Bản án số 29/2021/HNGĐ-ST ngày 19/02/2021 của TAND tỉnh Hải Dương về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 29/2021/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 29/2021/HNGĐ-ST ngày 19/02/2021 của TAND tỉnh Hải Dương về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Hải Dương
Số hiệu: 29/2021/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 19/02/2021
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chị nguyễn thị T có đơn đề nghị giải quyết ly hôn anh Nguyễn Văn Kh
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HẢI DƯƠNG
_____________
Bản án số: 29/2021/HN-ST
Ngày: 19/02/2021
V/v ly hôn, tranh chp v
ni con khi ly hôn
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
__________________________________
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tân.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Thanh;
Bà Phạm Thị Nhung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Th Huyn - Thư ký Tòa án nhân dân tnh Hi Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa:
Đàm Thị Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 02 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương
xét xử thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ số 239/2020/TLST-
HNGĐ ngày 01 tháng 12 năm 2020, về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
khi ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2021/QĐXXST-HNGĐ
ngày 05 tháng 01 năm 2021; Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2021/QĐST-
HNGĐ ngày 21 tháng 01 năm 2021, giữa:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1990.
ĐKHKTT: Tn Tin, thị trấn L, huyện C, tỉnh Hải Dương.
Ch hin nay: Khu 19 - H, thị trấn L, huyện C, tỉnh Hải Dương. Vắng
mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Kh, sinh năm 1990.
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn T, thị trấn L, huyện C, tỉnh Hải Dương.
Hiện đang sinh sống tại: Đài Loan (Trung Quốc). Vắng mặt đề nghị giải
quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án,
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn Kh kết hôn
trên sở tự nguyện, đăng kết hôn tại Uỷ ban nhân dân thị trấn L, huyện
C, tỉnh Hải Dương ngày 17/6/2011. Vchồng chung sống hạnh phúc một thời
gian thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm
sống, mặc được gia đình hai bên khuyên giải nhưng mâu thuẫn vợ chồng
2
không được cải thiện. Năm 2013 anh Kh đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan
(Trung Quốc), thời gian đầu anh còn liên lạc với chị nhưng không gửi tiền về đ
chị nuôi con, sau đó anh không còn liên lạc với chị nữa. Năm 2018, mcon chị
chuyển về nhà bố mẹ đẻ ở, vợ chồng sống ly thân từ lâu, không ai quan m đến
ai. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đnghị Tòa án giải quyết ly
hôn đối với anh Nguyễn Văn Kh.
- Về con chung: Vợ chồng 01 con chung Nguyễn Gia L, sinh ngày
23/7/2012, hiện con đang ở với chị. Khi ly hôn chị đề nghị Tòa án giải quyết cho
chị được nuôi dưỡng con chung cho đến khi thành niên chị tự nguyện không
yêu cầu anh Kh phải cấp dưỡng cho con.
Về tài sản, nợ chung: Không có nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai của bà Nguyễn Thị K mẹ đcủa anh Kh xác
định: Anh Kh hiện đang lao động tại Đài Loan (Trung Quốc), không biết địa
chỉ cụ thể nên không cung cấp được cho Tòa án. Tuy nhiên anh Kh vẫn liên lạc
về gia đình qua điện thoại. đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và đã
thông báo cho anh Kh biết việc chị T đề nghị giải quyết ly hôn với anh Kh. Anh
Kh quan điểm đồng ý ly hôn, nhất trí để chị Tuyết nuôi con chung, vợ chồng
không có tài sản chung và đề nghị được giải quyết vắng mặt.
Tòa án xác minh tại khu dân chính quyền địa phương nơi chị Tuyết
anh Kh sinh sống thể hiện: Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống tại Đ, C, vợ
chồng chung sống với nhau được thời gian ngắn thì anh Khoái đi xuất khẩu lao
động tại Đài Loan (Trung Quốc), từ khi đi anh chỉ về phép 1 đến 2 lần, vợ chồng
sống xa nhau chủ yếu nên không sự chia sẻ, vun đắp hạnh phúc, chị T đã
bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở thị trấn L, huyện C sinh sống từ lâu. Nay chị T đơn xin
ly n, địa phương đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, đảm
bảo quyền lợi chính đáng của người phụ nữ.
Con chung của chị T, anh Kh Nguyễn Gia L nguyện vọng với chị
Tuyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm:
Thẩm phán, Tký, Hội đồng xét xử nguyên đơn đã chấp hành đúng quy
định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chấp hành chưa đúng quy định của Bộ
luật tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng
Điều 56; 81; 82 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí
lệ phí Tòa án. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn
anh Nguyễn Văn Kh. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Gia L, sinh ngày
23/7/2012 cho chị T chăm sóc, nuôi dưỡng, anh Kh không phải cấp dưỡng cho
con. Chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
3
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại
phiên toà và xem xét ý kiến của các đương sự, quan điểm đại diện Viện kiểm sát,
Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị T sinh sống Việt Nam, bị
đơn anh Nguyễn n Kh nơi trú cuối cùng trước khi xuất cảnh thôn
Tiền, thị trấn Lai C, huyện C, tỉnh Hải Dương, hiện anh Kh đang sinh sống
làm việc tại Đài Loan (Trung Quốc), không địa chỉ cụ thể. Do vậy, Tòa án
nhân dân tỉnh Hải Dương thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền. Trong quá trình
giải quyết vụ án, chị T không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh Kh nước
ngoài. Tòa án đã nhiều lần yêu cầu gia đình anh Kh cung cấp địa chỉ nhưng gia
đình không cung cấp được. Tòa án đã tiến hành niêm yết các n bản tố tụng
theo quy định của pháp luật. Mặt khác, bà Nguyễn Thị K vẫn thường xuyên liên
lạc với anh Kh n Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng để gia đình thông báo
cho anh Kh biết việc giải quyết vụ án ly hôn giữa chị T anh Kh. Tuy nhiên
anh Kh vắng mặt lần thứ hai đề nghị giải quyết vắng mặt, chị T có đơn đề
nghị xét xử vắng mặt. Do vậy, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều
228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các
đương sự theo quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T anh Nguyễn Văn Kh kết
hôn trên sở tự nguyện, đăng kết hôn tại Uỷ ban nhân dân thị trấn L,
huyện C, tỉnh Hải Dương ngày 17/6/2011, hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết
hôn anh chị chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn.
Nguyên nhân do vợ chồng không hòa hợp được với nhau trong cuộc sống.
Khi anh Kh đi xuất khẩu lao động, vợ chồng cũng không liên lạc, không s
quan tâm chia sẻ với nhau nên tình cảm vchồng không còn. Anh Kh cũng đã
thông tin qua gia đình xác định tình cảm vchồng không còn nên nhất trí ly
hôn. Thông qua gia đình anh Kh quan điểm của chính quyền địa phương cũng
xác định tình cảm vợ chồng giữa chị T, anh Kh không còn. HĐXX xét thấy mâu
thuẫn vợ chồng giữa chị Tuyết anh Khoái đã trầm trọng, thời gian sống ly
thân đã lâu không ai quan tâm tới ai, mục đích hôn nhân không đạt được. Do
vậy, chấp nhận yêu cầu khởi kiện, xử cho chị T ly hôn anh Kh phù hợp với
quy định tại Điều 51 và 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về quan hệ nuôi con: Chị Nguyễn Thị T anh Nguyễn Văn Kh
một con chung Nguyễn Gia L, sinh ngày 23/7/2012, hiện đang với chị T.
Xét thấy con chung Nguyễn Gia L vẫn còn nhỏ nguyện vọng được với
chị T. Mặt khác anh Kh đang nước ngoài, không mặt Việt Nam nên
không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con. HĐXX chấp nhận giao con chung
Nguyễn Gia L cho chị Tuyết trực tiếp nuôi dưỡng phù hợp với các Điều 81,
82 83 Luật Hôn nhân gia đình. Chấp nhận sự tự nguyện của chị T không
4
yêu cầu anh Kh phải cấp dưỡng cho con. Nếu có căn cứ cho rằng chị T không đủ
điều kiện trực tiếp chăm c, nuôi ỡng, giáo dục con chung thì anh Kh
quyền làm đơn khởi kiện tại Tòa án thẩm quyền giải quyết yêu cầu thay đổi
người trực tiếp nuôi con theo quy định của pháp luật.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Chị T, anh Kh không yêu cầu giải quyết
nên Hội đồng xét x không đặt ra xem xét, giải quyết. c đương sự yêu cầu
giải quyết về tài sản chung của vợ chồng sau khi ly hôn (nếu có) thì quyền
làm đơn đề nghị Tòa án có thẩm quyền giải quyết bằng vụ án khác.
[3]. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí dân sự thẩm (về
Hôn nhân gia đình) theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, điểm
a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì những lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 51; 56; 81; 82 Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình;
Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị T ly hôn anh Nguyễn
Văn Kh.
2. Về quan hệ nuôi con: Xử giao cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi
dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung Nguyễn Gia L, sinh ngày 23/7/2012
cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi). Chấp nhận sự tự nguyện của chị
Nguyễn Thị T không yêu cầu anh Nguyễn Văn Kh phải cấp dưỡng cho con.
Không ai được cản trở anh Nguyễn Văn Kh thực hiện quyền, nghĩa vụ
thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
3. Về án phí: ChNguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn
đồng) án pdân sự thẩm (về Hôn nhân gia đình) được đối trừ số tiền tạm
ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số
AA/2018/0004800 ngày 27 tháng 11 năm 2020 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh
Hải Dương.
4. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị T được quyền kháng cáo bản án
trong thời hạn 15 ngày ktừ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết
theo quy định của pháp luật.
Anh Nguyễn Văn Kh được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày
kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp
luật./.
5
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Hải Dương;
- Các đương sự;
- Cục THADS tỉnh Hải Dương;
- UBND thị trấn L, huyện C, tỉnh Hải
Dương;
- UBND C, huyện C, tỉnh Hải
Dương;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
(đã ký)
Nguyễn Minh Tân
Tải về
Bản án số 29/2021/HNGĐ-ST Bản án số 29/2021/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất