Bản án số 280/2024/DS-PT ngày 02/05/2024 của TAND tỉnh Bến Tre về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 280/2024/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 280/2024/DS-PT ngày 02/05/2024 của TAND tỉnh Bến Tre về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Bến Tre
Số hiệu: 280/2024/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 02/05/2024
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Lê Phúc H - Hoàng Thị H
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẾN TRE
Bản án số: 280/2024/DS-PT
Ngày: 02-5-2024
V/v tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất, hợp đồng ủy quyền và
hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm :
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Hồng;
Các Thẩm phán: Ông Bùi Quang Sơn;
Ông Lê Minh Đạt.
- Thư phiên tòa: Nguyễn Thị Diễm My - Thư ký Tòa án nhân dân
tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân
tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Ông
Nguyễn Khắc Phiên - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử
phúc thẩm công khai vụ án thụ số 24/2024/TLPT-DS ngày 22 tháng 01 năm
2024 về “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng ủy
quyền và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự thẩm số 121/2023/DS-ST ngày 03 tháng 10 năm 2023
của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 493/2024/QĐXXPT-DS
ngày 06 tháng 02 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:
Ông Lê Phúc H, sinh năm 1970; (có mặt)
Địa chỉ: Số A, ấp Đ, xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn ông Lê Phúc H:
2
Ông Tấn T - Luật sư, Văn phòng luật Tấn T, thuộc Đoàn Luật sư
tỉnh B; địa chỉ: Số A, N, khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Bến Tre. (có
mặt)
2. Bị đơn:
2.1 Bà Hoàng Thị H1, sinh năm 1964; (vắng mặt)
Địa chỉ: Số A, ấp Đ, xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre.
2.2 Ông Trần Nhứt D, sinh năm 1979;
Địa chỉ: Số A T, phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.
2.3 Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1995;
Địa chỉ: Ấp K, xã K, huyện M, tỉnh Bến Tre.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Nhứt D, bà Nguyễn Thị M (theo
văn bản ủy quyền ngày 07/3/2024):
Ông Thái Điền Đ, sinh năm 1975; địa chỉ thường trú: Số C L, phường E,
Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Địa chỉ liên hệ: Số B, ấp T, xã T, huyện M, tỉnh
Bến Tre. (có mặt)
2.4 Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1973; (có mặt)
Địa chỉ: Số F, ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.
2.5 Huỳnh Thị Vân T2, sinh năm 1971. (có yêu cầu giải quyết vắng
mặt).
Địa chỉ: Số A, khu phố B, phường F, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1 Ông Mai Dũng M1, sinh năm 1970. (có yêu cầu giải quyết vắng mặt).
Địa chỉ: Số A, khu phố B, phường F, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
3.2 Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1975; (có mặt)
Địa chỉ: Số F, ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.
3.3 Văn phòng C;
Địa chỉ: Số D, ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Bến Tre.
Người đại diện theo ủy quyền của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Văn phòng C (theo văn bản ủy quyền ngày 20/3/2024):
Ông Sanh Hồng T3, sinh năm 1982; địa chỉ: Ấp K, T, huyện C, tỉnh
Bến Tre. (có mặt)
3.4 Văn phòng Công chứng Nguyễn Văn T4; (vắng mặt)
Địa chỉ: Số G, đường N, phường A, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
3.5 Văn phòng Công chứng Nguyễn Văn M2; (vắng mặt)
Địa chỉ: Số A, ấp C, xã M, huyện G, tỉnh Bến Tre.
3.6 Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1 (VCB);
Trụ sở chính: Số A T, phường L, Quận H, Thành phố Hà Nội.
3
Đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Quang D1, Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng
quản trị.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Văn R - Giám đốc Ngân hàng
thương mại cổ phần N1 (V) chi nhánh B.
Ông Văn R ủy quyền cho ông Nguyễn Tấn T5 - Phó Trưởng phòng
khách hàng Ngân hàng thương mại cổ phần N1 (V) chi nhánh B tham gia tố tụng.
(có mặt)
- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn T1 bị đơn, Ngân hàng Thương mại
Cổ phần N1 (V) là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
- Kháng nghị: Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung bản án sơ thẩm;
Theo đơn khi kiện trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông
Phúc H trình bày:
Ông Hoàng Thị H1 vợ chồng kết hôn vào năm 1992, tài sản chung
của ông H1 quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà trên thửa đất số 197, tờ
bản đồ số 26, diện tích 1.004,6m
2
, tại H, huyện C, tỉnh Bến Tre do UBND
huyện C, tỉnh Bến Tre cấp cho bà Hoàng Thị H1 và Lê Phúc H vào ngày
20/10/2008, hiện vợ chồng ông đang sinh sống quản phần đất này. Nguồn gốc
phần đất là từ bà Nguyễn Thị Anh Đ1 tặng cho vợ chồng ông.
Ngày 15/8/2019 Nguyễn Thị M hợp đồng chuyển nhượng phần đất
thửa số 197, tờ bản đồ số 26, diện tích 1.004,6m
2
cho ông Trần Nhứt D tại phòng
công chứng Nguyễn Văn T4 với giá 50.000.000 đồng, nhưng nhà đất do ông
quản lý, sử dụng và canh tác, ông không biết gì về việc chuyển nhượng này.
Năm 2019 do ông bị bệnh đau khớp đau cột sống, viêm mắt, viêm mũi nên
phải đi điều trị tại phòng Đ2 - B, B, C, tỉnh An Giang, ngày 06/6/2019 ông không
mặt nhà. Năm 2020 ông bị bệnh viêm xoan hàm nạm tính phải phẩu thuật
nằm viện từ ngày 11/8/2020 - 14/8/2020 sau khi ra viện ông mới hay nhà đất đã bị
bán, ông hỏi H1 (vợ ông) thì bảo không bán, nên ông đến Chi
nhánh Văn phòng Đăng đất đai huyện C, tỉnh Bến Tre xin trích lục sự biến
động đối với phần đất thửa số 197 thì được biết thửa 197 đã chuyển nhượng cho
ông D.
Việc chuyển nhượng này từ hợp đồng ủy quyền được lập chứng thực chữ
ký tại Văn phòng C vào ngày 13/6/2019, trong hợp đồng ủy quyền thể hiện: người
ủy quyền ông Lê Phúc H và bà Hoàng Thị H1; người nhận ủy quyền là bà Nguyễn
4
Thị M nhưng chữ và dấu vân tay trong hợp đồng này ông xác định không phải
của ông và ông xác định ông chưa từng đến Văn phòng công chứng tên
lăn tay vào văn bản nào. Hợp đồng ủy quyền số 2130, quyển số 01/2019/TP/CC-
SCC/HĐGD ngày 13/6/2019 tại văn phòng C người giả mạo lăn dấu
tay cho người đứng tên Lê Phúc H.
Ngày 14/01/2019, ông Trần Nhứt D và vợ là Nguyễn Thị M lập hợp đồng
chuyển nhượng phần đất nêu trên cho Huỳnh Thị Vân T2 tại văn phòng C
Nguyễn Văn T4 với giá là 100.000.000 đồng.
Ngày 07/7/2020, bà Huỳnh Thị Vân T2 chồng Mai Dũng M1 làm hợp
đồng ủy quyền cho Hoàng Thị H1 được tròn quyền chuyển nhượng, thế chấp,
nhận tiền chuyển nhượng đối với phần đất nêu trên tại Văn phòng công chứng
Nguyễn Văn M2.
Ngày 07/7/2020, Hoàng Thị H1 làm hợp đồng chuyển nhượng phần đất
trên cho ông Nguyễn Văn T1 tại Văn phòng C với giá là 150.000.000 đồng.
Vì vậy ông yêu cầu Tòa án giải quyết:
Hủy hợp đồng ủy quyền quyển số 01/2019/TP/CC/HĐGD ngày 13/6/2019
tại Văn phòng C giữa vợ chồng bà Hoàng Thị H1 và ông Lê Phúc H ủy quyền cho
Nguyễn Thị M.
Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 3851, quyển số
01/PT/CC-SCC/HĐGD ngày 15/8/2019 tại Văn phòng C giữa Nguyễn Thị M
chuyển nhượng cho ông Trần Nhứt D.
Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 7310 quyển số
01/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 14/11/2029 tại Văn phòng công chứng Nguyễn Văn
T4 giữa vợ chồng Nguyễn Thị M, ông Trần Nhứt D chuyển nhượng cho
Huỳnh Thị Vân T2.
Hủy hợp đồng ủy quyền quyển số 1392, quyển số 03/TP/CC-SCC/HĐGD
ngày 07/7/2020 tại Văn phòng công chứng Nguyễn Văn M2 giữa v chồng
Huỳnh Thị Vân T2, ông Mai Dũng M1 ủy quyền cho bà Hoàng Thị H1.
Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 1393, quyển số
03/TP/CC- SCC/HĐGD ngày 07/7/2020 tại Văn phòng công chứng Nguyễn Văn
T4 giữa bà Huỳnh Thị Vân T2, ông Mai Dũng M1 ủy quyền cho bà Hoàng Thị H1
chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn T1.
Yêu cầu ông Nguyễn Văn T1 giao trả lại phần đất thửa số 197, tờ số 26,
diện tích 1.004,6m
2
tại xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre.
Kiến nghị quan nhà nước thẩm quyền điều chỉnh giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số CS837507 đối với thửa đất số 197, tờ số 26, diện tích
5
1.004,6m
2
tại H, huyện C, tỉnh Bến Tre cho phù hợp với quyết định giải quyết
của Tòa án.
Hủy hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 082/NHNG - BT/TC20 lập
ngày 27/8/2020 giữa ông Nguyễn Văn T1, Nguyễn Thị N thế chấp quyền sử
dụng đất cho ngân hàng Thương mại cổ phần N1 - Chi nhánh B - Phòng G.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn
Nguyễn Thị M, ông Trần Nhứt D trình bày:
Giấy ủy quyền được xác lập vào ngày 13/6/2019 tại Văn phòng C về trình
tự đúng theo quy định. Cụ thể ông H H1 đã ủy quyền cho M tròn
quyền quyết định về tài sản.
Qua vụ việc này ông yêu cầu Tòa án chuyển hồ sang quan điều tra về
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà H1 với bà M, Hành giả
chữ của ông H các giấy tờ liên quan nhằm lừa dối các quan nhà nước
trong vụ án này. Trường hợp Tòa án tuyên hợp đồng chuyển nhượng này
tuyên vô hiệu một phần vì bà H1 là vợ của ông H.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Huỳnh Thị Vân T2 trình bày:
Việc chuyển nhượng giữa T2 với M, ông D2 đúng trình tự, thủ tục
hợp đồng y quyền của T2 với H1 theo quy định của pháp luật. T2
không tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa 197, tờ bản đồ
số 26 nên xin vắng mặt các phiên tòa không liên quan đến thửa đất nêu trên.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Văn T1 trình bày:
Vào ngày 07/7/2020, ông nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa
197, tờ bản đồ số 26 của Huỳnh Thị Vân T2, ông Mai Dũng M1 với giá nhận
chuyển nhượng 5.020.000.000 đồng, nhưng do H1 kết hợp đồng chuyển
nhượng theo văn bản ủy quyền giữa ông M1, T2 với H1. Sau đó H1 lập
hợp đồng thuê nhà đất thửa 197, tbản đồ 26 của ông để sinh sống trong thời
gian H1 xây dựng nhà chỗ khác, thời gian thuê 01 năm tính t ngày
30/7/2021. Thời gian sau, H1 điện thoại cho ông đ trả nhà đất. Tuy
nhiên khi ông đến thửa đất thì ông H cho rằng ông không chuyển nhượng
không đồng ý giao đất cho ông. Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ T2,
ông M1 sang cho ông đúng quy định pháp luật, ông đã được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất nên ông đề nghị công nhận hợp đồng giữa ông với bà T2,
ông M1.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng công chứng Hùng D3 ông Lê Sanh
Hồng T3 trình bày:
6
Ngày 13/6/2019, Văn phòng tiếp nhận hồ sơ công chứng hợp đồng ủy quyền
giữa Hoàng Thị H1, ông Phúc H với Nguyễn Thị M đối với thửa đất số
197, tờ bản đồ số 26. Sau khi tiếp nhận đầy đủ thông tin, văn phòng soạn thảo hợp
đồng ủy quyền theo yêu cầu của hai bên. Lúc soạn thảo xong hai bên đọc lại đồng
ý toàn bộ nội dung và ký tên vào hợp đồng. Tại thời điểm ký hợp đồng, văn phòng
nhiều khách hàng nên đã sơ xuất trong khâu kiểm tra lần cuối về con người
tên trong văn bản nên H1 đã tráo người vào tên thay ông Phúc H. Ông
khẳng định việc hợp đồng ủy quyền ngày 13/6/2019 đúng, ông không vụ lợi
chỉ thu phí theo quy định.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Văn phòng công chứng Nguyễn Văn M2, Văn phòng công chứng Nguyễn Văn T4:
yêu cầu vắng mặt trong các phiên hòa giải, công khai chứng cứ xét
xử, không có lời trình bày.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
ông Mai Dũng M1 trình bày:
Việc chuyển nhượng giữa bà T2 ông với vợ chồng bà M, ông D2 là đúng
trình tự, thủ tục và hợp đồng ủy quyền giữa bà T2 với bà H1 là đúng theo quy định
của pháp luật. Bà T2 ông không tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất thửa 197, tờ bản đồ số 26 nên xin vắng mặt các phiên tòa liên quan đến
thửa đất nêu trên.
Theo đơn yêu cầu độc lập trong quá trình giải quyết vụ án, người đại
diện theo ủy quyền của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng thương
mại cổ phần N1 trình bày:
Ngày 27/8/2020, ông Nguyễn Văn T1 đề nghị vay hợp đồng vay
từng lần trung dài hạn với Ngân hàng số tiền 2.500.000.000 đồng, thời hạn vay 24
tháng, mục đích vay đđắp tiền mua đất tại thửa đất số 197, tbản đồ số 26.
Để đảm bảo khoản vay, ông T1 đã đồng ý thế chấp toàn bộ quyền sử dụng đất
tài sản trên đất thửa 197, tờ bản đồ số 26. Tại thời điểm ngân hàng nhận thế chấp
quyền sử dụng đất nêu trên không phát sinh tranh chấp, ngăn chặn, đồng thời tài
sản quyền sdụng đất đã được giao dịch, đăng thế chấp theo đúng quy định
pháp luật.
vậy, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu công nhận hợp đồng thế chấp quyền
sử dụng đất số 082/NHNT-BT/TC20 ngày 27/8/2020, phụ lục sửa đổi, bổ sung
Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 01/PL/082/NHNT-BT/TC20 ngày
01/9/2020 hợp pháp. Trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn, ngân hàng yêu cầu buộc ông Nguyễn Văn T1, Nguyễn Thị N trả
toàn bộ phần dư nợ vay theo hợp đồng cho vay số 089/VCB-BT/20CD.
7
Do hòa giải không thành, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành đã đưa vụ án
ra xét xử.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 121/2023/DS-ST ngày 03 tháng 10 năm 2023
của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành đã tuyên:
Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều
39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 117, 122, 131, 133, 500, Điều 503, 562 Bộ luật
dân sự năm 2015, Điều 100, 105, Điều 166, Điều 167 Luật đất đai năm 2013:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện nguyên đơn ông Lê Phúc H: tuyên bố hợp
đồng uỷ quyền ngày 13/6/2019 giữa Hoàng Thị H1, ông Phúc H với
Nguyễn Thị M; hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 15/8/2019 giữa
ông Lê Phúc H, Hoàng Thị H1 với ông Trần Nhứt D (do bà Nguyễn Thị M ký);
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 14/11/2019, giữa ông Trần
Nhứt D, bà Nguyễn Thị M với bà Huỳnh Thị Vân T2 vô hiệu.
Buộc Hoàng Thị H1 trả cho ông Trần Nhứt D, Nguyễn Thị M số tiền
50.000.000 đồng đã nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Buộc ông Trần Nhứt D, Nguyễn Thị M trả cho Huỳnh Thị Vân T2
ông Mai Dũng M1 số tiền 100.000.000 đồng đã nhận chuyển nhượng.
Buộc Huỳnh Thị Vân T2 ông Mai Dũng M1 trách nhiệm trả cho
ông Nguyễn Văn T1 150.000.000 đồng đã nhận chuyển nhượng quyền sử dụng
đất.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc huỷ hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất ngày 07/7/2020 giữa Huỳnh Thị Vân T2, ông Mai
Dũng M1 với ông Nguyễn Văn T1 và huỷ hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất s
082/NHNT-BT/TC20 ngày 27/8/2020 giữa ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị N
thế chấp cho Ngân hàng thương mại cổ phần N1 - Chi nhánh B - Phòng G.
Không chấp nhận yêu cầu độc lập của Ngân hàng Thương mại cổ phần N1 -
Chi nhánh B - Phòng G: Về việc Công nhận hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất
số 082/NHNT-BT/TC20 ngày 27/8/2020, phụ lục sửa đổi bổ sung Hợp đồng thế
chấp QSD đất số 01/PL/082/NHNT-BT/TC20 ngày 01/9/2020 là hợp pháp.
Buộc ông Nguyễn Văn T1 Nguyễn Thị N liên đới hoàn trả cho Ngân
hàng TMCP N1 - Chi nhánh B - Phòng G số tiền vốn vay là 2.145.720.000 đồng.
Kiến nghị Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh B thu hồi giấy chứng nhận
quyền sdụng đất đã cấp cho ông Nguyễn Văn T1 thửa số 197, tờ 26, diện tích
1.004,6 m
2
tại H, huyện C, tỉnh Bến Tre số CX 270563 vào sổ cấp GCN:
CS16927, để cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lê Phúc H.
8
Ngoài ra, Bản án còn tuyên về lãi chậm trả, án phí, chi phí tố tụng quyền
kháng cáo của các đương sự.
Ngày 10/10/2023, bị đơn ông Nguyễn Văn T1 kháng cáo bản án thẩm.
Nội dung kháng cáo ông T1 yêu cầu cấp phúc thẩm:
- Xem xét nếu H1 dấu hiệu của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, thì yêu
cầu hủy bản án thẩm chuyển hồ sang qaun cảnh sát điều tra công an
tỉnh B giải quyết theo thẩm quyền.
- Nếu bà H1 không dấu hiệu của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, thì yêu
cầu sửa bản án sơ thẩm, xét xử theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn ông H.
Ngày 16/10/2023, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng TMCP
N1 kháng cáo bản án thẩm. Theo nội dung kháng cáo, ngân hàng yêu cầu cấp
phúc thẩm sửa bản án thẩm, xét xtheo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn ông H, công nhận hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số
082/NHNT-BT/TC20 ngày 27/8/2020, phụ lục sửa đổi bổ sung Hợp đồng thế chấp
quyền sử dụng đất số 01/PL/082/NHNT-BT/TC20 ngày 01/9/2020 là hợp pháp.
Buộc ông Nguyễn Văn T1 Nguyễn Thị N tiếp tục thực hiện nghĩa vụ
trả nợ vay cho Ngân hàng theo hợp đồng tín dụng đã ký kết với ngân hàng.
Ngày 31/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre có quyết định kháng
nghị phúc thẩm số 10/QĐ-VKS-DS:
- Kháng nghị Bản án dân sự thẩm số: 121/2023/DS-ST ngày 03 tháng 10
năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành theo thủ tục phúc thẩm.
- Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét x phúc thẩm vụ án theo
hướng: Sửa một phần Bản án dân sự thẩm số: 121/2023/DS-ST ngày 03 tháng
10 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, cụ thể: Không chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông H vviệc huỷ hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất ngày 07/7/2020 giữa Huỳnh Thị Vân T2, ông Mai Dũng M1
với ông Nguyễn Văn T1 huỷ hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số
082/NHNT-BT/TC20 ngày 27/8/2020 giữa ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị N
thế chấp cho Ngân hàng thương mại cổ phần N1 - Chi nhánh B - Phòng G.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị đơn ông Nguyễn Văn T1 giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng TMCP N1 giữ nguyên
nội dung đơn kháng cáo.
9
Nguyên đơn ông H không đồng ý với kháng cáo của ông T1 Ngân hàng
TMCP N1. Ông H không yêu cầu Văn phòng C bồi thường thiệt hại yêu cầu
cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Hợp
đồng chuyển nhượng giữa bà T2, ông M1 với ông T1 hiệu nên Hợp đồng thế
chấp giữa ông T1 với Ngân hàng cũng hiệu. Đề nghị Hội đồng xét xử giữ
nguyên bản án sơ thẩm.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Trần Nhứt D, bà Nguyễn Thị
M là ông Thái Điền Đ trình bày: Đối với kháng cáo của ông T1 Ngân hàng thì
ông yêu cầu giải quyết theo quy định pháp luật.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị N đồng ý với kháng
cáo của ông T1 và Ngân hàng.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng công chứng Hùng
D3 yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Theo đại diện của Văn
phòng C thì việc phát sinh tranh chấp của các bên xuất phát từ hoạt động của Văn
phòng C suất trong kiểm tra người thực hiện giao dịch công chứng tại Văn
phòng.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa phát
biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng đã tuân theo đúng các quy định
của pháp luật tố tụng, những người tham gia tố tụng thực hiện đúng quyền
nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309
của Bộ luật Tố tụng dân snăm 2015, chấp nhận kháng nghị số 10/QĐ-VKS-DS
ngày 31/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre. Chấp nhận kháng cáo
của ông Nguyễn Văn T1 và Ngân hàng thương mại cổ phần N1. Sửa một phần
Bản án dân sự thẩm số: 121/2023/DS-ST ngày 03 tháng 10 năm 2023 của Tòa
án nhân dân huyện Châu Thành, cụ thể: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn ông H về việc huỷ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày
07/7/2020 giữa bà Huỳnh Thị Vân T2, ông Mai Dũng M1 với ông Nguyễn Văn T1
và huỷ hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 082/NHNT-BT/TC20 ngày
27/8/2020 giữa ông Nguyễn Văn T1, Nguyễn Thị N thế chấp cho Ngân hàng
thương mại cổ phần N1 - Chi nhánh B - Phòng G.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
10
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án đã được thẩm tra
công khai tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa; ý kiến đề nghị của Kiểm
sát viên; xét kháng cáo của ông Nguyễn Văn T1 Ngân hàng thương mại cổ
phần N1 (Ngân hàng); xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre;
Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Xác định quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn ông H yêu cầu hủy các
hợp đồng ủy quyền, hủy hợp đồng thế chấp, ngân hàng yêu cầu công nhận hợp
thế chấp quyền sử dụng đất. Cấp thẩm xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án
tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất chưa đầy đủ, thiếu
tranh chấp về hợp đồng y quyền, hợp đồng thế chấp. Tuy nhiên, trong quá trình
giải quyết vụ án, cấp thẩm đã xem xét, giải quyết tất cả các yêu cầu nên không
ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Do đó, đối với thiếu sót
này, cấp phúc thẩm bsung thêm quan hệ tranh chấp “Tranh chấp hợp đồng ủy
quyền, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất”.
[1.2] Bị đơn ông Nguyễn Văn T1, người quyền lợi, nghĩa vliên quan
Ngân hàng thương mại cổ phần N1 kháng cáo; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến
Tre kháng nghị thực hiện các thủ tục kháng cáo, kháng nghị hợp lệ, trong thời
hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung:
Nguyên đơn ông H yêu cầu:
Hủy hợp đồng ủy quyền quyển số 01/2019/TP/CC/HĐGD ngày 13/6/2019
tại Văn phòng C giữa vợ chồng bà Hoàng Thị H1 và ông Lê Phúc H ủy quyền cho
Nguyễn Thị M.
Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 3851, quyển số
01/PT/CC-SCC/HĐGD ngày 15/8/2019 tại Văn phòng C giữa Nguyễn Thị M
chuyển nhượng cho ông Trần Nhứt D.
Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 7310 quyển số
01/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 14/11/2029 tại Văn phòng công chứng Nguyễn Văn
T4 giữa vợ chồng Nguyễn Thị M, ông Trần Nhứt D chuyển nhượng cho
Huỳnh Thị Vân T2.
Hủy hợp đồng ủy quyền quyển số 1392, quyển số 03/TP/CC-SCC/HĐGD
ngày 07/7/2020 tại Văn phòng công chứng Nguyễn Văn M2 giữa v chồng
Huỳnh Thị Vân T2, ông Mai Dũng M1 ủy quyền cho bà Hoàng Thị H1.
Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 1393, quyển số
03/TP/CC- SCC/HĐGD ngày 07/7/2020 tại Văn phòng công chứng Nguyễn Văn
11
T4 giữa bà Huỳnh Thị Vân T2, ông Mai Dũng M1 ủy quyền cho bà Hoàng Thị H1
chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn T1.
Hủy hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 082/NHNG - BT/TC20 lập
ngày 27/8/2020 giữa ông Nguyễn Văn T1, Nguyễn Thị N thế chấp quyền sử
dụng đất cho ngân hàng Thương mại cổ phần N1 - Chi nhánh B - Phòng G.
Bị đơn ông D, M, bà T2 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông H,
các ông bà cho rằng các hợp đồng đã ký kết là đúng quy định pháp luật.
Bị đơn ông T1 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông H, ông cho rằng
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã ký kết vào ngày 07/7/2020 là đúng
quy định pháp luậtông T1 đã thế chấp thửa đất cho ngân hàng để đảm bảo cho
khoản vay nên ông T1 yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất giữa ông với vợ chồng bà T2, ông M1.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng TMCP N1 yêu cầu
công nhận hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 082/NHNG - BT/TC20 lập
ngày 27/8/2020 giữa ông Nguyễn Văn T1, Nguyễn Thị N thế chấp quyền sử
dụng đất diện tích 1.004,6m
2
tại H, huyện C, tỉnh Bến Tre cho Ngân hàng
TMCP N1.
Xét kháng cáo của ông Nguyễn Văn T1 và Ngân hàng TMCP N1:
[2.1] Xét Hợp đồng uỷ quyền ngày 13/6/2019 giữa bên ủy quyền Hoàng
Thị H1, ông Lê Phúc H với bên được ủy quyền bà Nguyễn Thị M đối với phần đất
thuộc thửa 197, tờ bản đồ s26, diện tích 1.004,6 m
2
tọa lạc tại H, huyện C,
tỉnh Bến Tre, HĐXX xét thấy:
Ông H H1 tổ chức đám cưới năm 1992, đến ngày 26/6/2004 đăng
kết hôn tại Ủy ban nhân dân H, huyện C, tỉnh Bến Tre. Đến ngày 20/10/2008,
Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 197, tờ
bản số 26, đất tọa lạc tại xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre cho ông H H1. Do đó
xác định đây là tài sản chung của ông H và bà H1.
Ngày 13/6/2019, Nguyễn Thị M đứng tên nộp phiếu yêu cầu công chứng
hợp đồng uỷ quyền và ký nhận vào phiếu yêu cầu công chứng cùng với bà H1, ông
H tại văn phòng công chứng Hùng D3. Cùng ngày công chứng viên đã chứng
nhận hợp đồng uỷ quyền giữa ông H, bà H1 cùng với bà M. Tuy nhiên, căn cứ vào
Kết luận giám định số: 258/2022/KL-KTHS ngày 07/7/2022 của Phòng K - Công
an tỉnh B thì chữ và dấu vết đường vân trong hợp đồng uỷ quyền được công
chứng ngày 13/6/2019 với tài liệu mẫu so sánh (Phúc H) không phải do một
người ra. Từ đó sở khẳng định hợp đồng uỷ quyền ngày 13/6/2023 được
công chứng tại văn phòng công chứng Hùng D3 không phải do ông Phúc H
12
tên lăn tay. Theo quy định tại Điều 130, 213 của Bộ luật Dân sự, Điều 29,
Điều 35 của Luật hôn nhân gia đình; giải đáp s 196/TANDTC-PC ngày
03/10/2023 của Tòa án nhân dân Tối Cao thì “việc định đoạt tài sản chung của vợ
chồng là bất động sản phải do hai vợ chồng thỏa thuận hoặc phải sự thỏa thuận
bằng văn bản của vợ chồng. Do đó, trong trường hợp vchồng không thỏa
thuận định đoạt tài sản chung hoặc không có văn bản thỏa thuận phân chia tài sản;
chỉ có một bên vợ hoặc chồng tham gia ký kết hợp đồng tặng cho, chuyển nhượng,
thế chấp... bên còn lại không tham gia kết, không đồng ý thì hợp đồng đó
hiệu toàn bộ”. Do đó, hợp đồng uquyền ngày 13/6/2019 giữa Hoàng Thị H1,
ông Phúc H với Nguyễn Thị M hiệu toàn bộ theo quy định tại Điều 122
của Bộ luật Dân sự.
[2.2] Xét hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 15/8/2019 giữa
bên chuyển nhượng Hoàng Thị H1, ông Phúc H (do Nguyễn Thị M
người đại diện cho H1, ông H) với bên nhận chuyển nhượng ông Trần Nhứt D
nhận thấy:
Về hình thức: Hợp đồng được công chứng tại quan thẩm quyền. Khi
giao kết hợp đồng, cả hai bên đều là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự theo
quy định pháp luật.
Về nội dung: Việc M chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên sở hợp
đồng uỷ quyền giữa ông H, H1 với M. Tuy nhiên, như HĐXX đã nhận định
tại mục [2.1] thì hợp đồng uỷ quyền ngày 13/6/2019 vô hiệu nên hợp đồng chuyển
nhượng quyền sdụng đất ngày 15/8/2019 giữa ông H, H1 với ông Trần Nhứt
D là vô hiệu.
[2.3] Đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 14/11/2019,
giữa bên chuyển nhượng ông Trần Nhứt D, Nguyễn Thị M với bên Huỳnh
Thị Vân T2. Xét thấy, mặc hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất tuân
thủ quy định về hình thức, T2 người nhận chuyển nhượng, không liên quan
trực tiếp đến hợp đồng uỷ quyền ngày 13/6/2019. Tuy nhiên từ sau khi hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, bà T2 không vào quản lý sử dụng đất, mà
người đang trực tiếp quản sử dụng đất ông H. Hơn nữa, người chuyển
nhượng quyền sử dụng đất cho T2 ông D và vợ M, trong khi M
người nhận uỷ quyền của H1, ông H đkết hợp đồng với ông D cho nên
M người biết về hợp đồng uỷ quyền không phải do ông H ký nhưng ngày
14/11/2019, bà M ông D vẫn hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
cho Huỳnh Thị Vân T2. Do đó, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
ngày 14/11/2019 vô hiệu theo quy định tại Điều 127 của Bộ luật dân sự.
13
Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án, ông D, M chỉ trình bày
nhận tiền chuyển nhượng từ T2 với số tiền 2.000.000.000 đồng, không cung
cấp chứng cứ nào khác. Trong quá trình giải quyết vụ án bà T2, ông M1 khẳng
định việc nhận chuyển nhượng từ ông D, M việc T2, ông M1 ủy quyền
cho H1 đúng theo quy định pháp luật vắng mặt trong suốt quá trình giải
quyết vụ án.
[2.4] Xét hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất ngày 07/7/2020 giữa
bên chuyển nhượng Huỳnh Thị Vân T2, ông Mai Dũng M1 (do Hoàng Thị
H1 đại diện theo ủy quyền ký hợp đồng) với bên nhận chuyển nhượng ông
Nguyễn Văn T1, HĐXX xét thấy:
Về hình thức: Hợp đồng được công chứng tại quan thẩm quyền. Khi
giao kết hợp đồng, cả hai bên đều là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự theo
quy định pháp luật.
Về nội dung hợp đồng: Xét hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
ngày 07/7/2020 giữa Huỳnh Thị Vân T2, ông Mai Dũng M1 (Do H1 đại
diện theo ủy quyền) với ông Nguyễn Văn T1, thấy rằng: Hợp đồng được tuân thủ
theo quy định của pháp luật, đủ điều kiện chuyển nhượng, ông T1 đã thực hiện
xong việc giao nhận số tiền chuyển nhượng cho T2 ông M1
5.020.000.000 đồng. Khi thực hiện nhận chuyển nhượng đất ông T1 có tìm hiểu và
biết được thửa 197, tờ bản đồ số 26, diện tích 1.004,6m
2
, tọa lạc H, huyện C,
tỉnh Bến Tre T2 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp vào
ngày 16/12/2019. vậy, ông T1 không thể biết không buộc phải biết những
giao dịch trước đó bị vô hiệu; đồng thời vào ngày 30/7/2020, ông T1 đã thỏa thuận
ký hợp đồng thuê nhà và đất với bà H1, thể hiện ông T1 đã thực hiện sự quản lý về
tài sản được nhận chuyển nhượng bao gồm đất tài sản trên đất, được hưởng
quyền về tài sản, mục đích giao dịch trong trường hợp này đã đạt được.
Do đó, đủ căn cứ xác định ông T1 người thứ ba ngay tình nên hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 07/7/2020 giữa T2 ông M1
với ông T1 không bị vô hiệu theo quy định tại khoản 2 Điều 133 Bộ luật Dân sự
quy định về bảo vệ người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự bị hiệu
Trường hợp giao dịch dân sự hiệu nhưng tài sản đã được đăng ký tại quan
nhà nước thẩm quyền, sau đó được chuyển giao bằng một giao dịch dân sự
khác cho người thứ ba ngay tình và người này căn cứ vào việc đăng đó xác
lập, thực hiện giao dịch thì giao dịch đó không bị vô hiệu”.
[2.5] Do hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 07/7/2020 giữa
T2 ông M1 với ông T1 không bhiệu nên hợp đồng thế chấp quyền sử
14
dụng đất số 082/NHNT-BT/TC20 ngày 27/8/2020; phụ lục sửa đổi bổ sung Hợp
đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 01/PL/082/NHNT-BT/TC20 ngày 01/9/2020
giữa ông T1 với Ngân hàng Thương mại cổ phần N1 có hiệu lực.
[2.6] Trong vụ án này vợ chồng ông D, M, vợ chồng ông M1, T2
không có yêu cầu phản tố hay yêu cầu độc lập và các đương sự cũng không có yêu
cầu Văn phòng C bồi thường thiệt hại nên Tòa án không xem xét. Các đương s
ông D, bà M, vợ chồng ông M1, bà T2 cũng không có kháng cáo nên Hội đồng xét
xử phúc thẩm không xem xét.
Các đương sự quyền khởi kiện bằng một v án khác để yêu cầu giải
quyết hậu quả của hợp đồng.
[2.7] Từ những nhận định trên xét thấy Tòa án cấp thẩm xem xét, đánh
giá chứng cứ không toàn diện, dẫn đến bản án tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn về việc hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất ngày
07/7/2020 giữa bà Huỳnh Thị Vân T2 và ông Mai Dũng M1 với ông Nguyễn Văn
T1 hủy hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 082/NHNT-BT/TC20 ngày
27/8/2020 giữa ông Nguyễn Văn T1 Nguyễn Thị N (vợ ông T1) thế chấp
cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1 - Chi nhánh B - Phòng G không phù
hợp nên sửa một phần bản án sơ thẩm.
[3] Ông T1 Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1 kháng cáo căn cứ
nên Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo.
[4] Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre về việc đề nghị
cấp phúc thẩm: Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số: 121/2023/DS-ST ngày 03
tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành như Hội đồng xét xử
phúc thẩm đã phân tích trên là có cơ sở nên được chấp nhận.
[5] Quan điểm của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn
là không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.
[6] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre là phù hợp
với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[7] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do sửa án nên cấp phúc thẩm điều chỉnh lại
về án phí các đương sự phải chịu cho phù hợp.
[8] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên ông T1
Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
15
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn T1 Ngân hàng Thương mại
Cổ phần N1.
Chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 10/QĐ-VKS-DS ngày
31/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre.
Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 121/2023/DS-ST ngày 03 tháng 10
năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.
Căn cứ các điều 147, 148, 157, 165 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các điều 117, 122, 131, 133, 500, 503, 562 của Bộ luật Dân sự,
các điều 100, 105, 166, 167 của Luật đất đai năm 2013; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định vmức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phúc H,
cụ thể:
Tuyên bố hợp đồng uỷ quyền ngày 13/6/2019 giữa Hoàng Thị H1, ông
Phúc H với Nguyễn Thị M; hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
ngày 15/8/2019 giữa ông Phúc H, bà Hoàng Thị H1 với ông Trần Nhứt D (do
Nguyễn Thị M ); hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày
14/11/2019 giữa ông Trần Nhứt D, Nguyễn Thị M với Huỳnh Thị Vân T2
đối với thửa đất số 197, tờ bản đồ số 26, diện tích 1.004,6m
2
, tolạc tại H,
huyện C, tỉnh Bến Tre là vô hiệu.
Buộc Hoàng Thị H1 trả cho ông Trần Nhứt D, Nguyễn Thị M số tiền
50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) đã nhận chuyển nhượng quyền sử dụng
đất.
Buộc ông Trần Nhứt D, Nguyễn Thị M trả cho Huỳnh Thị Vân T2
ông Mai Dũng M1 số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng) đã nhận
chuyển nhượng.
Kể tkhi bản án hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày đơn yêu cầu thi
hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản
tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn
phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự
năm 2015.
16
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phúc H về
việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày
07/7/2020 giữa bà Huỳnh Thị Vân T2, ông Mai Dũng M1 với ông Nguyễn Văn T1
đối với thửa đất số 197, tờ bản đồ số 26, diện tích 1.004,6m
2
, tolạc tại H,
huyện C, tỉnh Bến Tre là vô hiệu và yêu cầu huỷ hợp đồng thế chấp quyền sử dụng
đất số 082/NHNT-BT/TC20 ngày 27/8/2020 giữa ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn
Thị N thế chấp cho Ngân hàng thương mại cổ phần N1 - Chi nhánh B - Phòng G
đối với thửa đất số 197, tờ bản đồ số 26, diện tích 1.004,6m
2
, tolạc tại H,
huyện C, tỉnh Bến Tre.
Buộc ông Phúc H, Hoàng Thị H2 phải nghĩa vụ giao diện tích
1.004,6m
2
đất toàn bộ công trình, kiến trúc, cây trồng trên đất (theo biên bn
định giá tài sản ngày 11/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành) thuộc
thửa đất số 197, tờ bản đồ số 26, toạ lạc tại H, huyện C, tỉnh Bến Tre cho ông
Nguyễn Văn T1 quản lý, sử dụng. (có họa đồ hiện trạng sử dụng đất kèm theo).
3. Chấp nhận yêu cầu độc lập của Ngân hàng Thương mại cổ phần N1 về
việc công nhận hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 082/NHNT-BT/TC20
ngày 27/8/2020, phụ lục sửa đổi bổ sung Hợp đồng thế chấp QSD đất số
01/PL/082/NHNT-BT/TC20 ngày 01/9/2020 là hợp pháp.
4. Về chi phí tố tụng 16.601.000 đồng, ông H tự nguyện chịu và đã nộp
xong.
5. V án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Phúc H phải chịu stiền án phí tổng cộng 600.000đ (sáu trăm
nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông H đã nộp
tổng cộng 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ
phí Tòa án số 0007965 ngày 11/6/2021 0000653 ngày 25/8/2023 của Chi cục
Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Ông H đã nộp đủ án phí.
- Bà Hoàng Thị H1 phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí.
- Ông Trần Nhứt D, Nguyễn Thị M phải liên đới chịu 300.000đ (ba trăm
nghìn đồng) án phí.
- Ông Mai Dũng M1, bà Huỳnh Thị Vân T2 phải liên đới chịu 300.000đ (ba
trăm nghìn đồng) án phí.
- Hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần N1 số tiền tạm ứng án
phí đã nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ
phí Tòa án số 0000655 ngày 25/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện
Châu Thành, tỉnh Bến Tre.
17
- Ông Nguyễn Văn T1 Nguyễn Thị N không phải chịu án phí dân s
sơ thẩm.
6. Về án phí dân sự phúc thẩm:
- Hoàn trả lại cho ông Nguyễn Văn T1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp
300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí s0000771 ngày
10 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh
Bến Tre.
- Hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1 số tiền tạm ứng án
phí đã nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số
0000885 ngày 23 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu
Thành, tỉnh Bến Tre.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án
dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án quyền thỏa thuận thi
hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tnguyện thi hành án hoặc bcưỡng chế thi
hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b 9 của Luật thi hành án dân sự;
thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND tỉnh Bến Tre;
- TAND huyện Châu Thành;
- Chi cục THADS huyện Châu Thành;
- Phòng KTNV&THA TAND tỉnh;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thế Hồng
Tải về
Bản án số 280/2024/DS-PT Bản án số 280/2024/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 280/2024/DS-PT Bản án số 280/2024/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất