháng 6-2013 đến tháng 3-2019 bị cáo đã chiếm đoạt số tiền tổng cộng là
1.971.853.636 đồng. Tại phiên tòa bị cáo xác định trong quá trình điều tra, truy tố
bị cáo đã được đối chiếu các chứng ttài chính, qua từng lần thay đổi về số
tiền chiếm đoạt do thiếu sót cần bổ sung bị cáo xác định số tiền chiếm
đoạt chính xác theo bản Cáo trạng 1.971.853.636 đồng, số tiền trên chiếm đoạt
từ nguồn 12 (tiền chi cho xét xử) và nguồn 13 (tiền chi cho hoạt động con người:
Lương, phụ cấp, bảo hiểm, tiền điện nước, làm thêm giờ...) của quan Tòa án
nhân dân huyện CT, tỉnh Tây Ninh. Đủ sở kết luận bị cáo Nguyễn Hoàng S
phạm tội “Tham ô tài sản” tội phạm hình phạt quy định tại Điều 353 của Bộ
luật Hình sự.
[3] Hành vi của bị cáo nguy hiểm cho hội, trực tiếp xâm phạm đến
nguồn tiền hoạt động của Tòa án nhân dân huyện CT được ngân sách Nhà nước
phân bổ hàng năm, ảnh hưởng đến uy n, hoạt động đúng đắn và lợi ích chính
đáng của đơn vị. Cần xử nghiêm bị cáo để bảo đảm tính răn đe, giáo dục và
phòng ngừa tội phạm.
[4] Vụ án mang tính chất đặc biệt nghiêm trọng, hành vi của bị cáo gây
nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội, bị cáo nhận thức hành vi lập chứng từ khống
hoặc giả mạo chcủa Thủ trưởng đơn vị để rút tiền chiếm đoạt hoàn toàn
sai trái nhưng vẫn cố ý thực hiện mục đích, động lợi, bất chấp hậu quả.
Qua nhiều lần làm việc từ công an huyện CT, đến quan điều tra Công an tỉnh
Tây Ninh và Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh về số tiền cụ thể bị cáo chiếm
đoạt khác nhau do chưa thống nhất móc thời gian tính mức lương bản,
công tác phí của cán bộ công chức nên sự chênh lệch ... Bị cáo thống nhất các
tài liệu thống kê số tiền chiếm đoạt từ 6-2013 đến 3-2019 của Viện kiểm sát nhân
dân tỉnh Tây Ninh đã làm việc trực tiếp với bị cáo schứng kiến của Luật
bào chữa cho bị o. Tại phiên tòa sau khi xét hỏi, tranh luận bị cáo xác định đã
chiếm đoạt số tiền 1.971.853.636 đồng, xét số tiền chiếm đoạt bị truy tn
cứ.
Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh truy tbị
cáo về tội “Tham ô tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 353 của Bộ luật Hình sự
với tình tiết định khung là chiếm đoạt tài sản trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên
là có căn cứ.
[5] Xem xét toàn diện vụ án, thấy rằng: Việc bị cáo chuyển tiền vào tài
khoản của Thi Thị Hồng Đ và Nguyễn Thị Kiều M quan điều tra xác định
những người này không biết việc bị cáo ợn thẻ ATM để s dụng vào việc
phạm tội. Nên không xử lý hình sự là có căn cứ.
[5.1] Đối với việc chuyển tiền vào tài khoản của Lâm Thúy L và
Phạm Thị Kim N1, theo hồ sơ thể hiện và tại phiên tòa bị cáo xác định: Thời điểm
chuyển tiền vào tài khoản của L và N1 bị cáo nói trước thẻ ATM của
9
bị cáo bị hỏng chứng minh nhân dân bị mất nên chưa làm được, do tin
tưởng đồng nghiệp nên L N1 đã đồng ý cho bị cáo chuyển tiền vào tài
khoản từ 1.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng trong thời gian dài, bà L cho
chuyển 17 lần với tổng số tiền 48.246.000 đồng, N1 cho chuyển 33 lần với
tổng số tiền 78.198.000 đồng, dấu hiệu vi phạm, tuy nhiên do đồng nghiệp
với nhau, hai bà tin tưởng bị cáo S không hưởng tiền tcác khoản tiền bị
cáo S chiếm đoạt chuyển vào tài khoản của các đơn vị đã tiến hành kiểm
điểm, xử về mặt chính quyền. Hiện tại bị cáo S đã nộp khắc phục hơn 3/4 số
tiền chiếm đoạt. Nên quan điều tra, Viện kiểm sát không xử hình sự đối với
hai bà là có căn cứ.
- Đối với ông Thiên Di tin lời bị cáo nói thẻ ATM của bị cáo bị
hỏng chưa đi làm được nên đã đồng ý cho chuyển 05 lần với số tiền 10.303.000
đồng, ông D không sdụng tiền trên. Cơ quan điều tra không xử nh sự
có căn cứ.
[5.2] Đối với ông Nguyễn Duy L1 - Nguyên là Chánh án Tòa án CT và ông
Đỗ Thanh B Nguyên là Phó Chánh án Tòa án CT là chủ tài khoản, trong quá
trình quản lý, điều hành hoạt động tài chính của đơn vị đã để xảy ra tội phạm làm
thất thoát tiền. quan điều tra đã khởi tố vụ án hình stheo Quyết định số
28/QĐ-VPCQCSĐT ngày 10-11-2020 đang làm rõ.
[5.3] Đối với ông Trần Tuấn V Nguyên Chánh án Tòa án huyện CT từ
02-2016 đến thời điểm phát hiện tội phạm (2019): Ông V người phát hiện tội
phạm và báo cáo cấp trên cũng như tin báo tội phạm cho cơ quan cảnh sát điều tra
xử lý. Đã bị xử lý trách nhiệm về chính quyền. Cơ quan điều tra không xử lý hình
sự là có căn cứ.
[5.4] Đối với Ngô Thị Kim Qvà Trịnh Ngọc Âhiện không rõ địa chỉ, không
làm việc được, không có cơ sở để cơ quan điều tra xử lý sau.
[6] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết tăng
nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, cụ thể:
[6.1] Về tình tiết tăng nặng:
Bị cáo thực hiện tội phạm trong thời gian dài, từng lần chiếm đoạt đều đủ
trên 2.000.000 đng trở n, theo Công n s64/TANDTC-PC ngày 03-4-2019
của Tòa án nhân dân Tối cao, sở áp dụng tình tiết phạm tội hai lần trở lên”
tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52
của Bộ luật Hình sự. Các luật bào chữa cho rằng không áp dụng tình tiết tăng
nặng này là không có căn cứ.
[6.2] Về tình tiết giảm nhẹ:
Bị cáo S thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã chủ động nộp lại số tiền
1.591.100.000 đồng trên ¾ tài sản chiếm đoạt các tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Q
trình công tác bị cáo được công nhận danh hiệu lao động tiên tiến tình tiết giảm
nhẹ thuộc khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, với tình tiết này Luật đề nghị
10
áp dụng điểm v khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự “có thành tích xuất sắc trong
công tác” cho bị cáo là không có căn cứ;
Bị cáo cha tên Nguyễn Văn N công tác tại Công ty khí Tây Ninh
được tặng nhiều giấy khen, trong đó đặc biệt có giấy khen đã có 1 công trình sáng
tạo kỹ thuật, góp phần phát triển kinh tế xã hội tỉnh nhà, mẹ bị cáo là bà Phạm Thị
Ngọc D công tác tại Bệnh viện Đa khoa Tây Ninh được tặng Kniệm chương
sức khỏe nhân dân nhiều giấy khen thành tích xuất sắc trong nhiệm vụ.
Ngoài ra, bị cáo có Bác ruột và các cô ruột tham gia cách mạng được tặng thưởng
nhiều Huân chương; Huy hiệu sự nghiệp Quốc tế Huy hiệu 30 năm tuổi
đảng; ông nội bị cáo tham gia cách mạng được Tổ quốc ghi công Liệt ... xét
thấy, bcáo thuộc gia đình công lớn với cách mạng các tình tiết giảm nhẹ
được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo nhiều tình tiết
giảm nhẹ, căn cứ áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự, áp dụng mức
án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt có căn cứ áp dụng khoản 7 Điều 2
Nghị quyết 03 ngày 30-12-2020 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC.
[7] Vbồi thường thiệt hại: Đại diện Tòa án nhân dân huyện CT yêu cầu bị
cáo bồi thường số tiền đã chiếm đoạt. Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự. Buộc
bị cáo bồi thường số tiền 1.971.853.636 đồng. Ghi nhận đã nộp 1.591.100.000
đồng (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05-01-2021 tại Cục Thi hành án
Dân sự tỉnh Tây Ninh số tiền là 791.100.000 đồng và theo biên lai thu số 0000205
ngày 14-10-2020 của Cục thi hành án Dân sự tỉnh Tây Ninh số tiền
800.000.000 đồng)
[8] Về xử vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự Điều 106
Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu nộp vào Ngân sách Nhà nước 01 (một) máy tính xách tay nhãn
hiệu DELL INSPIRON 3420 màu đen của bị cáo S dùng vào việc phạm tội.
- Hoàn trả cho ông N 01 máy nh xách tay, bị cáo S mượn sử dụng ông N
không biết bị cáo dùng vào việc phạm tội.
[9] Về án phí: Bị o phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn) tiền án phí
hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm 19.037.500 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1/ Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng S phạm tội “Tham ô tài sản”.
Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm
g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng S 15 (mƣời lăm) năm . Thời hạn chấp
hành hình phạt tù tính từ ngày 24-8-2019.
11
Căn cứ khoản 5 Điều 353; Điều 41 của Bộ luật Hình sự: Cấm bị cáo đảm
nhiệm công việc tài chính kế toán 02 (hai) năm kể từ ngày chấp hành xong hình
phạt.
2/. Về bồi thường thiệt hại: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự.
Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng S phải bồi thường cho Tòa án nhân dân huyện
CT, tỉnh Tây Ninh số tiền 1.971.853.636 đồng. Ghi nhận đã bồi thường
1.591.100.000 đồng ( theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05-01-2021 tại Cục
Thi hành án Dân sự tỉnh Tây Ninh số tiền 791.100.000 đồng theo biên lai
thu số 0000205 ngày 14-10-2020 của Cục thi hành án Dân sự tỉnh Tây Ninh số
tiền 800.000.000 đồng) còn phải bồi thường 380.753.636 đồng, làm tròn
380.753.500 đồng (ba trăm tám mươi triệu, bảy trăm năm mươi ba ngàn, năm
trăm đồng)
3/ Xvật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật nh sự; Điều 106 của Bộ
luật Tố tụng hình sự;
+ Tịch thu nộp vào Ngân sách Nhà nước 01 (một) máy tính xách tay nhãn
hiệu DELL INSPIRON 3420 màu đen của bị cáo S dùng vào việc phạm tội.
+ Hoàn trả cho ông Nguyễn Văn N 01 (một) máy tính xách tay nhãn hiệu
DELL màu đen.
(Hai máy tính xách tay trên hiện Cục thi hành án Dân sự tỉnh Tây Ninh quản
lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16-12-2020)
4/ Án phí: B cáo S phi chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn) tiền án phí
Hình sự sơ thẩm 19.037.500 đồng (mười chín triệu, không trăm ba mươi by
ngàn, năm trăm đồng) tiền án phí Dân sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, báo cho bị cáo và những người tham
gia tố tụng biết được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố
Hồ Chí Minh. Riêng người vắng mặt được kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ
ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại chính quyền địa phương
nơi cư trú./.
Nơi nhận:
- Vụ giám đốc kiểm tra ( Vụ 1)
-TANDCấp Cao;
-VKSNDCấp Cao;
-VKSND tỉnh Tây Ninh;
-Phòng PV 06 CA Tây Ninh;
-Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh;
-THADS tỉnh Tây Ninh;
-Trại tạm giam;
-Công an cấp xã nơi bị cáo cư trú;
-Bị cáo;
-Những người tham gia tố tụng khác;
-Lưu hồ sơ;
-Lưu tập án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Phạm Thị Thanh Giang
12
Tải về
Bản án 31/2021/HS-ST Tây Ninh Bản án 31/2021/HS-ST Tây Ninh

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án 31/2021/HS-ST Tây Ninh Bản án 31/2021/HS-ST Tây Ninh

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất