Bản án số 28/2026/HNGĐ-ST ngày 03/09/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 28/2026/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 28/2026/HNGĐ-ST ngày 03/09/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 6 - Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang
Số hiệu: 28/2026/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 03/09/2026
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: 1. Nguyên đơn
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 28/2026/HNGĐ-ST Bản án số 28/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 28/2026/HNGĐ-ST Bản án số 28/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Khánh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lù Xuân Tờ;
2. Bà Đỗ Thị Hiếu.
Thư ký phiên tòa: Ông Lò Là Cáo–Thư ký viên Tòa án nhân dân Khu vực
6 - Tuyên Quang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Tuyên Quang tham gia
phiên toà: Bà Nguyễn Thị Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 03/9/2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Tuyên Quang xét
xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 120/2026/TLST-HNGĐ ngày
12/5/2026 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ
án ra xét xử số: 31/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 05/8/2026, Thông báo thay đổi
ngày, giờ xét xử vụ án dân sự số: 02/TB-TA, ngày 07/8/2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lù Thị Ng, sinh năm 2005; CCCD số: ************
do Cục trưởng Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày
28/4/2021; địa chỉ: Thôn Ng, xã Th, tỉnh Tuyên Quang; vắng mặt có đơn xin xét
xử vắng mặt;
2. Bị đơn:Anh Lù Văn T (Lù Seo T), sinh năm 2002; CCCD số:
************ do Cục trưởng Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội
cấp ngày 18/4/2021; địa chỉ: Thôn Ng, xã Th, tỉnh Tuyên Quang; vắng mặt có đơn
xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Theo đơn khởi kiện ngày 15/04/2026, bản tự khai ngày 18/5/2026 và quá
trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Lù Thị Ng trình bày:
Chị Lù Thị Ng và anh Lù Văn T tự nguyện tìm hiểu, yêu thương nhau và
đăng ký kết hôn ngày 06/02/2023 tại Uỷ ban nhân dân xã Th, huyện H, tỉnh Tuyên
Quang (Nay là Uỷ ban nhân dân xã Th, tỉnh Tuyên Quang).Sau khi kết hôn vợ
chồng anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Lý
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6 – TUYÊN QUANG
Bản án số: 28/2026/HNGĐ-ST
Ngày 03/9/2026
V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
do mâu thuẫn là do anh T thường xuyên đánh đập chị Ng nhiều lần, chị cũng đã
bỏ qua cho anh T rất nhiều lần nhưng anh T không thay đổi. Khi anh T đánh đập,
bố mẹ gia đình cũng khuyên bảo căn ngăn nhưng anh T vẫn chứng nào tật nấy,
không chịu thay đổi. Chị Ng đã về nhà bố mẹ đẻ sinh sống tại thôn S, xã B, tỉnh
Tuyên Quang từ năm 2024 và ly thân với anh T từ đó, cho đến nay không ai quan
tâm đến ai. Nay chị Ng cảm thấy cuộc sống hôn nhân không được hạnh phúc tình
cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhận không đạt được, vì vậy chị đề nghị
Toà án giải quyết cho ly hôn với anh Lù Văn T.
Về con chung: Chị Lù Thị Ng và anh Lù Văn T có một đứa con chung tên
là: Cháu Lù Đức H, sinh ngày 05/9/2022.Vợ chồng ly hôn, chị Ng đề nghị giao
cháu Lù Đức H, sinh ngày 05/9/2022 cho anh T là người trực tiếp chăm sóc, nuôi
dưỡng và giáo dục cháu cho đến khi cháu H đủ 18 tuổi.chị Ng bên không phải
cấp dưỡng nuôi con chung. Tại đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên toà ngày
27/8/2026 của chị Ng, chị vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của mình. Chị cho
biết hiện tại chị không có chỗ ở ổn định, không có nhà cửa, đất đai để chăm sóc,
nuôi dưỡng cháu sau khi ly hôn. Vì vậy, chị Ng đề nghị giao cháu H cho anh T
chăm sóc để đảm bảo cho cháu được phát triển tốt nhất.
Về tài sản chung, về công nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không đề nghị
Toà án giải quyết.
Do tính chất công việc nên chị không tham gia phiên tòa xét xử vụ án Hôn
nhân gia đình giữa chị và anh Lù Văn T được nên chị Ng có gửi đơn xin xét xử vắng
mặt đến Tòa án với nội dung giữ nguyên các yêu cầu khởi kiệncó trong đơn khởi
kiện, bản tự khai và đơn xin xét xử vắng mặt và chị không có ý kiến nào khác.
* Tại bản tự khai ngày 12/06/2026, bị đơn anh Lù Văn T trình bày: Anh
Lù Văn T và chị Lù Thị Ng tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn vào ngày
06/02/2023tại Ủy ban nhân dân xã Th, huyện H, tỉnh Tuyên Quang (Nay là Uỷ
ban nhân dân xã Th, tỉnh Tuyên Quang).Sau khi kết hôn anh chị chung sống hòa
thuận hạnh phúc với nhau đến khoảng năm 2024 thì vợ chồng anh chị có phát
sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng về quan điểm sống, không có tiếng
nói chung. Mâu thuẫn vợ chồng được gia đình hai bên khuyên bảo nhưng vẫn
không cải thiện. Chị Ng đã về nhà bố mẹ đẻ của chị sinh sống tại thôn S, xã B,
tỉnh Tuyên Quang từ năm 2024 và anh chị ly thân nhau từ đó cho đến nay, không
ai quan tâm đến ai. Nay mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng
không còn nên anh T đồng ý ly hôn với chị Ng.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng anh chị có một con chung:
Cháu Lù Đức H, sinh ngày 05/9/2022. Vợ chồng ly hôn, anh T đồng ý với nguyện
vọng của chị Ng để cho anh là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục
cháu Lù Đức H, sinh ngày 05/9/2022 cho đến khi cháu H trưởng thành đủ 18 tuổi.
Chị Ng không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, công nợ chung: Vợ chồng anh chị tự thỏa thuận không đề
nghị Tòa án giải quyết.
3
Do đang bận đi làm xa nhà, không xin nghỉ để về tham gia phiên tòa xét xử
vụ án Hôn nhân gia đình giữa anh và chị Lù Thị Ng được nên anh T có gửi đơn
xin xét xử vắng mặt đến Tòa án. Anh T giữ nguyên các nội dung về quan hệ hôn
nhân, con chung, tài sản chung, công nợ chung và công sức đóng góp như đã trình
bày tại bản tự khai và tại đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên toà.
* Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Tuyên Quang
tham gia phiên tòa phát biểu về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử
(HĐXX), Thư ký Tòa án được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật về tố
tụng dân sự. Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35, Điều 39, khoản
4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82,
Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP
ngày 16/5/2024 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải
quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình: Đề nghị Toà án tuyên xử: Về hôn nhân:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lù Thị Ng. Đề nghị xử cho chị Lù Thị Ng
được ly hôn với anh Lù Văn T. Về con chung: Giao cháu Lù Đức H, sinh ngày
05/9/2022 cho anh Lù Văn T là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo
dục cháu cho đến khi cháu H đủ 18 tuổi. Chị Ng không phải cấp dưỡng nuôi con
chung. Chị Ng, anh T có quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật. Về
tài sản chung, công nợ chung: Không đề nghị giải quyết nên không xem xét. Về
án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Chị Lù Thị Ng được miễn án phí dân sự sơ
thẩm ly hôn theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm
tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật: Nguyên đơn chị Lù Thị Ng có đơn
khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” với bị đơn anh Lù Văn T,
anh T có hộ khẩu thường trú tại thôn Cóc Rặc, xã Th, tỉnh Tuyên Quang, theo quy
định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân
sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Tuyên Quang.
[2] Về việc vắng mặt của các đương sự tại phiên tòa: Nguyên đơn chị Lù
Thị Ng có đơn xin xét xử vắng mặt với lý do đang bận công việc không xin nghỉ
để về tham gia phiên tòa được, nên chị Ng có đơn xin được giải quyết vắng mặt.
[3] Bị đơn anh Lù Văn T có đơn xin xét xử vắng mặt với lý do bận đi
làm xa nhà, không xin nghỉ để về tham gia phiên tòa được, nên anh T xin phép
được vắng mặt tại phiên tòa xét xử của Tòa án. Tòa án nhân dân khu vực 6 –
Tuyên Quang đã tiến hành cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng theo
quy định của pháp luật tố tụng dân sự cho các đương sự và tiến hành giải quyết,
xét xử vụ án theo thủ tục chung. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng
dân sự Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn chị Lù Thị Ng và bị đơn anh Lù
Văn T là có căn cứ.
4
[4] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án, lời khai của
nguyên đơn chị Lù Thị Ng, bị đơn anh Lù Văn T, các biên bản xác minh với đại
diện quản lý thôn, người thân hai bên gia đình chị Ng, anh T thấy rằng: Sau khi
vợ chồng đăng ký kết hôn vào ngày 06/02/2023 tại Ủy ban nhân dân xã Th, huyện
H, tỉnh Tuyên Quang (Nay là Uỷ ban nhân dân xã Th, tỉnh Tuyên Quang). Anh
chị chưa tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương, sau kết hôn anh chị
về chung sống với nhau tại nhà bố đẻ của anh T là ông Lù Văn L tại nhà riêng ông
L ở thôn Ng xã Th, huyện H, tỉnh Hà Giang (nay là thôn C, xã Th, tỉnh Tuyên
Quang). Sau khi kết hôn hai vợ chồng anh chị đi làm công ty cho đến nay nên
việc anh chị có mâu thuẫn hay không thì ông bà không trực tiếp nắm được, chỉ
nghe anh T kể lại là vợ chồng anh chị có xích mích, nhiều lần cãi vã nên hiện tại
chị Ng và anh T không còn ở với nhau, mỗi người một nơi, không còn quan tâm
đến cuộc sống của nhau. Đến tháng 5/2024, chị Ng có trở về nhà và từ đó chị đi
làm đến nay chị không quay trở về nhà lần nào nữa, bố mẹ anh T không còn liên
lạc được với chị, chị cũng không gọi lại để hỏi thăm bố mẹ chồng và con trai chị.
Qua xác minh với trưởng thôn, công an xã và bố mẹ anh T là ông L và bà L1, anh
T đi làm ăn xa nhưng thi thoảng trở về nhà để thăm gia đình và con cái, hàng
tháng anh đều gửi tiền về cho bố mẹ anh để giúp anh chăm sóc con là cháu H. Chị
Ng từ lúc đi đến nay không còn quay trở về nhà chồng sinh sống và chăm con lần
nào, không gọi điện hỏi thăm gia đình, chồng và con là cháu H cũng như không
có gửi tiền về để bố mẹ chồng giúp chị chăm sóc cho cháu H. Hiện nay, anh T và
chị Ng không ở với nhau, mỗi người một nơi, không ai quan tâm, hỏi hăn đến
nhau và không biết nhau đang làm công việc gì. Qua xác minh với ông Lù Văn S
và bà Lù Thị Ch là bố mẹ đẻ chị Ng, trong quá trình chung sống thì anh chị thường
xuyên đi làm ăn xa, anh chị có xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh T
thường xuyên uống rượu, sau khi say anh hay chửi mắng chị Ng. Đến khoảng đầu
năm 2025 thì chị Ng bỏ nhà ngoại đi về nhà ông S và bà chị Ch để ở, hiện nay chị
Ng đang đi làm ăn xa, thi thoảng chị vẫn quay trở về địa phương, về nhà bố mẹ
đẻ chị để ở nhưng không quay về chung sống với anh T. Hiện nay, chị Ng và anh
T đều đi làm ăn xa không có mặt tại địa phương. Thời gian xa nhà anh chị có gọi
điện về hỏi thăm tình hình sức khỏe của bố, mẹ và các con, nhưng không có hỏi
về tình hình của nhau. Xét thấy vợ chồng chị Ng, anh T đã sống ly thân nhau mà
không còn thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau; người nào biết bổn
phận của người đó, không có sự liên lạc, vun đắp, chia sẻ cùng nhau. Như vậy là
cả hai vợ chồng đều vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm cho
hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục
đích của hôn nhân không đạt được. Việc chị Ng đề nghị giải quyết ly hôn anh T
cũng nhất trí. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn
nhân và gia đình; điểm a khoản 3 Điều 4 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày
16/5/2024 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ
việc về hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn,
xử cho chị Lù Thị Ng được ly hôn với anh Lù Văn T là có cơ sở.
[5] Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng chị Ng, anh T có 01
(Một) con chung là cháu Lù Đức H, sinh ngày 05/9/2022. Trường hợp ly hôn chị
5
Ng và anh T đều có nguyện vọng giao cháu Lù Đức H, sinh ngày 05/9/2022 cho
anh T là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu cho đến khi cháu
H đủ 18 tuổi. Hiện nay cháu H đang ở cùng với anh T, do anh trực tiếp chăm sóc,
nuôi dưỡng và có sự giúp đỡ từ ông L và bà L1 là ông bà nội của các cháu, anh T
đi làm ăn xa nhưng thường xuyên gọi điện hỏi thăm và hàng tháng đều gửi tiền
về để ông bà chăm sóc cho con, chị Ng không gửi tiền, gọi điện hỏi thăm cháu H
trong thời gian chị bỏ nhà đi. Hiện anh T có ruộng đất, có nhà cửa kiên cố ổn định
đảm bảo cho việc chăm sóc cháu. Do đó để bảo đảm sự ổn định, hạn chế sự xáo
trộn môi trường sống, giáo dục của con, Hội động xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81
của Luật Hôn nhân và gia đình, khoản 1 Điều 6 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP
ngày 16/5/2024 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết
vụ việc về hôn nhân và gia đình, cần giao cháu Lù Đức H, sinh ngày 05/9/2022
cho anh Lù Văn T là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi
cháu H đủ 18 tuổi là phù hợp. Chị Lù Thị Ng được quyền đi lại, thăm nom con
chung không ai được cản trở.
[6] Về việc cấp dưỡng nuôi con: Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn
chị Lù Thị Ng có nguyện vọng không phải cấp dưỡng nuôi con chung và bị đơn
anh Lù Văn T không có yêu cầu chị Ng phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xét
thấy ý kiến đề nghị của các bên là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm
của luật, không trái đạo đức xã hội nên cần được Hội đồng xét xử ghi nhận. Việc
nuôi con và cấp dưỡng nuôi con là không cố định.Các bên có quyền yêu cầu thay
đổi người trực tiếp nuôi con chung và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung sau
khi ly hôn.
[7] Về tài sản chung, công nợ chung và công sức đóng góp: Các bên không
yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần đề
cập xem xét, giải quyết trong vụ án này.
[8] Ý kiến, quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 -
Tuyên Quang tại phiên tòa là có căn cứ cần được chấp nhận.
[9] Về án phí: Chị Lù Thị Ng thuộc trường hợp được miễn án phí ly hôn
sơ thẩm và có đơn xin miễn án phí nên chị Ng được miễn toàn bộ án phí ly hôn
sơ thẩm theo quy định điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 Nghị quyết số 326/2016
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[10] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Lù Thị Ng, bị đơn anh Lù Văn
T có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố
tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều
147, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản
3 Điều 4, khoản 1 Điều 6 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 hướng
dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và
6
gia đình; các điều 51,56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm đ
khoản 1 Điều 12, Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
1. Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Lù Thị Ng, xử cho chị Lù
Thị Ng được ly hôn với anh Lù Văn T.
2. Về con chung: Giao cháu Lù Đức H, sinh ngày 05/9/2022 cho anh Lù
Văn T là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu cho đến khi cháu H
đủ 18 tuổi. Chị Ng không phải cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm
non con mà không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, vì quyền lợi
của con chung sau này một hoặc hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực
tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con là không cố định.
3. Về tài sản chung, công nợ chung, công sức đóng góp: Tòa án không
xem xét, giải quyết.
4. Về án phí: Nguyên đơn chị Lù Thị Ng được miễn toàn bộ án phí ly hôn
sơ thẩm. Bị đơn anh Lù Văn T không phải chịu án phí ly hôn.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Lù Thị Ng, bị đơn anh Lù Văn T
vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày
nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 4, 6, 7 và 36 Luật thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 34
Luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Tuyên Quang;
- VKSND tỉnh Tuyên Quang;
- THADS tỉnh Tuyên Quang;
- VKSND Khu vực 6 – Tuyên Quang;
- UBND xã Th, tỉnh TuyênQuang;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
(Đã ký)
Nguyễn Trọng Khánh
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 28/2026/HNGĐ-ST Bản án số 28/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 28/2026/HNGĐ-ST Bản án số 28/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất