Bản án số 29/2026/DS-PT ngày 14/01/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 29/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 29/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 29/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 29/2026/DS-PT ngày 14/01/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TP. Cần Thơ |
| Số hiệu: | 29/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 14/01/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | BAPT Lương Văn T - lê Thị M |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Bản án số: 29/2026/DS-PT
Ngày: 14/01/2026
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Tuyết Mai.
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Trang Thư
Bà Trần Thị Thanh Giang
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân
thành phố Cần thơ
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên
tòa: Ông Nguyễn Xuân Lộc - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 01 năm 2026 tại Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử
phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 451/2025/TLPT-DS ngày 17 tháng 11 năm
2025 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Do bản án dân sự sơ thẩm số
12/2025/DS-ST ngày 13 tháng 8 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 12 –
Cần Thơ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 865/2025/QĐ-PT ngày
01 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Lương Văn T, sinh năm 1950.
Địa chỉ: Ấp B, phường L, thành phố Cần Thơ.
2. Bị đơn: Bà Lê Thị M, sinh năm 1951.
Địa chỉ: Ấp B, phường L, thành phố Cần Thơ.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1 Ngân hàng N1;
Địa chỉ: số B L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V, Chức vụ: Tổng giám
đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thanh H – Chức vụ: Giám đốc
Ngân hàng N1 chi nhánh V1, Hậu Giang.
Địa chỉ: Số A, N, xã V, thành phố Cần Thơ.
2
3.2 Ông Lương Trọng T1, sinh năm: 1985.
Địa chỉ: Ấp B, phường L, thành phố Cần Thơ.
3.3 Ông Trần Văn D, sinh năm: 1978,
Địa chỉ: Ấp B, phường L, thành phố Cần Thơ.
3.4 Ông Nguyễn Thị N, sinh năm: 1956;
Địa chỉ: Ấp B, phường L, thành phố Cần Thơ.
3.5 Ông Lương Bá T2, sinh năm: 1975.
Địa chỉ: Ấp H, xã H, thành phố Cần Thơ.
3.6 Ông Lương Văn T3, sinh năm: 1976.
Địa chỉ: Ấp H, xã H, thành phố Cần Thơ.
3.7 Ông Lương Trọng T4, sinh năm: 1980.
Địa chỉ: Ấp H, xã H, thành phố Cần Thơ.
3.8 Ông Lương Thành T5, sinh năm: 1982.
Địa chỉ: Ấp H, xã H, thành phố Cần Thơ.
3.9 Bà Lương Thị Hồng T6, sinh năm: 1983.
Địa chỉ: Ấp B, phường L, thành phố Cần Thơ.
3.10 Bà Lương Thị Hồng T7, sinh năm: 1987.
Địa chỉ: Ấp B, phường L, thành phố Cần Thơ.
- Người kháng cáo: Bà Lê Thị M là bị đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng tại Tòa án nguyên đơn ông
Lương Văn T trình bày: Nguồn gốc phần đất 1.500m
2
là của ông Lương Văn C
cho ông vào năm 1984; cụ thể năm 1984 cha ông cầm cố phần đất nói trên cho
ông T8 và ông bỏ ra 10 chỉ vàng chuộc đất nên cha ông cho ông phần đất này và
canh tác từ năm 1984 đến 1994 do điều kiện kinh tế khó khăn ông phải đi làm
thuê, việc tặng cho đất không có giấy tờ, loại đất trồng lúa, ông sử dụng đất từ
năm 1984 đến năm 1994. Do ông làm đất không có hiệu quả nên năm 1994 ông
đưa đất cho ông T9 canh tác (ông cho ông Tổng mượn đất) và đong lúa nuôi cha
mẹ với lý do ông ra thị trấn L làm công việc khác không canh tác đất. Đến năm
1996 ông được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến ngày
21/6/2021 ông được cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
CH03687, ngày 21/6/2021 tại thửa đất số 1177, diện tích 1.500m
2
, đất chuyên
trồng lúa nước. Năm 2021 ông T9 chết, ông có yêu cầu vợ ông T9 là bà Lê Thị
M trả lại phần đất trên nhưng bà M không đồng ý nên phát sinh tranh chấp. Nay
ông yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Lê Thị M trả lại phần đất diện tích
1.500m
2
, tại thửa 1177, loại đất LUC.
3
- Bị đơn bà Lê Thị M trình bày: Nguồn gốc phần đất tranh chấp của cha
chồng của bà là ông Lương Văn C cho ông Lương Văn T9 vào năm 1981, cho
05 công đất ruộng tầm 3m. Ông T9 quản lý sử dụng từ năm 1981 đến năm 2021
không ai tranh chấp. Phần đất trên chồng bà là ông Lương Văn T9 đứng tên trên
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, do phần đất bà canh tác nhiều thửa nên bà
không biết phần đất tranh chấp nằm tại thửa nào. Việc ông Lương Văn T cho
rằng ông T canh tác phần đất tranh chấp từ năm 1984 đến năm 1994 là không
đúng. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lương Văn T theo
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH03687 ngày 21/6/2021 không đúng
trình tự theo quy định pháp luật. Khi cấp giấy những người giáp ranh không có
ký tên. Do đó, ông Lương Văn T yêu cầu bà trả lại đất diện tích 1.500m
2
thì bà
không đồng ý. Bà đã canh tác đất từ năm 1981 đến nay nên bà có yêu cầu phản
tố yêu cầu Tòa án công nhận phần đất tranh chấp có diện tích 1.500m
2
, tại thửa
1177 theo đo đạc thực tế cho bà quản lý, sử dụng. Phần đất tranh chấp hiện nay
bà đã cố cho ông Trần Văn D, địa chỉ ấp B, phường L, thành phố Cần Thơ với
số tiền 250.000.000 đồng (cố 05 công đất ruộng trong đó có phần đất tranh chấp,
cố thời gian nào bà không nhớ rõ). Khi nào bà có tiền trả cho ông D thì ông D
cho bà chuộc lại đất. Bà và ông T9 có 07 người con gồm: Lương Bá T2, Lương
Văn T3, Lương Trọng T4, Lương Thành T5, Lương Thị Hồng T6, Lương Trọng
T1, Lương Thị Hồng T7.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị N trình bày: Bà
kết hôn với ông Lương Văn T vào năm 1976 đến năm 1984 ông Lương Văn C
có cho ông Lương Văn T phần đất diện tích 1.500m
2
, ông T canh tác đất từ năm
1984 đến năm 1994 cho ông Lương Văn T9 mượn đất canh tác để nuôi cha mẹ.
Bà thống nhất với ý kiến của ông Lương Văn T, mọi quyết định của ông T, bà
đều thống nhất.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lương Trọng T1 trình bày:
Ông là con của bà Lê Thị M và ông Lương Văn T9. Ông thống nhất với ý kiến
của bà M, mọi quyết định của bà M, ông đều thống nhất. Ông không có yêu cầu
gì trong vụ án này. Tại phiên tòa ông Lương trọng T1 cũng đồng ý theo ý kiến
bà M trả giá trị phần đất tranh chấp cho ông Lương Văn T là 50.000.000 đồng.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lương Bá T2 trình bày: Ông
là con của bà Lê Thị M và ông Lương Văn T9. Ông thống nhất với ý kiến của bà
M, mọi quyết định của bà M ông đều thống nhất. Ông không có yêu cầu gì trong
vụ án này. Tại phiên tòa ông Lương Bá T2 cũng đồng ý theo ý kiến của bà M trả
giá trị phần đất tranh chấp cho ông Lương Văn T là 50.000.000 đồng.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn D trình bày: Ông có
cố của bà Lê Thị M tổng cộng 5 công tầm lớn đất ruộng giá 250.000.000 đồng.
Trong đó có 1.500m
2
đất tranh chấp. Thời hạn cố 5 năm từ 2022 đến 2027, nếu
bà Lê Thị M không chuộc thì ông tiếp tục sử dụng đất. Ông yêu cầu tách hợp
đồng cố đất giữa bà M và ông ra vì hiện tại ông chưa có yêu cầu gì trong vụ án
này.
4
Nguyên đơn ông Lương Văn T trình bày bổ sung: Ông không thống nhất
theo yêu cầu phản tố của bà Lê Thị M và ông không có yêu cầu gì.
Vụ việc được hòa giải nhưng không thành nên Tòa án nhân dân khu vực 12
– Cần Thơ đưa vụ án ra xét xử, tại bản án sơ thẩm số: 12/2025/DS-ST ngày 13
tháng 8 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 12 – Cần Thơ đã tuyên như sau:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lương Văn T.
2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn Lê Thị M.
3. Buộc bà Lê Thị M có trách nhiệm trả lại giá trị phần đất tranh chấp cho
ông Lương Văn T số tiền 100.000.000 (một trăm triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả
các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của
số tiền còn phải thi hành án. Lãi suất chậm trả tiền được xác định theo thỏa
thuận của các bên, nhưng không được vượt quá mức lãi suất theo quy định tại
khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, nếu không thỏa thuận được thì
thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
4. Bà Lê Thị M được tiếp tục ổn định, sử dụng phần đất có diện tích
1.500m
2
loại đất LUC, thửa 1177 thuộc tờ bản đồ số 3, theo hệ thống bản đồ
chính quy thuộc thửa 282 tờ bản đồ số 20, địa chỉ thửa đất Ấp B, xã L, thị xã L,
tỉnh Hậu Giang (nay là Ấp B, phường L, thành phố Cần Thơ). Phần đất tranh
chấp theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án nhân dân thị xã Long
Mỹ (nay là Tòa án nhân dân khu vực 12 – Cần Thơ) và Mảnh trích đo địa chính
số 82/Công ty TNHHDVTV và ĐĐBĐ Đất Việt ngày 04/9/2024 của Công ty
TNHH D1 và duyệt của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã L ngày
30/9/2024 (có mảnh trích đo địa chính kèm theo).
5. Bà Lê Thị M có quyền liên hệ cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục
điều chỉnh và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Kiến ghị các cơ quan
chức năng thu hồi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CT 144688 vào sổ cấp
GCN: CH03687 ngày 21/6/2021 mang tên ông Lương Văn T cấp lại cho bà Lê
Thị M.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí thẩm định và quyền kháng
cáo của đương sự theo quy định của pháp luật.
Không đồng ý với bản án sơ thẩm, bị đơn bà Lê Thị M có đơn kháng cáo
đối với bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị đơn bà Lê Thị M vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- Nguyên đơn và bà N yêu cầu giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Người có quyền và nghĩa vụ liên quan ông T1 và bà T7 yêu cầu chấp
nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn.
- Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ:
5
Về thực hiện pháp luật: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử
đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý đến
khi xét xử theo trình tự phúc thẩm. Các đương sự trong vụ án đã chấp hành đúng
các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự đối với người tham gia tố tụng. Đơn và
thời hạn nộp tạm ứng kháng cáo của bị đơn bà Lê Thị M trong hạn luật định nên
được xem là hợp lệ về mặt hình thức.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ cũng
như lời khai tại phiên tòa của các đương sự cho thấy cấp sơ thẩm đã xem xét đầy
đủ toàn diện ý kiến cũng như chứng cứ các bên cung cấp và trình bày. Bị đơn bà
Lê Thị M kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho yêu
cầu kháng cáo của mình. Do đó, Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều
308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của
bị đơn bà Lê Thị M, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ đã được thẩm tra tại tòa phúc thẩm; Căn cứ vào
kết quả tranh luận trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện ý kiến của Kiểm sát viên;
những người tham gia tố tụng khác
[1] Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại
quyền sử dụng đất có diện tích 1.500m
2
nhưng phía bị đơn có đơn phản tố yêu
cầu công nhận phần đất đang tranh chấp cho bị đơn nên cấp sơ thẩm xác định
quan hệ pháp luật: “Tranh chấp quyền sử dụng đất” là phù hợp.
[2] Sau khi xét xử sơ thẩm, nguyên đơn có đơn kháng cáo trong thời hạn
luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[3] Về thủ tục tố tụng: Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là
Ngân hàng N1, Trần Văn D, Lương Bá T2, Lương Văn T3, Lương Trọng T4,
Lương Thành T5, Lương Thị Hồng T6 đã triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nên
Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử
vắng mặt đối với các đương sự nêu trên.
[4] Về nội dung: Các đương sự thống nhất xác định phần đất đang tranh
chấp có diện tích 1.500m
2
loại đất LUC, thửa 1177 thuộc tờ bản đồ số 3, theo hệ
thống bản đồ chính quy thuộc thửa 282 tờ bản đồ số 20, địa chỉ thửa đất Ấp B,
xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang (nay là Ấp B, phường L, thành phố Cần Thơ)
theo Mảnh trích đo địa chính số 82/Công ty TNHHDVTV và ĐĐBĐ Đất Việt
ngày 04/9/2024 của Công ty TNHH D1 và duyệt của Chi nhánh Văn phòng đăng
ký đất đai thị xã L ngày 30/9/2024. Nguồn gốc thửa đất đang tranh chấp là của
ông Lương Văn C có trước năm 1975 (ông C là cha ông Lương Văn T và ông
Lương Văn T9), ông Lương Văn T cho rằng phần đất là cha ông cho ông vào
năm 1984 do cha ông đem phần đất này đi cố cho ông T8 và ông là người bỏ ra
10 chỉ vàng ra chuộc đất về canh tác từ năm 1984 đến năm 1994 và đến năm
1996 thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Còn bà Lê Thi M1 là vợ
của ông Lương Văn T9 cho rằng phần đất trên là của cha chồng là ông Lương
6
Văn C cho vợ chồng bà từ năm 1981 và canh tác đất liên tục từ đó đến nay, bà
hoàn toàn không mượn đất ông T, việc ông T được cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng bà hoàn toàn không biết nay bà yêu cầu công nhận phần đất nói trên
thuộc quyền sử dụng của bà. Do các bên đương sự có tranh chấp nên Tòa án
nhân dân khu vực 12 – Cần Thơ đã thụ lý giải quyết, không đồng ý với bản án
sơ thẩm nên bị đơn có đơn kháng cáo.
[5] Bị đơn kháng cáo cho rằng phần đất này bị đơn cùng chồng đã sử dụng
ổn định từ năm 1981 cho đến nay không phát sinh tranh chấp với ai. Ông Lương
Văn T khởi kiện là không hợp lý nên bị đơn kháng cáo, yêu cầu Tòa án cấp phúc
thẩm sửa án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn. Xét yêu cầu kháng
cáo của bị đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Thứ nhất: Bị đơn kháng cáo cho rằng phần đất đang tranh chấp có diện tích
1.500m
2
loại đất LUC đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông
Lương Văn T9 (ông T9 là chồng của bị đơn, ông T9 chết năm 2021). Từ khi
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đến nay thì cơ quan nhà nước
có thẩm quyền chưa ra bất kỳ Quyết định thu hồi phần đất đã cấp cho ông T9.
Trong khi đó, nguyên đơn lại kê khai và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất đối với thửa đất đang tranh chấp. Xét thấy, tại phiên tòa phúc thẩm, bị
đơn cho rằng sau khi ông C cho ông T9 5 công đất thì ông T9 đã thực hiện thủ
tục kê khai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000175 cấp ngày
22/8/1995 kể cả phần đất đang tranh chấp. Tuy nhiên, qua xem xét thẩm định tại
chỗ đối với phần đất các bên đang tranh chấp, có cơ sở xác định đó là thửa đất
1177, có diện tích 1.500m
2
loại đất LUC, thuộc tờ bản đồ số 3, theo hệ thống
bản đồ chính quy thuộc thửa 282 tờ bản đồ số 20 tọa lạc tại ấp B, xã L, thị xã L,
tỉnh Hậu Giang (nay là Ấp B, phường L, thành phố Cần Thơ) theo Mảnh trích
đo địa chính số 82/Công ty TNHHDVTV và ĐĐBĐ Đất Việt ngày 04/9/2024
của Công ty TNHH D1 và duyệt của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị
xã L ngày 30/9/2024. Thửa đất 1177 này, do nguyên đơn kê khai và đến năm
1996 nguyên đơn được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đến
ngày 21/6/2021 nguyên đơn được cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
số CH03687. Đối chiếu với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông
Lương Văn T9 cho thấy ông T9 không được cấp quyền sử dụng đất đối với thửa
1177 đang tranh chấp nhưng phía nguyên đơn được cấp quyền sử dụng đất đối
với thửa đất này. Vì vậy, việc bà M1 cho rằng quyền sử dụng đất tại thửa 1177
thuộc quyền sử dụng của bị đơn là không có cơ sở.
Thứ hai: Bị đơn kháng cáo cho rằng việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cho ông Lương Văn T theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
CH03687 ngày 21/6/2021 không đúng trình tự theo quy định pháp luật. Khi cấp
đất những người giáp ranh không có ký tên. Nhận thấy, thửa đất 1177, có diện
tích 1.500m
2
loại đất LUC, thuộc tờ bản đồ số 3, theo hệ thống bản đồ chính quy
thuộc thửa 282 tờ bản đồ số 20 tọa lạc tại ấp B, xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang
(nay là Ấp B, phường L, thành phố Cần Thơ) theo bản đồ chính quy nằm giáp
ranh với thửa đất 116 (thửa cũ 1178) thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
7
số 000175 cấp ngày 22/8/1995 mang tên ông Lương Văn T9. Quá trình giải
quyết vụ án, cấp sơ thẩm đã có văn bản hỏi Ủy ban nhân dân về việc cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lương Văn T có đúng hay không? Tại
Công văn số 1285/UBND-NNMT ngày 08/4/2025 của UBND thị xã L (cũ)
khẳng định việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng số CH03687 do UBND
huyện L cấp ngày 21/6/2021 công nhận cho ông Lương Văn T là đúng trình tự
thủ tục. Như vậy, có cơ sở xác định phần đất đang tranh chấp thuộc quyền sử
dụng đất của nguyên đơn. Cấp sơ thẩm đã công nhận cho bị đơn được tiếp tục sử
dụng diện tích 1.500m
2
loại đất LUC, thửa 1177 thuộc tờ bản đồ số 3 tọa lạc tại
ấp B, phường L, thành phố Cần Thơ và buộc bị đơn trả giá trị quyền sử dụng đất
cho nguyên đơn là phù hợp.
Từ những phân tích trên nhận thấy bị đơn bà Lê Thị M kháng cáo nhưng
không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình
nên không có cơ sở xem xét.
[6] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về việc giữ nguyên bản án sơ
thẩm là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà M
không được chấp nhận nên bà M phải chịu án phí phúc thẩm. Tuy nhiên, bà M là
người cao tuổi nên được miễn án phí theo Điều 12 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc
Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ
phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ:
- Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của
Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý
và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
* Tuyên xử: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Lê Thị M.
1. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 12/2025/DS-ST ngày 13 tháng 8
năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 12 – Cần Thơ.
2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn án phí cho bị đơn bà Lê Thị M.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi
hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật
thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều
30 Luật thi hành án dân sự.
8
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND thành phố Cần Thơ;
- THADS thành phố Cần Thơ;
- TAND khu vực 12 – Cần Thơ;
- Phòng THADS khu vực 12 – Cần Thơ;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phan Thị Tuyết Mai
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
CÁC THẨM PHÁN
THẨM PHÁN
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
9
Nguyễn Thị Trang Thư Trần Thị Thanh Giang
Phan Thị Tuyết Mai
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 26/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 21/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 21/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 19/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 16/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 15/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 14/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 13/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 12/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 09/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 07/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 07/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 07/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 06/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 05/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm