Bản án số 02/2026/DS-PT ngày 06/01/2026 của TAND TP. Đà Nẵng về tranh chấp hợp đồng dịch vụ

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 02/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 02/2026/DS-PT ngày 06/01/2026 của TAND TP. Đà Nẵng về tranh chấp hợp đồng dịch vụ
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dịch vụ
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Đà Nẵng
Số hiệu: 02/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 06/01/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Công ty TNHH S - Tô Duy H
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHNGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHĐÀ NẴNG Đc lập - Tdo - Hnh phúc
Bản án s: 02/2026/DS-PT
Ny 06/01/2026
V/v Tranh chấp hợp đồng xây dựng”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Thành phần Hi đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Việt Dũng
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Thọ
Bà Trần Thị Thanh Mai
Thư phiên tòa: Lại Thị Thanh Huyền - Thư Tòa án nhân dân thành phố
Đà Nẵng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng: Phạm Thị Ngọc Dung -
Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 01 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số 26/2025/DSPT ngày 24 tháng 10 năm 2024
về việc: Tranh chấp hợp đồng xây dựng".
Do bản án dân sự sơ thẩm số 385/2025/DS-ST ngày 16 tháng 9 năm 2025 của Tòa
án nhân dân Khu vực 1 - Đà Nẵng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 379/2025/QĐ-PT ngày 28
tháng 11 năm 2025 Quyết định hoãn phiên toà phúc thẩm số 488/2025/QĐ-PT ngày
18 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Công ty TNHH Xây dựng Thương mại S - Địa chỉ: 36 Khu
B2–23, phường H, quận N, thành phố Đà Nẵng. Người đại diện theo pháp luật: Ông
Phạm Thanh T - Chức vụ: Giám đốc. (Có mặt).
* Bị đơn: Ông Duy H - Sinh năm: 1977 - Địa chỉ: 30/4 phường H, quận H,
thành phố Đà Nẵng (nay Lô 30/4 phường H, thành phố Đà Nẵng) - Địa chỉ liên hệ: 30 A,
phường H quận N, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt).
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Phạm Ngọc H Trịnh Nam Phương L -
Địa chỉ: 28 T, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng. (Theo Giấy uỷ quyền được phòng
công chứng công chứng số 000183, quyển số 01/2025 TP/CC-SCC/HĐGD ngày
17/3/2025). (Ông H có mặt).
2
- Người kháng cáo: Ông Tô Duy H, là Bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án như sau:
* Trong đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án tại phiên toà hôm nay,
nguyên đơn Công ty TNHH Xây dựng và Thương mại S trình bày:
Công ty TNHH Xây dựng Thương mại S ông Duy H Hợp đồng
kinh tế số 06/2017/HĐKT/ST-SK ngày 30/5/2017 về việc thi công xây lắp phần thô Dự
án nhà ở gia đình ông Tô Duy H tại địa chỉ số 02 T, quận H, thành phố Đà Nẵng.
Nội dung công việc theo hợp đồng: Thực hiện phần thô, giá trị khối lượng giá
trị các hạng mục công việc theo hồ thiết kế, bản vẽ thi công do chủ đầu cung cấp,
bao gồm nhân công, vật liệu, máy móc thi công xây lắp của dự án.
Các hạng mc công việc cụ thể như sau:
- Đào đắp đất hố móng, vận chuyển đất thừa đồ đi;
- Biện pháp thi công phần móng tránh sạt lở đất ảnh hưởng đến công trình lân cận;
- Thi công đổ tông đài móng, giằng móng, bnước, bể tự hoại, nền tầng hầm
theo đúng thiết kế, thi công toàn bcốt pha, cốt thép, tông, trụ, vách, dầm sàn, cầu
thang từ tầng hầm đến dầm sàn tầng tum mái, phần chóp tròn theo hồ sơ thiết kế
- Thi công xây tường, trát tường trong, tường ngoài, cột, cầu thang theo thiết kế;
- Thi công nhân công lắp đặt toàn bộ hệ thống điện nước đến khi hoàn thành công
trình;
- Hoàn thiện toàn bộ mặt tiền (có hoa văn, chỉ phào theo đúng thiết kế), thi công
toàn bộ phần lát gạch men, ốp gạch nhà vệ sinh, lợp ngói.
Giá trị hợp đồng trọn gói là 2.389.710.000 đồng (chưa bao gồm VAT).
Đơn giá hợp đồng đơn giá cố định trong suốt quá trình thực hiện hợp đồng.
Trường hợp phát sinh thêm khối lượng, công việc ngoài hợp đồng, thì chủ đầu phải
thanh toán cho nhà thầu khối lượng công việc phát sinh đó.
Thời gian thi công theo khoản 5.1 của hợp đồng:
- Thi công phần thô là 90 ngày;
- Tiến độ thi công mặt tiền, đắp hoa văn, phào chỉ là 25 ngày;
- Thời gian bắt đầu thi công theo khoản 7.2a của hợp đồng 03 ngày, kể từ ngày
ký hợp đồng (30/5/2017)
- Theo Bảng tiến độ kèm theo hợp đồng, các bên thỏa thuận thời gian thi công
là 112 ngày (trừ ngày lễ, thiên tại).
3
Về tạm ứng thanh toán: Nhà thầu tự bỏ chi phí để thi công được chủ đầu
thanh toán 80% giá trị khối lượng thực hiện khi hoàn thành từng giai đoạn công việc.
Sau khi hoàn thành toàn bộ khối lượng công việc theo hợp đồng, chủ đầu phải thanh
toán toàn bộ phần giá trị hợp đồng còn lại sau khi khấu trừ 5% giá trị bảo hành công
trình giữ lại.
Công ty S đã bắt đầu thi công từ ngày 08/6/2017 hoàn thành hơn 95% công
việc theo thỏa thuận trong hợp đồng và phần phát sinh, với tổng giá trị thực hiện thực tế
(bao gồm VAT), tổng cộng là 2.563.321.133 đồng (giá trị chưa tính thuế VAT là
2.330.291.939 đồng).
Trong quá trình thi công Công ty S đã phải thực hiện thêm mt số công việc phát
sinh theo yêu cầu của ông Duy H ngoài phạm vi hợp đồng, Do đó, giá trị thực tế đã
thực hiện được lớn hơn giá trị công việc ký kết trong hợp đồng. Tuy nhiên, phía chủ đầu
tư không ký các biên bản xác nhận giá tr khối lượng hoàn thành để nghiệm thu từng giai
đoạn thanh toán cho công ty. Ông Duy H đã đưa ra nhiều do không hợp buộc
Công ty phải làm các công việc ngoài phạm vi hợp đồng không chịu tổ chức nghiệm
thu mặc cho chúng tôi yêu cầu nhiều lần.
Công ty S đã gửi công văn yêu cầu tổ chức nghiệm thu tạm dừng thi công để
làm các vấn đề khúc mắc giữa hai bên, nhưng ông Duy H không thiện chí hợp
tác, giải quyết, trốn tránh nghĩa vụ thanh toán.
Cho đến nay ông Duy H chỉ thanh toán được 1.700.000.000 đồng. Số công nợ
còn lại của ông Tổ Duy H tổng phải trả cho công ty chúng tôi 863.321.103 đồng,
trong đó giá trị thi công nghiệm thu đến 95% còn lại là 746.806.536 đồng, giá trị 5% bảo
hành 116.514.597 đồng. Ông Duy H cố tình không thanh toán chúng tôi đã
nhiều lần yêu cầu. Việc không thanh toán của ông Duy H vi phạm hợp đồng, xâm
phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của Công ty S.
Công ty S yêu cầu ông Duy H thanh toán nợ, yêu cầu trả lãi chậm trả. Căn
cứ Bản án Dân sự thẩm số 130/2023/DS-ST ngày 22/9/2023 của Tòa án nhân dân
quận Hải Châu, Bản án Dân sự phúc thẩm xét xử ngày 19/6/2024 của Tòa án nhân dân
thành phố Đà Nẵng tuyên: Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Xây dựng
và Thương mại S về việc tranh chấp hợp đồng xây dựng đối với ông Tô Duy H. Công ty
TNHH Xây dng và Thương mại S được quyền khởi kiện lại".
Công ty TNHH Xây dựng thương mại S ông Duy H kết hợp đồng
thi công giá trị 2.389.710.164 đồng. Công ty TNHH Xây dựng thương mại S đã
thực hiện các hạng mục theo bảng tổng hợp giá trị quyết toán với tổng số tiền
2.563.321.133 đồng (giá trị 2.330.291.939 đồng thuế GTGT 10% 233.029.194đ).
Ông Duy Hào đã thanh toán cho Công ty TNHH Xây dựng thương mại S số tiền
4
1.700.000.000 đồng. Do vậy số tiền còn lại ông Tô Duy H còn phải thanh toán cho Công
ty TNHH Xây dựng thương mại S là 824.390.000 đồng (863.321.103 đng), trong đó
giá trị thi công nghiệm thu đến 95% 746.806.536 đồng, giá trị 5% bảo hành
116.514.597 đồng. Tại phiên toà hôm nay, Công ty S thay đổi một phần yêu cầu khởi
kiện, Công ty thống nhất gtrị hợp đồng chưa thực hiện theo kết luận giám định là
155.235.318 đồng, Công ty S đồng ý khấu trừ số tiền này vào giá trị hợp đồng, yêu cầu
ông H phải trả chi phí phát sinh thay đổi theo yêu cầu của chủ đầu từ tường 10cm lên
tường 15cm là 15.462.775 đồng, do đó phần việc Công ty đã thực hiện theo hợp đồng
tương ứng với giá trị: 2.389.710.000 đồng - 155.235.318 đồng + 15.462.775 đồng =
2.249.937.621 đồng, 10% tiền thuế giá trị gia tăng là 224.993.762 đồng, tổng giá trị phải
thanh toán 2.474.931.383 đồng, ông Duy H đã tạm ứng số tiền 1.700.000.000
đồng, số tiền còn lại phải thanh toán là 774.931.383 đồng.
Tại phiên toà hôm nay, Công ty TNHH Xây dựng thương mại S thay đổi yêu
cầu khởi kiện, yêu cầu ông Duy H phải thanh toán cho Công ty TNHH Xây dựng
thương mại Stổng cộng số tiền là 1.174.854.233 đồng, cụ thể:
1. Buộc ông Tô Duy H phải thanh toán một lần số tiền là 774.931.383 đồng (trong
đó giá trị thanh toán phần công việc đã thực hiện là 549.937.621đ và thuế giá trị gia tăng
10% là 224.993.762 đ).
2. Buộc ông Tô Duy H phải trả tiền lãi do chậm thanh toán trên số tiền nợ theo giá
trị công việc đã thực hiện 549.937.621 đồng, tính từ ngày 27/3/2018 đến ngày 16/9/2025
với mức lãi suất chậm trả 10%/năm cho Công ty Saiko là: 399.922.850 đồng, trong đó
tiền lãi chưa tính 5% tiền bảo hành 43.744.074 đồng (549.937.621 đồng
112.496.881 đồng x 10%/năm) + tiền lãi sau khi hết thời hạn bảo hành 356.178.776
đồng (549.937.621 đồng x 10%/năm/365 ngày x 2.364 ngày).
Công ty TNHH Xây dựng và thương mại S xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối
với giá trị chênh lệch giá phần nhân công đối với khối lượng công ty S đã thi công
nhưng ông Tổ Duy H chưa nghiệm thu thanh toán, tỷ lệ chênh lệch giá nhân công theo
quyết định số 3699/QĐ UBND thành phố Đà Nẵng ngày 29/12/2017 so với Quyết định
số 361/QĐSXD thành phố Đà Nẵng ngày 29/12/2023 với tlệ chênh lệch 30.94%,
Giá trị chênh lệch giá nhân công do chủ đầu chưa nghiệm thu từ năm 2017 đến năm
2024 267.111.558 đồng yêu cầu trả chi phí phát sinh lắp lan can hoa văn
2.000.0000 đồng.
* Trong quá tnh giải quyết vụ án, đại diện theo uỷ quyền của bị đơn trình bày:
Theo quy định tại Điều 429 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì: “Thời hiệu khởi kiện đ
yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng 03 năm, kể từ ngày người quyền
yêu cầu biết hoặc phải biết quyền lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm". Công ty
5
TNHH Xây dựng Thương mại S(Công ty S) thời hạn trong vòng 03 năm kể từ
ngày biết hoặc phải biết quyền lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm để thực hiện
quyền khởi kiện. Ngày 21/12/2017, ng ty S đã gửi công văn số 2112/2017/CV yêu
cầu ông Tô Duy H nghiệm thu và thanh toán, thể hiện việc nguyên đơn đã biết hoặc phải
biết quyền lợi ích của mình bị xâm phạm. Theo đó, thời hiệu khởi kiện đối với yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn đã hết vào ngày 21/12/2020.
Đơn khởi kiện lần đầu được Công ty Saiko lập ngày 27/3/2018, tại thời điểm này
còn thời hiệu khởi kiện theo quy định. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án trải qua
nhiều cấp xét xử, cho đến ngày 22/9/2023, nguyên đơn tự từ bỏ quyền khởi kiện của
mình, thể hiện bằng việc cố tình vắng mặt tại Tòa án, mặc dù đã được triệu tập nhiều lần.
Tòa án nhân dân quận Hải Châu đã áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng
dân sự 2015 để đình chỉ yêu cầu khởi kiện của Công ty S. Việc đình chỉ yêu cầu khởi
kiện của Tòa án căn cứ, hoàn toàn do lỗi chủ quan của phía nguyên đơn nên không
thuộc các trường hợp bất khả kháng, trở ngại khách quan không tính vào thời hiệu khởi
kiện theo quy định tại Điều 156 Bộ luật dân sự 2015.
Đến ngày 24/6/2024, Công ty S nộp lại đơn khởi kiện ông Duy H, tuy nhiên,
tại thời điểm này đã quá 03 năm kể từ ngày Công ty S biết hoặc phải biết quyền lợi
ích hợp pháp của mình bị xâm phạm (21/12/2017 - 21/12/2020).
vậy, yêu cầu Toà án căn cứ quy định tại điểm e khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố
tụng Dân sự năm 2015 đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn do
thời hiệu khởi kiện đã hết.
Hiện nay công trình xây dựng dán nhà gia đình tại địa chỉ số 02 T, quận H,
thành phố Đà Nẵng được ông Tô Duy H đã chuyển nhượng cho người khác.
Ông Duy H cũng xác nhận đã thanh toán cho Công ty TNHH Xây dựng
Thương mại S số tiền 1.700.000.000 đồng. Tuy nhiên giữa các bên không thống nhất
được giá trị quyết toán, do vậy bị đơn yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện. Trường hợp
Toà án chấp nhận yêu cầu tranh chấp hợp đồng của nguyên đơn thì cũng đình chỉ đối với
yêu cầu tính lãi xem xét chi phí ông H phải khắc phục thiệt hại do lỗi của Công ty S
làm không đạt yêu cầu nên đề nghị Tán thu thập tài liệu chứng cứ đang do Toà án
nhân dân thành phố lưu giữ xét xử vụ án trước đây.
* Với nội dung vụ án như trên, tại bản án dân sự thẩm số 385/2025/DS-ST ngày
16 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Đà Nẵng đã quyết định:
Căn cứ vào: khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,
Điều 271, Điều 273 Bộ luật ttụng dân sự; Điều 280 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều
144, Điều 145 Điều 146 Luật xây dựng; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của y ban thường vụ Quốc hội;
6
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Xây dựng Thương mại S đối
với ông Tô Duy H.
* X:
1. Buộc ông Duy H phải thanh toán cho Công ty TNHH Xây dựng Thương
mại S số tiền là 1.174.854.233 đồng (Một tỷ một trăm bảy mươi bốn triệu tám trăm năm
mươi bốn ngàn hai trăm ba mươi ba đồng), trong đó tiền phải thanh toán thợp đồng
xây dựng là 774.931.383 đồng tiền lãi từ ngày 27/3/2018 đến ngày 16/9/2025
399.922.850 đng.
Kể tngày án hiệu lực pháp luật, người được thi hành án đơn yêu cầu thi
hành án mà người nghĩa vụ thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì phải chịu
lãi suất đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do
chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá
mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự; nếu không thỏa
thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 ca Bộ luật dân sự.
2. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện Công ty TNHH Xây dựng và Thương mại
S về việc yêu cầu ông Tô Duy H thanh toán số tiền giá trị chênh lệch phần nhân công đối
với khối lượng đã thi ng nhưng chưa nghiệm thu thanh toán 267.111.558 đồng và
yêu cầu trả chi phí phát sinh lắp lan can hoa văn là 2.000.0000 đồng.
3. Về án phí: Ông Duy H phải chịu đồng án phí dân sự thẩm là 47.245.626
đồng. Hoàn trả cho Công ty TNHH Xây dựng Thương mại S số tiền tạm ứng án phí
dân sự sơ thẩm đã nộp là 31.038.004 đồng theo biên lai thu số 0004913 ngày 04/12/2024
của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu (nay là Thi hành án dân sự thành phố Đà
Nẵng).
Ngoài ra, bản án thẩm n tuyên về quyền kháng cáo nghĩa vụ thi hành án
của các đương sự.
* Sau khi xét xthẩm, Bị đơn ông Duy H đơn kháng cáo đề nghị Tòa
án cấp phúc thẩm Hủy Bản án dân sự thẩm số 385/2025/DS-ST ngày 16 tháng 9 năm
2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Đà Nẵng; trong trường hợp không hủy thì đề
nghị HĐXX sửa bản án dân sự thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện
của Công ty TNHH Xây dựng và Thương mại S.
* Tại phiên tòa phúc thẩm, Đại diện Viện kiểm sát thành phố Đà Nẵng phát biểu
về việc giải quyết vụ án như sau:
+ Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng
xét xử, Thư phiên tòa của người tham gia ttụng trong quá trình giải quyết ván
ở giai đoạn phúc thẩm là đảm bảo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
7
+ Về quan điểm giải quyết: Tòa án cấp thẩm không đưa ông Đỗ Xuân C vào
tham gia tố tụng vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, mặt khác Người đại diện của
Bị đơn Đơn đề nghị Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ nhưng không trả lời đơn
không đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nên Đề nghị HĐXX căn cứ vào khoản 3
Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Tô Duy H
tuyên hủy bản án dân sự thẩm số 385/2025/DS-ST ngày 16 tháng 9 năm 2025 của
Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Đà Nẵng; Giao h về Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Đà
Nẵng để xét x thẩm lại đúng quy định ca pháp lut.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi Đại diện Viện kiểm sát
phát biểu ý kiến, Hội đồng xét xử nhận định:
Tại phiên tòa phúc thẩm, Người đại diện theo ủy quyền của ông Duy H giữ
nguyên nội dung kháng cáo yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện đề nghị Tòa án cấp
phúc thẩm hủy bản án dân sự thẩm; trong trường hợp không hủy thì đề nghị sửa bản
án dân sự thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH
Xây dựng và Thương mại S. Xét kháng cáo của ông Tô Duy H thì thấy:
* Về thủ tục tố tụng:
[1] Đối với yêu cầu áp dụng thời hiệu của ông Tô Duy H đối với Hợp đồng kinh tế
số 06/2017/HĐKT/ST-SK ngày 30/5/2017:
Đơn khởi kiện lần đầu được Công ty TNHH Xây dựng Thương mại S (gọi tắt
là Công ty S) nộp đến Toà án ngày 27/3/2018, Toà án nhân dân quận Hải Châu thụ lý v
án số 31/2018/TLST-DS ngày 06/4/2018; ngày 04/6/2021 vụ án được xét xử tại Bản án
số 34/2021/DS-ST. Ngày 26/8/2022, Toà án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng Quyết
định giám đốc thẩm số 35/2022/DS-GĐT huỷ toàn bộ Bản án dân s thẩm s
34/2021/DS-ST ngày 04/6/2021 của Toà án nhân dân quận Hải Châu và chuyển h sơ vụ
án cho Toà án nhân dân quận Hải Châu đxét xtheo thủ tục thẩm. Ngày 22/9/2023
Toà án nhân dân quận Hải Châu Bản án số 120/2023/DS-ST xét xử vụ án, đình chỉ
yêu cầu khởi kiện của Công ty S, sau đó Công ty S kháng cáo; tại Bản án dân sự phúc
thẩm số 122/2024/DS-PT ngày 19/6/2024 của Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng
quyết định, đình chỉ yêu cầu khởi kiện của Công ty S vviệc tranh chấp hợp đồng xây
dựng đối với ông Tô Duy Hào. Ngày 24/6/2024 Công ty S có đơn khởi kiện ông Tô Duy
H về việc “Tranh chấp hợp đồng xây dựng”. Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xác định thời
gian tranh chấp từ năm 2018 đến năm 2024 trở ngại khách quan không tính vào thời
8
hiệu khởi kiện căn cứ, phù hợp Điều 156 của Bộ luật dân sự 2015. Do vậy, không
chấp nhận kháng cáo của ông Duy H đề nghị hủy Bản án dân sự thẩm với lý do
hết thời hiệu khởi kiện.
[2] Đối với đề nghị Hủy bản án dân sự thẩm của Đại diện Viện kiểm sát tại
phiên tòa với do Tòa án cấp thẩm không đưa ông Đỗ Xuân C vào tham gia tố tụng
với cách Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không trả lời đơn đề nghị Tòa án
thu thập tài liệu, chứng cứ của ông Tô Duy H:
Trong qtrình giải quyết vụ án các bên đương sự cùng thống nhất căn cứ Bản
giám định số 158TT/18CV ngày 24/9/2018 Công ty TNHH giám định C để làm sở
giải quyết vụ án, theo Bản giám định này thể hiện thực tế khối lượng công việc mà Công
ty S đã làm chưa làm; công việc đã làm đúng hay sai thỏa thuận nên việc ông Đỗ
Xuân C có hay không ký vào biên bản giám sát thi công là không cần thiết.
Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án ông Hào cũng xác định ủy quyền
cho ông Đỗ Xuân C giám sát thi công, tuy nhiên tại phiên tòa phúc thẩm Người đại diện
theo ủy quyền của ông Hào không phủ nhận mà cho rằng không biết nội dung trên.
Cũng tại phiên tòa phúc thẩm Người đại diện theo ủy quyền của ông H trình bày:
trong trường hợp các đương sự thỏa thuận với nhau về hướng giải quyết vụ án thì ông H
chấp nhận thanh toán số tiền gốc 774.931.383 đồng chứ không đồng ý thanh toán tiền
lãi, nghĩa là ông H thừa nhận Công ty S n nợ số tiền thi công theo hợp đồng là
774.931.383 đồng nên không cần thiết đưa ông Đỗ Xuân C vào tham gia tố tụng với
cách Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nếu cũng chtham gia với cách
Người làm chứng.
Tòa án cấp thẩm không trả lời đơn đề nghị thu thập tài liệu, chứng cứ của ông
Hào thiếu sót nhưng không ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của các
đương sự. Do vậy, Tòa án cấp thẩm không đưa ông Đỗ Xuân C vào tham gia tố tụng
với cách Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng như không trả lời đơn đnghị
thu thập tài liệu, chứng cứ của ông H không vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng n
trình bày của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
* Về nội dung:
[3] Đối với yêu cầu thanh toán giá trị theo hợp đồng thi công với số tiền
774.931.383 đng:
Theo thoả thuận tại Hợp đồng thi công thì giá trị hợp đồng trọn gói
2.389.710.000 đồng (Kèm theo Bảng đơn giá dự thầu hạng mục công trình), chưa bao
gồm thuế GTGT 10%. Công ty S đã thực hiện các công việc theo thoả thuận tại hợp
đồng, tuy nhiên Công ty S thi công không đúng với thiết kế, kỹ thuật vi phạm hợp đồng,
ông Hào yêu cầu Công ty S bồi thường thiệt hại và đã được giải quyết tại Bản án dân sự
9
phúc thẩm số 122/2024/DS-PT ngày 19/6/2024 của Toà án nhân dân thành phố Đà
Nẵng.
Tại Báo cáo giám định số 158TT/18CV ngày 24/9/2018 Công ty TNHH giám
định C đã xác định tỷ lệ công việc Công ty S đã hoàn thành so với hợp đồng, theo đó các
bên kết thì giá trị phần chưa hoàn thành theo Hợp đồng 155.235.318 đồng, do đó
Tòa án cấp thẩm xác định phần giá trị ng việc của Công ty S đã thực hiện tương
ứng với giá trị hợp đồng trừ đi phần gtrị chưa hoàn thành theo kết luận giám định
2.234.474.682 đồng (2.389.710.000 đồng - 155.235.318 đồng) là có cơ sở.
[4] Đối với yêu cầu thanh toán phần giá trị phát sinh so với hợp đồng
15.462.775 đồng: Theo Nhật thi công ngày 18/6/2017, biên bản xử hiện trường
ngày 15/8/2017 biên bản nghiệm thu công việc xây dựng ngày 20 21 tháng 9 m
2017 thì phần tăng tiết diện xây ờng ngăn từ tường 10cm theo thiết kế lên tường 15cm
theo theo yêu cầu của chủ đầu tư, ông Đỗ Xuân C giám sát xác nhận chi phí phát
sinh. Do đó Tòa án cấp thẩm buộc ông H phải thanh toán cho Công ty S số tiền
15.462.775 đồng là có căn cứ.
Do vậy, giá trị phần công việc Công ty S đã thực hiện cho ông Duy H
2.234.474.682 đồng + 15.462.775 đồng = 2.249.937.457 đồng. Trong đó tiền bảo hành
5% phần khối lượng thực hiện tương ứng với giá trị phần công việc đã thực hiện
112.596.872 đồng (thanh toán sau 12 tháng ktừ ngày TVGS Chủ đầu chấp thuận
nghiệm thu chuyển giai đoạn). Do các bên không thực hiện nghiệm thu được nên thời
hạn thanh toán 5% tiền bảo hành sau 12 tháng kể từ ngày các bên có tranh chấp.
[5] Đối với yêu cầu thanh toán tiền thuế giá trị gia tăng 10% là 224.993.745 đồng:
Theo quy định của pháp luật thì thuế GTGT loại thuế gián thu sẽ cộng vào giá
bán hàng hóa, dịch vụ do người tiêu dùng trả khi sử dụng sản phẩm đó. Như vậy,
người chịu thuế GTGT thực tế là người tiêu dùng nhưng người nộp thuế GTGT là các cơ
sở kinh doanh. Công ty S đã thực hiện phần công việc thay cho ông H tương ứng giá trị
hợp đồng đã thực hiện là 2.249.937.457 đồng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông H
nghĩa vụ thanh toán cho Công ty S số tiền 224.993.745 đồng để Công ty S thực hiện nộp
thuế GTGT cho cơ quan Thuế theo quy định là phù hợp.
Như vậy, tổng số tiền ông H phải thanh toán cho Công ty S 2.474.931.383 đồng
(2.249.937.457 đồng + 224.993.745 đồng). Ông H đã tạm ứng cho Công ty S số tiền
1.7000.000.000 đồng nên ông H phải tiếp tục thanh toán cho Công ty S số tiền thi công
theo hợp đồng là 774.931.383 đồng (2.474.931.383 đồng 1.700.000.000 đồng).
Tại phiên tòa phúc thẩm, Người đại diện theo ủy quyền của ông H cho rằng ông H
đã thanh toán cho Công ty S số tiền 1.700.000.000 đồng nhưng Công ty S chưa xuất hóa
đơn là không đúng, tuy nhiên theo quy định của pháp luật thì Công ty S chỉ xuất hóa đơn
10
khi biên bản nghiệm thu nhưng do ông H không chịu nghiệm thu công trình nên số
tiền trên chỉ tạm ứng nên chưa xuất hóa đơn như lời trình bày của Đại diện Công ty S
là có căn cứ.
[6] Đối với yêu cầu thanh toán tiền lãi của Công ty S:
Tại phiên tòa phúc thẩm, Người đại diện theo ủy quyền của ông H cho rằng Công
ty S chưa hoàn thành 100% khối lượng công việc nên theo Điều 8.2 của Hợp đồng thì
chưa đủ điều kiện để nghiệm thu công trình, do vậy ông H không phải thanh toán tiền lãi
chậm thực hiện nghĩa vụ. Tuy nhiên, Ngày 21/12/2017 Công ty S đã gửi công văn số
2112/2017/CV yêu cầu ông H tổ chức nghiệm thu công trình nhưng không nhận được sự
hợp tác của ông H nên lời trình bày của Người đại diện theo ủy quyền của ông H
không phù hợp.
Ngày 13/01/2018 Công ty S lập bảng tổng hợp giá trị quyết toán nhưng do các bên
không thống nhất nên Công ty S đơn khởi kiện đến Toà án ngày 27/3/2018 nên Tòa
án cấp thẩm chấp nhận yêu cầu tính lãi của Công ty S đối với số tiền ông H chậm
thanh toán từ ngày 27/3/2018 đến ngày ngày 16/9/2025 (Ngày xét xử sơ thẩm tương ứng
2.729 ngày) với mức lãi suất 10%/năm, cụ thể: tiền lãi chậm trả đối với số tiền chưa đến
hạn thanh toán 5% tiền bảo hành 43.744.074 đồng (437.440.740 đồng x 10%/năm) +
tiền lãi chậm trả hết thời hạn bảo hành là 356.178..776 đồng (549.937.621 đồng x
10%/năm/365 ngày x 2.364 ngày). Tổng số tiền lãi là: 399.922.850 đồng phù hợp quy
định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
[7] Tại phiên tòa phúc thẩm, Người đại diện theo ủy quyền của ông H cho rằng:
theo Bản án dân sự phúc thẩm số 122/2024/DS-PT ngày 19/6/2024 của Toà án nhân dân
thành phố Đà Nẵng đã xác định nguyên nhân thiệt hại do lỗi của cả Công ty S ông H,
mỗi bên 50% nên cần xem xét để buộc ông H phải trả tiền lãi chậm trả cho Công ty S
tương ứng với lỗi các bên. Tuy nhiên, Bản án dân sự phúc thẩm số 122/2024/DS-PT
ngày 19/6/2024 của Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng giải quyết yêu cầu bồi
thường thiệt hại cần xem xét đến lỗi các bên nhưng đối với vụ án này thì Công ty S yêu
cầu ông H thanh toán tiền thi công công trình tiền lãi do chậm nghĩa vụ thanh toán
nên lời trình y của Người đại diện theo ủy quyền của ông H không được chấp nhận.
Tại phiên tòa thẩm, ng ty S rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu
ông Duy H thanh toán số tiền giá trị chênh lệch phần nhân công đối với khối lượng
đã thi công nhưng chưa nghiệm thu thanh toán 267.111.558 đồng và yêu cầu trả chi
phí phát sinh lắp lan can hoa văn 2.000.0000 đồng nên Tòa án cấp thẩm đình chỉ
giải quyết đối với các yêu cầu này là có căn cứ.
Từ những nhận định trên, HĐXX thấy Tòa án cấp thẩm buộc ông Duy H
nghĩa vụ thanh toán cho Công ty S số tiền thi công theo hợp đồng 774.931.383 đồng
11
tiền lãi 399.922.850 đồng, tổng cộng 1.174.854.233 đồng căn cứ. Do vậy
không HĐXX không chấp nhận kháng cáo của ông Tô Duy H giữ nguyên nội dung
bản án sơ thẩm số 385/2025/DS-ST ngày 16 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu
vực 1 - Đà Nẵng.
Xét lời đnghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa không phù hợp với
nhận định của HĐXX nên không chấp nhận.
[8] Về án phí:
- Về án phí dân sự thẩm: Do buộc ông Duy H phải trả cho Công ty TNHH
Xây dựng Thương mại S số tiền 1.174.854.233 đồng nên ông Duy H phải chịu án
phí dân sự sơ thẩm là 36.000.000 đồng + (374.854.233 đồng x 3%) = 47.245.626 đồng.
Công ty TNHH Xây dựng Thương mại S không phải chịu án phí dân sự
thẩm. Hoàn trả cho Công ty TNHH Xây dựng và Thương mại S số tiền tạm ứng án phí
đã nộp là 31.038.004 đồng theo biên lai thu số 0004913 ngày 04 tháng 12 năm 2024 của
Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng (nay là Thi hành án dân
sự thành phố Đà Nẵng).
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Do không chấp nhận kháng cáo nên ông Duy H
phải chịu án phí dân sự phúc thẩm 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng
án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0003669 ngày 14 tháng 10 năm 2025
tại Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Căn cứ vào Điều 280 Bộ luật dân sự;
- Căn cứ các Điều 144, 145 và 146 Luật xây dựng
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường v
Quốc Hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chp nhn kháng cáo ca ông Tô Duy H. Giữ nguyên nội dung bản án
thẩm số 385/2025/DS-ST ngày 16 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 -
Đà Nẵng.
X:
1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện Công ty TNHH Xây dựng và Thương mại
S về việc yêu cầu ông Duy H thanh toán số tiền giá trị chênh lệch phần nhân
công đối với khối lượng đã thi công nhưng chưa nghiệm thu thanh toán là 267.111.558
đồng và yêu cầu trả chi phí phát sinh lắp lan can hoa văn là 2.000.0000 đồng.
12
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Xây dựng Thương mại S
đối với ông Tô Duy H.
Buộc ông Duy H phải thanh toán cho Công ty TNHH Xây dựng Thương
mại S số tiền phải thanh toán thợp đồng xây dựng 774.931.383 đồng tiền lãi từ
ngày 27/3/2018 đến ngày 16/9/2025 399.922.850 đồng, tổng cộng 1.174.854.233
đồng. (Một tỷ một trăm bảy mươi bốn triệu tám trăm năm mươi bốn ngàn hai trăm ba
mươi ba đồng).
Kể tngày án hiệu lực pháp luật, người được thi hành án đơn yêu cầu thi
hành án mà người nghĩa vụ thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì phải chịu
lãi suất đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do
chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt q
mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự; nếu không thỏa
thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
3. Về án phí:
- Về án phí dân sự thẩm: Án pdân sự thẩm ông Duy H phải chịu
47.245.626 đồng.
Công ty TNHH Xây dựng Thương mại S không phải chịu án phí dân sự
thẩm. Hoàn trả cho Công ty TNHH Xây dựng Thương mại S số tiền tạm ứng án phí
đã nộp là 31.038.004 đồng theo biên lai thu số 0004913 ngày 04 tháng 12 năm 2024 của
Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng (nay là Thi hành án dân
sự thành phố Đà Nẵng).
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Án phí dân sự phúc thẩm ông Duy H phải chịu
là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo
biên lai thu số 0003669 ngày 14 tháng 10 năm 2025 tại Thi hành án dân sự thành phố Đà
Nẵng.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự
thì người được thi hành án, người phải thi hành án quyền thỏa thuận thi hành án,
quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hánh án theo quy
định tại Điều 6, 7 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện
theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân s.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- TAND Khu vực 1 - Đà Nẵng;
- THADS thành phố Đà Nẵng;
- VKSND TP. Đà Nẵng;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký và đóng dấu)
13
- Lưu: Hồ vụ án (1b), Tổ nghiệp vụ - Văn
phòng (1b).
Vũ Việt Dũng
Tải về
Bản án số 02/2026/DS-PT Bản án số 02/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 02/2026/DS-PT Bản án số 02/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất