Bản án số 288/2025/DS-PT ngày 31/12/2025 của TAND TP. Đà Nẵng về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 288/2025/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 288/2025/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 288/2025/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 288/2025/DS-PT ngày 31/12/2025 của TAND TP. Đà Nẵng về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TP. Đà Nẵng |
| Số hiệu: | 288/2025/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 31/12/2025 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Hồ Thị T - Công ty B |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 288/2025/DS-PT
Ngày 30/12/2025
V/v “Tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Việt Dũng
Các Thẩm phán: Ông Trương Chí Trung
Bà Võ Thị Minh Phượng
Thư ký phiên tòa: Bà Lại Thị Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân thành
phố Đà Nẵng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng: Bà Đoàn Thị Cẩm -
Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 25 và ngày 30 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố
Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 144/2025/DSPT ngày
24 tháng 10 năm 2025 về việc: “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 172/2025/DS-ST ngày 10 tháng 9 năm 2025 của
Toà án nhân dân Khu vực 10 - Đà Nẵng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 349/2025/QĐ-PT ngày 17 tháng 11
năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 447/2025/QĐ-PT ngày 28 tháng 11 năm
2025 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Bà Hồ Thị T - Sinh năm 1992 - Địa chỉ: Tổ 20, phường H, thành
phố Đà Nẵng - Địa chỉ liên hệ: Số 105/19 đường 385, phường T thành phố Thủ Đức,
thành phố Hồ Chí Minh. (Ngày xét xử có mặt, ngày tuyên án xin vắng mặt).
* Bị đơn: Công ty Cổ phần B - Địa chỉ trụ sở: Lô A7 - 21.22 Khu đô thị S,
phường Đ, thành phố Đà Nẵng. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Công M -
Chủ tịch HĐQT và ông Diệp Bảo L - Tổng Giám đốc.
2
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Huỳnh Thị H - Địa chỉ liên hệ: số 102 đường
N, phường H, thành phố Đà Nẵng. (Theo Giấy ủy quyền số 39/2025/GUQ-BĐA ngày
01/11/2025 của Công ty cổ phần B). (Có mặt)
- Người kháng cáo: Công ty Cổ phần B, là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án như sau:
* Tại đơn khởi kiện ngày 20/8/2024 và các lời khai tiếp theo tại Tòa, nguyên
đơn bà Hồ Thị T và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Trần Trịnh
Khánh H trình bày:
Vào ngày 13 tháng 6 năm 2023, giữa bà Hồ Thị T và và Công ty B có ký kết
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Văn phòng công chứng N, số công
chứng 720, quyền số 01/2023 TP/CC-SCC/HĐGD. Theo thỏa thuận tại Hợp đồng,
bên chuyển nhượng Công ty B chuyển nhượng cho bên nhận bà Hồ Thị T thửa đất số
485 BLOCK B2-01 lô, tờ bản đồ số 5; Địa chỉ thửa đất: Khu dân cư A, phường Đ, thị
xã Đ, tỉnh Quảng Nam. Diện tích 213,6m
2
; hình thức sử dụng riêng; mục đích sử
dụng: đất ở tại đô thị; thời hạn sử dụng đến ngày 26/12/2067; nguồn gốc nhà nước
giao đất có thu tiền sử dụng đất, (ghi chú: Người mua nhà ở gắn liền với quyền sử
dụng đất hoặc nhận chuyển nhượng đất ở phân lô được sử dụng lâu dài), giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số DC 085902, số vào sổ cấp GCN: CT 21566 do Sở Tài
nguyên và môi trường tỉnh Quảng Nam cấp ngày 09/6/2022; giá chuyển nhượng
1.550.000.000 đồng; thời hạn thanh toán trong thời gian 60 ngày sau khi hai bên ký
kết hợp đồng và hợp đồng được công chứng chứng nhận. Thực hiện hợp đồng bà T đã
thanh toán cho Công ty B số tiền 1.395.000.000 đồng (tương đương với 90% giá trị
hợp đồng) số tiền còn lại 10% là 155.000.000 đồng bà Thảo sẽ thanh toán khi hoàn tất
thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Theo thỏa thuận tại Điều 4 Hợp đồng, trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày hai bên
ký hợp đồng được công chứng chứng nhận thì Công ty B có trách nhiệm thực hiện
đăng ký quyền sử dụng đất cho bà T tại cơ quan có thẩm quyền theo quy định của
pháp luật. Tuy nhiên, từ đó đến nay đã hơn 2 năm Công ty B vẫn chưa thực hiện nghĩa
vụ của mình theo cam kết.
Vì vậy, bà Hồ Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa giải quyết buộc Công ty B tiếp tục
thực hiện Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký kết giữa bà Hồ Thị T với
Công ty B ngày 13/6/2023, hợp đồng được công chứng tại Văn phòng công chứng N
số công chứng 720, quyền số 01/2023 TP/CC-SCC/HĐGD; Yêu cầu Công ty B giao
3
bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên; Yêu cầu buộc Công ty B xuất hóa
đơn giá trị gia tăng.
Đối với kết quả đo đạc, kết quả định giá tài sản nguyên đơn thống nhất và
không có ý kiến gì. Ngoài ra nguyên đơn không có trình bày gì thêm.
* Tại bản trình bày ý kiến ngày 22/5/2025 và tại phiên tòa đại diện bị đơn Công
ty B - ông Lê Nguyễn Hoàng Nhật H trình bày:
Vào ngày 13 tháng 6 năm 2023, giữa Công ty B và bà Hồ Thị T có ký kết Hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 720, quyển số 01/2023
TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng công chứng N. Theo đó Công ty B thực hiện
chuyển nhượng quyền sử dụng cho bà Hồ Thị T thửa đất số 485 Block B2-01, tờ bản
đồ số 5; Địa chỉ thửa đất: Khu dân cư A, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam. Diện
tích 213,6m
2
; hình thức sử dụng riêng; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DC
085902, số vào sổ cấp GCN: CT 21566 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Quảng
Nam cấp ngày 09/6/2022; giá chuyển nhượng 1.550.000.000 đồng. Căn cứ theo quy
định tại khoản 2 Điều 3 Hợp đồng chuyển nhượng bà Hồ Thị T có nghĩa vụ thanh toán
đủ tiền chuyển nhượng nêu trên cho Công ty B trong thời gian 60 ngày kể từ ngày hai
bên ký kết Hợp đồng và hợp đồng được công chứng chứng nhận. Như vậy, bà Hồ Thị
T có nghĩa vụ thanh toán đầy đủ số tiền 1.550.000.000 đồng cho Công ty B chậm nhất
vào ngày 13.8.2023. Tuy nhiên, đến nay bà T mới chỉ thanh toán cho chúng tôi số tiền
là 1.400.000.000 đồng chưa thanh toán số tiền 155.000.000 đồng.
Hành vi chậm thanh toán tiền của bà T đã vi phạm theo khoản 1 Điều 7 Hợp
đồng chuyển nhượng hai bên đã ký kết: "Nếu quá 10 (mười) ngày kể từ ngày đến hạn
phải thanh toán nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo thỏa thuận tại khoản 2
Điều 3 hợp đồng này mà Bên B không thực hiện thanh toán thì sẽ bị tính lãi suất phạt
quá hạn trên tổng số tiền chậm thanh toán là: 5% (năm phần trăm) theo lãi suất do
Ngân hàng nhà nước công bố tại thời điểm thanh toán và được tính bắt đầu từ ngày
thanh toán đến ngày thực trả;
- Trong quá trình thực hiện hợp đồng này, nếu tổng thời gian bên B trễ hạn
thanh toán của tất cả các đợt phải thanh toán theo thỏa thuận tại khoản 2 Điều 3 hợp
đồng này vượt quá 30 (ba mươi) ngày thì Bên A có quyền đơn phương chấm dứt hợp
đồng theo thỏa thuận tại điều 10 của hợp đồng này.";
Điều 9 Hợp đồng chuyển nhượng quy định: "1. Các trường hợp chẩm dứt hợp
đồng: ...] b) Bên B chậm thanh toán tiền nhận chuyển nhượng theo thỏa thuận tại
điểm a khoản 2.2. Điều 6 Hợp đồng này; L.. 2. Việc xử lý hậu quả do chấm dứt hợp
đồng theo quy định tại khoản 1 Điều này như: hoàn trả lại tiền nhận chuyển nhượng,
4
tính lãi, các khoản phạt và bồi thường do hai bên thoa thuận cụ thế theo quy định
pháp luật.".
Căn cứ theo quy định trên thì Công ty B có quyền đơn phương chấm dứt Hợp
đồng chuyển nhượng do bà Hồ Thị T vi phạm hợp đồng và thực hiện hoàn trả lại tiền
đã thanh toán cho bà Hồ Thị T.
Mặc dù vậy, Công ty B đã cố gắng thương thảo với bà Hồ Thị T ngoài Tòa án
để cùng thống nhất phương án giải quyết bằng hình thức bà T thanh toán số tiền còn
lại và một khoản tiền phạt vi phạm hợp đồng, bồi thường thiệt hại cho Công ty B để
hoàn tất việc chuyển nhượng nhưng hai bên không thể đạt được sự đồng thuận. Sồ tiền
này chỉ nhằm mục đích bù đắp một phần tiền thuế phải nộp của lô đất tạm tính là:
Thuế TNDN tạm tính: 173.787.947 đồng và tiền thuế GTGT tạm tính là: 106.951.099
đồng.
Đây là nỗ lực giải quyết của Công ty B trong bối cảnh Công ty đang gặp rất
nhiều khó khăn về tài chính do Ban lãnh đạo cũ của công ty đang bị Công an tỉnh
Quảng Nam điều tra về hành vi tham ô tài sản dẫn đến Công ty chỉ có các khoản nợ
mà không còn tài sản nào; đồng thời Ban lãnh đạo Công ty hiện nay cũng không được
bàn giao đầy đủ tài liệu liên quan đến Dự án A gây khó khăn trong suốt quá trình tiếp
nhận công ty từ tháng 8/2024 đến nay, dẫn đến Ban lãnh đạo mới phải tìm kiếm, thu
thập thông tin, nhờ cơ quan, tổ chức can thiệp mới có thông tin cụ thể liên quan đến
Hợp đồng chuyển nhượng ngày 13/06/2023 với bà Hồ Thị T.
Trường hợp, Công ty B và bà Hồ Thị T không thể thương thảo thực hiện các
nghĩa vụ còn lại theo quy định Hợp đồng, Công ty B kính đề nghị Tòa án tuyên chấm
dứt Hợp đồng chuyển nhượng ngày 13/06/2023 và Công ty B hoàn trả lại cho bà Hồ
Thị T toàn bộ số tiền bà Hồ Thị T đã chuyển cho Công ty B. Ngoài ra, đại diện bị đơn
không có trình bày gì thêm.
* Với nội dung vụ án như trên, tại bản án dân sự sơ thẩm số 172/2025/DS-ST
ngày 10 tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân Khu vực 10 - Đà Nẵng đã quyết
định:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm c Khoản 1 Điều
39, Điều 147, 157, 158, 165, 166, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 500, 501,
502, 503 Bộ luật Dân sự; Điều 26, 27, 45 Luật đất đai năm 2024; khoản 2 Điều 9,
Điều 37, 39, 40 Luật kinh doanh Bất động sản và Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị T đối với Công ty Cổ
phần B về việc: “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
5
Công nhận hiệu lực của Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Văn
phòng công chứng N, số công chứng 720, quyền số 01/2023 TP/CC-SCC/HĐGD ký
kết ngày 13/6/2023 giữa nguyên đơn bà Hồ Thị T với bị đơn Công ty B đối với thửa
đất số 485 (Block B2-01 lô), tờ bản đồ số 5; Địa chỉ thửa đất: Khu dân cư A, phường
Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam. Diện tích 213,6m
2
; hình thức sử dụng riêng; mục đích
sử dụng: đất ở tại đô thị; thời hạn sử dụng đến ngày 26/12/2067; nguồn gốc nhà nước
giao đất có thu tiền sử dụng đất, (ghi chú: Người mua nhà ở gắn liền với quyền sử
dụng đất hoặc nhận chuyển nhượng đất ở phân lô được sử dụng lâu dài), giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số DC 085902, số vào sổ cấp GCN: CT 21566 do Sở Tài
nguyên và môi trường tỉnh Quảng Nam cấp ngày 09/6/2022; giá chuyển nhượng
1.550.000.000 đồng (Một tỷ năm trăm năm mươi triệu đồng);
Buộc Công ty Cổ phần B phải có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ theo
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Văn phòng công chứng N, số công
chứng 720, quyền số 01/2023 TP/CC-SCC/HĐGD ký kết ngày 13/6/2023; thực hiện
thủ tục xuất hóa đơn giá trị gia tăng cho bà Hồ Thị Thảo đối với giá trị chuyển nhượng
quyền sử dụng đất theo Hợp đồng; giao bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số DC 085902, số vào sổ cấp GCN: CT 21566 do Sở Tài nguyên và môi trường
tỉnh Quảng Nam cấp ngày 09/6/2022 cho bà Hồ Thị T.
Bà Hồ Thị T được quyền sử dụng thửa đất số 485 (Block B2-01 lô), tờ bản đồ
số 5, diện tích 213,6m
2
; Địa chỉ thửa đất: Khu dân cư A, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh
Quảng Nam (nay là phường Đ, thành phố Đà Nẵng) và có quyền, nghĩa vụ liên hệ với
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất theo quy định của pháp luật.
Bà Hồ Thị T phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền còn lại cho Công ty Cổ phần B
là: 155.000.000 đồng (Một trăm năm mươi lăm triệu đồng).
2. Về chi phí tố tụng: Công ty cổ phần B phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại
chỗ và định giá tài sản. Nguyên đơn bà Hồ Thị T đã tạm nộp nên buộc Công ty cổ
phần B phải có nghĩa vụ thanh toán lại cho bà Hồ Thị T số tiền 25.900.000 đồng. (Hai
mươi lăm triệu chín trăm nghìn đồng y)
Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của
người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người thi hành án) cho
đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn
phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại
Điều 357 và Điều 468 Bộ Luật dân sự năm 2015.
3. Về án phí: Bà Hồ Thị T phải chịu 7.750.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm
nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm
6
ứng án phí số 0014843 ngày 23/10/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Điện
Bàn (nay là phòng Thi hành án Khu vực 10 – Đà Nẵng), bà T còn phải nộp tiếp số tiền
7.450.000 đồng (Bảy triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng y). Công ty cổ phần B phải
chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo của đương sự và quyền
yêu cầu thi hành bản án có hiệu lực pháp luật.
* Sau khi xét xử sơ thẩm, Công ty Cổ phần B có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án
cấp phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm số 172/2025/DS-ST ngày 10 tháng 9 năm
2025 của Toà án nhân dân Khu vực 10 - Đà Nẵng theo hướng không chấp nhận yêu
cầu khởi kiện của bà Hồ Thị T.
* Tại phiên tòa phúc thẩm, Đại diện theo ủy quyền của Công ty cổ phần B giữ
nguyên nội dung kháng cáo và trình bày bổ sung ý kiến Đề nghị Tòa án tuyên chấm
dứt Hợp đồng chuyển nhượng ngày 13/06/2023 và Công ty B hoàn trả lại cho bà Hồ
Thị T toàn bộ số tiền đã nhận.
* Cũng tại phiên tòa phúc thẩm, Đại diện Viện kiểm sát thành phố Đà Nẵng
phát biểu về việc giải quyết vụ án như sau:
+ Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng
xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ
án ở giai đoạn phúc thẩm là đảm bảo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
+ Về quan điểm giải quyết: Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân
sự; Không chấp nhận kháng cáo của Công ty cổ phần B và giữ nguyên nội dung bản
án dân sự sơ thẩm số 172/2025/DS-ST ngày 10 tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân
dân Khu vực 10 - Đà Nẵng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra
tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi Đại diện Viện
kiểm sát phát biểu ý kiến, Hội đồng xét xử nhận định:
Tại phiên tòa phúc thẩm, Đại diện theo ủy quyền của Công ty Cổ phần B giữ
nguyên nội dung kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm
số 172/2025/DS-ST ngày 10 tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân Khu vực 10 - Đà
Nẵng theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị T và trình bày bổ
sung ý kiến Đề nghị Tòa án tuyên chấm dứt Hợp đồng chuyển nhượng ngày
13/06/2023 và Công ty Cổ phần B hoàn trả lại cho bà Hồ Thị Thảo toàn bộ số tiền đã
nhận. Xét kháng cáo của Công ty Cổ phần B, HĐXX thì thấy:
7
[1] Đối với yêu cầu Công ty Cổ phần B tiếp tục thực hiện Hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất ngày 13/6/2023 giữa bà Hồ Thị T với Công ty Cổ phần B:
[1.1] Ngày 13 tháng 6 năm 2023, bà Hồ Thị T và Công ty Cổ phần B (gọi tắt là
Công ty B ) có ký kết Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Theo hợp đồng
thì Công ty B chuyển nhượng cho bà Hồ Thị T thửa đất số 485 BLOCK B2-01 lô, tờ
bản đồ số 5 tại Địa chỉ thửa đất: Khu dân cư A, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam
với giá 1.550.000.000 đồng. Thực hiện hợp đồng bà T đã thanh toán cho Công ty B số
tiền 1.395.000.000 đồng (tương đương với 90% giá trị hợp đồng) phần còn lại bà
Thảo chưa thanh toán.
Xét thấy: Hợp đồng giữa bà Hồ Thị T với Công ty B được các bên ký kết trên
cơ sở tự nguyện, được cơ quan tổ chức công chứng chứng thực. Tại thời điểm ký kết
hợp đồng, các điều khoản giao kết trong hợp đồng là do các bên tự nguyện thỏa thuận,
bà T là người có đủ năng lực hành vi dân sự, ký kết hợp đồng với người có thẩm
quyền của Công ty B các điều khoản trong hợp đồng đảm bảo đúng quy định tại Điều
167, 168, 188 Luật Đất đai, Điều 9, 37, 39, 40 Luật Kinh doanh bất động sản. Do đó,
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Hồ Thị T với Công ty B ngày
13/6/2023 công chứng tại Văn phòng công chứng là có hiệu lực pháp luật hợp pháp,
có giá trị pháp luật và bắt buộc các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với nhau
theo cam kết.
[1.2] Tại phiên tòa phúc thẩm, Đại diện Công ty B cho rằng theo quy định tại
Khoản 2 Điều 3 của hợp đồng thì trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày hai bên ký kết
hợp đồng và hợp đồng được công chứng bà Thảo có nghĩa vụ thanh toán đầy đủ số
tiền 1.150.000.000 đồng nhưng đến nay bà T vẫn chưa thanh toán số tiền còn lại 10%
giá trị hợp đồng nên đề nghị Tòa án tuyên bố chấm dứt hợp đồng, còn bà T trình bày:
trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày ký hợp đồng bà T có đến Công ty B để nộp số tiền
còn lại nhưng thời điểm này Công ty B bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh
nghiệp nên không thực hiện được.
Xét lời trình bày của các đương sự thì thấy: Theo các tài liệu, chứng cứ thu thập
trong hồ sơ thể hiện ngày 11/8/2023 Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Quảng Nam ra Quyết
định thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp của Công ty B; bà T cung cấp
hình ảnh thể hiện ngày 30/6/2023 bà T có đến trụ sở Công ty B nhưng đóng cửa và
cũng trong thời gian này bà Hồ Thị T và một số hộ dân gửi đơn đến Cơ quan cảnh sát
điều tra yêu cầu Công ty B tiếp tục thực hiện hợp đồng, chứng tỏ bà T mong muốn
tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Công ty B cho rằng bà
Thảo vi phạm nghĩa vụ thanh toán nhưng cũng không có động thái gì mà chỉ khi bà
Thảo khởi kiện mới có đề nghị chấm dứt hợp đồng chuyển nhượng, HĐXX xét thấy
8
lời trình bày của bà T là có căn cứ nên không chấp nhận lời trình bày của Đại diện
Công ty B.
Theo hợp đồng thì giá trị chuyển nhượng quyền sử dụng đất là 1.550.000.000
đồng, bà Thảo đã thanh toán cho Công ty B 90% giá trị lô đất nên Tòa án cấp sơ thẩm
buộc bà T thanh toán cho Công ty B 10% giá trị còn lại tương ứng số tiên
155.000.000 đồng là phù hợp.
[2] Đối với yêu cầu buộc Công ty B giao bản chính giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất:
Tại Điều 4 của Hợp đồng có thỏa thuận: “Bên A (Công ty B) có trách nhiệm
bàn giao cho bên B (bà T) thửa đất nêu tại Điều 1 của hợp đồng này, giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất và các giấy tờ pháp lý liên quan đến quyền sử dụng đất”; Theo
khoản 3 Điều 39 Luật Kinh doanh bất động sản quy định nghĩa vụ của bên chuyển
nhượng QSD đất như sau : “.....Làm thủ tục đăng ký đất đai theo quy định của pháp
luật về đất đai và giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài
sản khác gắn liền với đất cho bên nhận chuyển nhượng....” và tại Khoản 3 Điều 40
Luật Kinh doanh bất động sản quy định quyền của bên nhận chuyển nhượng QSD đất
như sau : “.....Yêu cầu bên chuyển nhượng làm thủ tục và giao Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất...”.
Tuy nhiên, hết thời hạn thỏa thuận nhưng Công ty B vẫn không giao cho bà
Thảo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là vi phạm thỏa thuận trong hợp đồng và
quy định của pháp luật. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm buộc Công ty B phải có nghĩa vụ
bàn giao cho bà T bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DC 085902 do Sở
Tài nguyên và môi trường tỉnh Quảng Nam cấp ngày 09/6/2022 đứng tên Công ty Cổ
phần B là phù hợp.
[3] Đối với yêu cầu Công ty B An xuất hóa đơn giá trị gia tăng đối với giá trị tài
sản chuyển nhượng:
Theo Điều 4 Nghị định 123/2020/NĐ-CP ngày 9/10/2020 của Chính phủ quy
định về hóa đơn chứng từ như sau: “..Tổ chức, cá nhân khi bán hàng hóa, cung cấp
dịch vụ, người bán phải có nghĩa vụ lập hóa đơn để giao cho người mua, bao gồm cả
hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại, quảng cáo, hàng mẫu; dùng để cho, biếu,
tặng, trao đổi, trả thay lương cho nhân viên và tiêu dùng nội bộ (trừ hàng hóa luân
chuyển nội bộ để tiếp tục sản xuất); xuất hàng hóa dưới các hình thức cho vay, cho
mượn hoặc hoàn trả và phải ghi đầy đủ nội dung theo Điều 10 của Nghị định này,
trường hợp sử dụng hóa đơn điện tử thì phải theo quy định tại Điều 12 của Nghị định
này..”.
9
Do đó, Công ty B khi chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà Hồ Thị T phải
có nghĩa vụ xuất hoá đơn giá trị gia tăng đối với giá trị quyền sử dụng đất chuyển
nhượng. Tại công văn số 416/DAN-QLDN3 ngày 04/8/2025 của Thuế thành phố Đà
Nẵng cung cấp thông tin cho Tòa án thì Công ty B chưa xuất hóa đơn cho bà Hồ Thị T
liên quan đến giá trị hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 485, tờ bản
đồ số 5 có địa chỉ tại Khu A, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam (nay là phường Đ,
thành phố Đà Nẵng) nên Tòa án cấp sơ thẩm buộc Công ty B phải thực hiện việc xuất
hoá đơn giá trị gia tăng cho bà Hồ Thị T là đúng quy định của pháp luật.
Từ những nhận định trên, HĐXX thấy Tòa án cấp sơ thẩm buộc Công ty B Đạt
An và bà Hồ Thị T phải có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện các thỏa thuận đã ký kết trong
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là có căn cứ. Do vậy, không chấp nhận
kháng cáo của Công ty B và giữ nguyên nội dung bản án sơ thẩm số 172/2025/DS-ST
ngày 10 tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân Khu vực 10 - Đà Nẵng như đề nghị
của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
[4] Về án phí:
[4.1] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do chấp nhận yêu cầu của bà Hồ Thị T về việc
tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nên Công ty BAn phải
chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng.
- Do buộc bà Hồ Thị T phải thanh toán cho Công ty B số tiền 155.000.000 đồng
nên bà Hồ Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là (155.000.000 đồng x 5%) =
7.750.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án đã nộp là 300.000 đồng theo
biên lai thu tạm ứng án phí số 0014843 ngày 23/10/2024 của Chi cục Thi hành án Dân
sự thị xã Điện Bàn (nay là phòng Thi hành án Khu vực 10 - Đà Nẵng). Bà Hồ Thị T
còn phải nộp tiếp số tiền 7.450.000 đồng.
[4.2] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do không chấp nhận kháng cáo nên Công ty
B phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng
án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0002607 ngày 01 tháng 10 năm 2025
tại Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng.
[5] Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là
25.900.000 đồng Công ty B phải chịu, nhưng bà Hồ Thị T đã nộp tạm ứng số tiền trên
nên buộc Công ty B phải có nghĩa vụ trả lại cho bà Hồ Thị T số tiền 25.900.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật dân sự;
- Căn cứ vào Điều 501 và Điều 503 Bộ luật Dân sự năm 2015;
10
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ
phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của Công ty Cổ phần B và giữ nguyên nội dung
bản án sơ thẩm số 172/2025/DS-ST ngày 10 tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân
Khu vực 10 - Đà Nẵng.
Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị T đối với Công ty Cổ phần Bvề
việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
1. Công nhận hiệu lực của Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Văn
phòng công chứng N, số công chứng 720, quyền số 01/2023 TP/CC-SCC/HĐGD ký
kết ngày 13/6/2023 giữa nguyên đơn bà Hồ Thị T với bị đơn Công ty Cổ phần B đối
với thửa đất số 485 (Block B2-01 lô), tờ bản đồ số 5; Địa chỉ thửa đất: Khu dân cư A,
phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam. Diện tích 213,6m
2
; hình thức sử dụng riêng;
mục đích sử dụng: đất ở tại đô thị; thời hạn sử dụng đến ngày 26/12/2067; nguồn gốc
nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, (ghi chú: Người mua nhà ở gắn liền với
quyền sử dụng đất hoặc nhận chuyển nhượng đất ở phân lô được sử dụng lâu dài),
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DC 085902, số vào sổ cấp GCN: CT 21566 do
Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Quảng Nam cấp ngày 09/6/2022; giá chuyển
nhượng 1.550.000.000 đồng. (Một tỷ năm trăm năm mươi triệu đồng);
2. Buộc Công ty Cổ phần B phải có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ
theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Văn phòng công chứng N, số
công chứng 720, quyền số 01/2023 TP/CC-SCC/HĐGD ký kết ngày 13/6/2023; thực
hiện thủ tục xuất hóa đơn giá trị gia tăng cho bà Hồ Thị T đối với giá trị chuyển
nhượng quyền sử dụng đất theo Hợp đồng; giao bản chính giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số DC 085902, số vào sổ cấp GCN: CT 21566 do Sở Tài nguyên và môi
trường tỉnh Quảng Nam cấp ngày 09/6/2022 cho bà Hồ Thị Thảo.
Bà Hồ Thị T được quyền sử dụng thửa đất số 485 (Block B2-01 lô), tờ bản đồ
số 5, diện tích 213,6m
2
; Địa chỉ thửa đất: Khu dân cư A, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh
Quảng Nam (nay là phường Đ, thành phố Đà Nẵng) và có quyền, nghĩa vụ liên hệ với
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất theo quy định của pháp luật.
3. Bà Hồ Thị T phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền còn lại cho Công ty Cổ phần
B là: 155.000.000 đồng. (Một trăm năm mươi lăm triệu đồng).
Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của
người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người thi hành án) cho
11
đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn
phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại
Điều 357 và Điều 468 Bộ Luật dân sự năm 2015.
4. Về án phí:
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Án phí dân sự sơ thẩm Công ty Bách Đ phải chịu là
300.000 đồng.
Án phí dân sự sơ thẩm bà Hồ Thị T phải chịu là 7.750.000 đồng, nhưng được
trừ vào số tiền tạm ứng án đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số
0014843 ngày 23/10/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Điện Bàn (nay là
phòng Thi hành án Khu vực 10 - Đà Nẵng). Bà Hồ Thị T còn phải nộp tiếp số tiền
7.450.000 đồng.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Án phí dân sự phúc thẩm Công ty Cổ phần B
phải chịu là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000
đồng theo biên lai thu số 0002607 ngày 01 tháng 10 năm 2025 tại Thi hành án dân sự
thành phố Đà Nẵng.
5. Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là
25.900.000 đồng Công ty B phải chịu, nhưng bà Hồ Thị T đã nộp tạm ứng số tiền trên
nên buộc Công ty B phải có nghĩa vụ trả lại cho bà Hồ Thị T số tiền 25.900.000 đồng.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân
sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án,
quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hánh án theo quy
định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện
theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- TAND Khu vực 10 - Đà Nẵng;
- THADS thành phố Đà Nẵng;
- VKSND TP. Đà Nẵng;
- Lưu: Hồ sơ vụ án (1b), Tổ nghiệp vụ
- Văn phòng (1b).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký và đóng dấu)
Vũ Việt Dũng
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 14/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 08/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 06/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 06/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 05/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 31/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 31/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 31/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 31/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 31/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 30/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm