Bản án số 28/2024/KDTM-ST ngày 12/07/2024 của TAND TX. Thuận An, tỉnh Bình Dương về tranh chấp về thuê, cho thuê, thuê mua
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 28/2024/KDTM-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 28/2024/KDTM-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 28/2024/KDTM-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 28/2024/KDTM-ST ngày 12/07/2024 của TAND TX. Thuận An, tỉnh Bình Dương về tranh chấp về thuê, cho thuê, thuê mua |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp về thuê, cho thuê, thuê mua |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TX. Thuận An (TAND tỉnh Bình Dương) |
| Số hiệu: | 28/2024/KDTM-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 12/07/2024 |
| Lĩnh vực: | Kinh doanh thương mại |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Chấp nhận yêu cầu kk |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THUẬN AN
TỈNH BÌNH DƯƠNG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Bạch Tuyết.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Văn Công
2. Bà Trần Ngọc Phương
Thư ký phiên toà: Ông Lê Trung Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận
An, tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An tham gia phiên tòa: Bà
Mai Thị Năm - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 7 năm 2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Thuận An,
tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 51/2024/TLST-KDTM
ngày 16 tháng 4 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng cho thuê tài chính” theo Quyết định
đưa vụ án ra xét xử số: 28/2024/QĐXXST-KDTM ngày 21 tháng 6 năm 2024; Quyết định
hoãn phiên tòa số 20/2024/QĐST-KDTM ngày 08 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Công ty C; địa chỉ: Tầng B, Cao ốc S, C T, phường B, Quận A, Thành
phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Tuấn V. sinh năm 2001;
địa chỉ liên hệ: Tầng I, cao ốc S, C T, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (theo
giấy ủy quyền ngày 01/12/2023). Vắng mặt.
2. Bị đơn: Công ty TNHH G; địa chỉ: Số E, Tổ C, khu phố B, phường B, thành phố
T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Đức H, sinh năm 1981;
địa chỉ: Ấp T, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa; chỗ ở hiện tại: Thửa đất số 1909, tờ bản đồ
số 151, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các lời khai và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của
nguyên đơn ông Nguyễn Tuấn V trình bày:
Bản án số: 28/2024/KDTM-ST
Ngày: 12-7-2024
V/v: Tranh chấp hợp đồng cho thuê
tài chính

2
Do Công ty TNHH G có nhu cầu sử dụng máy móc, thiết bị để phục vụ cho hoạt
động sản xuất kinh doanh của mình và đề nghị Công ty C tài trợ tài chính nên hai bên đã
ký Hợp đồng cho thuê tài chính số F210560002 kí ngày 04/06/2021 và số G220328102 kí
ngày 06/04/2022 (sau đây gọi tắt là “Hợp đồng thuê”). Theo đó, tài sản mà Công ty TNHH
G có nhu cầu thuê tài chính là:
Hợp đồng
Tài sản
Số lượng
(bộ)
F210560002
Máy ghép cao tần
01
Máy bào 2 mặt
01
Máy nhám thùng
01
Máy Tubi
09
Máy cắt
04
Máy hơi 30HP
01
Máy trục đứng
01
Máy chuốt tròn
01
G220328102
Máy đánh mộng âm CNC 4 đầu
- Hiệu: SUBS
- Model: SX4-1500
01
Máy đánh mộng HF-MDK3113B
01
(sau đây gọi tắt là “Tài sản thuê”).
Để đảm bảo cho nghĩa vụ thanh toán tiền thuê của bên thuê trong hợp đồng thuê,
ngày 04/06/2021 và ngày 06/04/2022 Công ty C có chấp nhận Thư bảo lãnh cá nhân của bà
Nguyễn Thị Đức H. Theo đó, trường hợp Công ty TNHH G không thực hiện nghĩa vụ thanh
toán tiền thuê theo các hợp đồng thuê, bà Nguyễn Thị Đức H cam kết sẽ thực hiện nghĩa vụ
thanh toán tiền thuê thay cho Công ty TNHH G.
Để thực hiện Hợp đồng thuê số F210560002, ngày 04/06/2021, Công ty C đã ký
Hợp đồng mua bán số F210560002-PC với Công ty TNHH G để mua Tài sản thuê nêu trên
và cho chính Công ty TNHH G thuê lại tài sản này. Ngày 09/06/2021, Công ty TNHH G
Nguyễn H đã ký Biên bản bàn giao và nghiệm thu tài sản để xác nhận về việc đã nhận bàn
giao tài sản.
Để thực hiện Hợp đồng thuê số G220328102, ngày 06/04/2022, Công ty C đã ký
Hợp đồng mua bán số G220328102-PC với Công ty TNHH M để mua tài sản thuê nêu trên
và cho Công ty TNHH G thuê lại tài sản này. Ngày 07/04/2022, Công ty TNHH G Nguyễn
H đã ký Giấy chứng nhận nghiệm thu tài sản thuê để xác nhận về việc đã nhận bàn giao tài
sản.
Tổng giá trị của ài sản thuê Hợp đồng số F210560002 là 1.115.000.000 đồng. Trong
đó, Công ty TNHH G Nguyễn H trả trước 312.200.000 đồng (“Tiền trả trước”), Công ty C
tài trợ vốn là 802.200.000 đồng (“Giá trị thuê”).

3
Tổng giá trị của Tài sản thuê hợp đồng số G220328102 là 610.200.000 đồng. Trong
đó, Công ty TNHH G Nguyễn H trả trước 91.530.000 đồng (“Tiền trả trước”), Công ty C
tài trợ vốn là 518.670.000 đồng (“Giá trị thuê”).
Thời hạn thuê của Hợp đồng thuê số F210560002 là 36 tháng, kể từ ngày 09/06/2021
đến ngày 15/06/2024.
Thời hạn thuê của Hợp đồng thuê hợp đồng số G220328102 là 36 tháng, kể từ ngày
13/04/2022 đến ngày 15/04/2025.
Lãi suất thuê của Hợp đồng thuê số F210560002 là lãi suất cố định 17,50%/năm.
Lãi suất thuê Hợp đồng thuê hợp đồng số G220328102 là lãi suất cố định
18,50%/năm.
Hàng tháng, Công ty TNHH G phải thanh toán cho Công ty C tiền thuê bao gồm
một phần vốn gốc và khoản tiền lãi được tính trên dư nợ giảm dần cho đến khi trả đủ số
tiền vốn gốc mà Công ty C đã tài trợ cùng các khoản lãi theo Hợp đồng thuê. Trước khi
Công ty TNHH G trả hết toàn bộ vốn gốc cùng các khoản lãi, Công ty C vẫn là chủ sở hữu
của tài sản thuê và là người đứng tên trên toàn bộ các hóa đơn, chứng từ, các giấy tờ pháp
lý khác liên quan đến quyền sở hữu v.v. đối với tài sản thuê. Căn cứ theo các quy định pháp
luật hiện hành và Điều 26 của hợp đồng thuê, nếu Công ty TNHH G vi phạm nghĩa vụ thanh
toán tiền thuê, hay vi phạm bất cứ một điều khoản hoặc điều kiện nào của hợp đồng thuê,
hay bị mất khả năng thanh toán, Công ty C đều có quyền chấm dứt Hợp đồng thuê trước
thời hạn, thu hồi tài sản thuê và yêu cầu Công ty TNHH G bồi thường thiệt hại (nếu có).
Trong quá trình thực hiện hợp đồng thuê, Công ty TNHH G thường xuyên thanh
toán không đúng hạn, mặc dù Công ty C đã nhiều lần liên lạc cũng như làm việc trực tiếp
với Công ty TNHH G để yêu cầu thanh toán.
Do Công ty TNHH G đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ thanh toán tiền thuê quy
định tại Điều 26 của hợp đồng thuê nên vào ngày 28/02/2023, nguyên đơn đã phát hành
thông báo chấm dứt hợp đồng thuê và thu hồi tài sản thuê, yêu cầu Công ty TNHH G thanh
toán tổng số tiền còn thiếu theo hợp đồng thuê tính đến ngày 01/03/2023 (ngày chính thức
chấm dứt Hợp đồng thuê) là 1.050.786.537 đồng, cụ thể.
STT
Hợp đồng thuê
Số tiền còn nợ tính đến ngày 01/03/2023 (Đvt:
VND)
1
F210560002
543.268.727
2
G220328102
507.517.810
Tổng cộng: 1.050.786.537
Ngày 22/03/2023, nguyên đơn phát hành thư yêu cầu thanh toán về việc thực hiện
nghĩa vụ bảo lãnh thanh toán tiền thuê để yêu cầu bà Nguyễn Thị Đức H thanh toán theo

4
nội dung thư bảo lãnh cá nhân đã ký nhưng đến nay bà Nguyễn Thị Đức H vẫn chưa thanh
toán đủ số tiền mà Công ty TNHH G còn nợ nguyên đơn.
Ngày 29/08/2023, nguyên đơn đã tiến hành thanh lý các tài sản thuê nêu trên của cả
02 hợp đồng cho thuê tài chính. Sau khi dùng toàn bộ số tiền thu được từ việc thanh lý tài
sản thuê và tiền ký cược của Hợp đồng số G220328102 là 91.530.000 đồng, tiền ký cược
của Hợp đồng số F210560002 là 133.800.000 đồng để trừ vào số tiền thuê còn nợ và các
chi phí khác có liên quan thì số tiền này vẫn chưa đủ thanh toán hết khoản nợ mà Công ty
TNHH G còn thiếu nguyên đơn.
Vì vậy, Công ty C khởi kiện yêu cầu Tòa án: Buộc Công ty TNHH G thanh toán cho
Công ty C số tiền thuê mà Công ty TNHH G còn nợ (tính đến ngày 12/07/2024) là
575.058.283. Chi tiết theo từng hợp đồng thuê cụ thể như sau:
Hợp đồng
thuê
Nợ gốc
Nợ lãi trong hạn
tính đến
01/03/2023
Nợ lãi quá hạn
tính đến
12/07/2024
Tổng
(Đơn vị: VND)
F210560002
128.164.846
89.859.440
62.081.173
280.105.459
G220328102
160.155.556
104.107.810
30.689.458
294.952.824
Tổng cộng
575.058.283.
Buộc Công ty TNHH G thanh toán cho Công ty C tiền lãi chậm thanh toán phát sinh
sau ngày 12/07/2024 tính trên nợ gốc với mức lãi suất quy định tại hợp đồng thuê.
Trường hợp Công ty TNHH G không thanh toán đầy đủ số tiền nêu trên, buộc người
bảo lãnh là bà Nguyễn Thị Đức H có trách nhiệm thanh toán cho Công ty C cho đến khi
thanh toán hết toàn bộ số tiền còn nợ.
Tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp là Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp;
bảng kê các khoản phải thu; Thư bảo lãnh cá nhân; Thông báo thay đổi con dấu; biên bản
bàn giao và nghiệm thu tài sản thuê; Hợp đồng cho thuê tài chính; Phụ lục số 01; Lịch
trình thanh toán; Thông báo bắt đầu thuê; Hợp đồng mua bán tài sản; Văn bản chứng nhận
đăng ký biện pháp bảo đảm; Hệ thống đăng ký trực tuyến; T yêu cầu thanh; Thông báo
chấm dứt hợp đồng thuê; Thông báo thanh toán; Hợp đồng mua bán trong nước; hóa đơn
giá trị gia tăng
Bị đơn Công ty TNHH G và người đại diện theo pháp luật của Công ty, đồng thời là
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Đức H đã được Tòa án thông báo
trên phương tiện thông tin đại chúng đến Tòa án làm việc vào ngày 10 tháng 6 năm 2024;
Thông báo tham gia phiên họp công khai tài liệu, chứng cứ và hòa giải lần 1 vào ngày 17
tháng 6 năm 2024; Thông báo tham gia phiên họp công khai tài liệu, chứng cứ và hòa giải
lần 2 vào ngày 21 tháng 6 năm 2024; thông báo về việc tham gia phiên tòa vào ngày 08
tháng 7 năm 2024 và ngày 12 tháng 7 năm 2024. Tuy nhiên, Công ty TNHH G Nguyễn H
và người đại diện theo pháp luật của Công ty, đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan bà Nguyễn Thị Đức H vắng mặt không rõ lý do.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng
trong quá trình giải quyết vụ án: Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử trong quá trình thụ

5
lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục được pháp luật quy định tại Bộ luật
Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật tố tụng. Riêng bị đơn và người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không chấp hành đúng pháp luật tố tụng.
Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội
đồng xét xử xem xét và kết quả tranh luận tại phiên tòa, nhận thấy yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn
cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết và quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn Công ty C (sau
đây gọi tắt là Công ty C) khởi kiện yêu cầu Công ty TNHH G (sau đây gọi tắt là Công ty
G); địa chỉ: Số E, Tổ C, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương phải trả toàn
bộ số tiền nợ gốc và lãi phát sinh theo Hợp đồng cho thuê tài chính. Xét, đây là vụ án kinh
doanh thương mại về việc “Tranh chấp hợp đồng cho thuê tài chính” và vụ án thuộc thẩm
quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An theo quy định tại Khoản 1 Điều
30; Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Bị đơn Công ty TNHH G và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn
Thị Đức H đã được Tòa án thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng lần thứ hai tham
gia phiên tòa, nhưng vắng mặt không rõ lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử
vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại Khoản 2 Điều
227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Theo quy định tại khoản 4 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đương sự có nghĩa
vụ đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân
sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc. Bị đơn đã từ bỏ quyền
được chứng minh của mình qua việc không đến Tòa án tham gia tố tụng nên bị đơn phải
chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại khoản 1 Điều 91 của Bộ luật Tố
tụng dân sự.
[3] Về yêu cầu trả nợ gốc của nguyên đơn. Xét thấy, do có nhu cầu sử dụng máy móc,
thiết bị để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh Công ty G đã đề nghị Công ty C ký
Hợp đồng cho thuê tài chính số F210560002 ngày 04/06/2021; số G220328102 ngày
06/04/2022. Theo đó, tài sản mà Công ty G có nhu cầu thuê tài chính theo từng hợp đồng
cụ thể:
Hợp đồng số F210560002 là máy ghép cao tần; máy bào 2 mặt; máy nhám thùng; máy
Tubi; máy cắt; máy hơi 30HP; máy trục đứng; máy chuốt tròn. Tổng giá trị của tài sản thuê
theo hợp đồng số F210560002 là 1.115.000.000 đồng. Trong đó, Công ty TNHH G trả trước
312.200.000 đồng Công ty C tài trợ vốn 802.200.000 đồng. Cùng ngày, Công ty G Nguyễn
H đã ký Giấy chứng nhận nghiệm thu tài sản thuê để xác nhận về việc đã nhận bàn giao tài

6
sản. Ngày 10/6/2021 đã được Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản tại Thành phố Hồ Chí
Minh cấp giấy chứng nhận đăng ký biện pháp bảo đảm, thông báo xử lý tài sản bảo đảm.
Để thực hiện Hợp đồng thuê số F210560002 ngày 04/06/2021, Công ty C đã ký Hợp
đồng mua bán tài sản số F210560002-PC ngày 07/6/2021 với Công ty G để mua các tài sản
thuê nêu trên và cho Công ty TNHH G thuê lại.
Hợp đồng số G220328102 là máy đánh mộng âm CNC 4 đầu hiệu: SUBS; Model:
SX4-1500; máy đánh mộng HF-MDK3113B. Tổng giá trị của tài sản thuê theo hợp đồng
số G220328102 là 610.200.000 đồng. Trong đó, Công ty G trả trước 91.530.000 đồng,
Công ty C tài trợ vốn 518.670.000 đồng. Cùng ngày, Công ty G Nguyễn H đã ký Giấy
chứng nhận nghiệm thu tài sản thuê để xác nhận về việc đã nhận bàn giao tài sản. Ngày
13/04/2022 đã được Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản tại Thành phố Hồ Chí Minh cấp
giấy chứng nhận đăng ký biện pháp bảo đảm, hợp đồng.
Để thực hiện Hợp đồng thuê số G220328102, ngày 06/04/2022, Công ty C đã ký Hợp
đồng mua bán số G220328102-PC với Công ty TNHH M để mua các tài sản thuê nêu trên
và cho Công ty TNHH G thuê lại.
Ngày 29/08/2023, Công ty C đã tiến hành thanh lý các tài sản thuê nêu trên của cả
02 Hợp đồng cho thuê tài chính, cụ thể: Hợp đồng số G220328102 là 91.530.000 đồng;
Hợp đồng số F210560002 là 133.800.000 đồng để trừ vào số tiền thuê còn nợ của Công ty
G. Như vậy, sau khi trừ số tiền đã thanh toán và trừ vào số tiền do thanh lý tài sản, Công ty
G còn nợ Công ty C là 288.320.402 đồng (trong đó Hợp đồng số F210560002 là
128.164.846; hợp đồng số G220328102 là 160.155.556). Do Công ty G Nguyễn H đã nhận
tài sản thuê, nhưng lại không thanh toán tiền theo đúng thỏa thuận của hợp đồng là vi phạm
nghĩa vụ thanh toán. Do đó, Công ty C đã gửi thông báo về việc chấm dứt hợp đồng thuê,
đồng thời gửi thư yêu cầu người bảo lãnh là bà H thanh toán tiền thuê, nhưng đến nay chưa
thanh toán nên Công ty C căn cứ vào Điều 26 của 02 Hợp đồng cho thuê tài chính nêu trên
để khởi kiện yêu cầu bị đơn phải thanh toán số tiền nợ gốc của 02 hợp đồng là phù hợp.
[5] Về yêu cầu trả nợ lãi của nguyên đơn. Hội đồng xét xử xét thấy, do bị đơn vi
phạm nghĩa vụ trả nợ nên nguyên đơn căn cứ vào Điều 6 của hợp đồng cho thuê tài chính
để yêu cầu bị đơn phải trả tiền lãi; cụ thể: Lãi trong hạn tính đến ngày chấm dứt hợp đồng
thuê với lãi suất 18,50%/năm (ngày 01/3/2023) là 193.967.250 đồng; lãi quá hạn tính từ
ngày 02/3/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm (12/7/2023) với lãi suất 18,50%/năm x 150% =
27.75%/năm là 92.770.631 đồng là phù hợp theo quy định tại Điều 26 của hợp đồng cho
thuê tài chính nên được chấp nhận.
[6] Về nghĩa vụ bảo lãnh của bà Nguyễn Thị Đức H đối với nghĩa vụ trả tiền của
Công ty G. Xét thấy, tại thư bảo lãnh có nội dung “… bằng thư này, bên bảo lãnh đồng ý
rằng, trong trường hợp bên thuê không thể thực hiện được bất kỳ nghĩa vụ thanh toán nào
theo hợp đồng thuê vì bất cứ lý do gì, Bên bảo lãnh phải thực hiện (các) nghĩa vụ này theo
yêu cầu lần đầu bằng văn bản của bên cho thuê mà bên cho thuê không cần phải thu hồi và

7
xử lý tài sản thuê theo hợp đồng thuê và cũng không phải xuất trình bất kỳ một tài liệu hoặc
bằng chứng nào cho bên bảo lãnh…”
Ngày 22/3/2023 Công ty C đã gửi thư yêu cầu bà H là người bảo lãnh thực hiện
nghĩa vụ thanh toán, nhưng đến nay bà H vẫn không thanh toán đủ tiền cho Công ty. Do
đó, căn cứ vào thỏa thuận của thư bảo lãnh cá nhân, Công ty C yêu cầu trong trường hợp
Công ty G Nguyễn H không thanh toán đầy đủ khoản tiền nợ gốc và lãi thì buộc người bảo
lãnh là bà Nguyễn Thị Đức H có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty C số tiền mà Công ty G
còn nợ là phù hợp theo quy định tại Điều 335; Điều 342 Bộ luật dân sự nên được Hội đồng
xét xử chấp nhận.
[7] Về các tài sản cho thuê tài chính, do Công ty C đã xử lý xong và không yêu cầu
giải quyết trong vụ án này nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[8] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện
của Công ty C.
[9] Đề nghị của đại diện Việm kiểm sát nhân dân thành phố T là phù hợp nên được
Hội đồng xét xử chấp nhận.
[10] Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm và chi phí tố tụng khác: Bị đơn phải
chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 144;
Điều 147; Điều 157; Điều 180; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 235; Điều 266;
Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Điều 335; Điều 342; Điều 351 của Bộ luật Dân sự;
- Điều 306 của Luật Thương mại năm 2005;
- Nghị định số 39/2014/NĐ-CP ngày 07/5/2014 của Chính phủ quy định về hoạt
động của Công ty C và Công ty cho thuê tài chính;
- Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
- Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt
vi phạm;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội khóa 14 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng
án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:

8
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty C đối với bị đơn Công ty
TNHH G về việc “Tranh chấp hợp đồng cho thuê tài chính”.
1.1. Buộc Công ty TNHH G có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty C tổng số tiền tính
đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 12/7/2024) là 575.058.283 đồng. Trong đó bao gồm: Hợp
đồng cho thuê tài chính số F210560002 nợ gốc là 128.164.846 đồng, nợ lãi là 151.940.613
đồng; Hợp đồng cho thuê tài chính số G220328102 nợ gốc là 160.155.556, nợ lãi là
134.797.268 đồng.
1.2. Trường hợp Công ty TNHH G không thực hiện việc thanh toán hết số nợ (theo
mục 1.1 nêu trên) cho Công ty C thì bà Nguyễn Thị Đức H có nghĩa vụ thanh toán cho
Công ty C số tiền Công ty TNHH G còn phải thanh toán cho Công ty C.
Trong trường hợp Công ty TNHH G thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì Công ty TNHH
G Nguyễn H còn phải chịu tiền lãi của số tiền chậm trả, tính từ ngày 13/7/2024 theo mức
lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng cho thuê tài chính số F210560002 ngày 04/06/2021; số
G220328102 ngày 06/04/2022 giữa Công ty C với Công ty TNHH G.
2. Về chi phí tố tụng khác: Công ty TNHH G phải chịu 3.800.000 đồng chi phí thông
báo trên phương tiện thông tin đại chúng.
3. Về án phí kinh doanh, thương mại sơ thẩm: Công ty TNHH G phải chịu
27.002.331 đồng.
Hoàn trả cho Công ty C số tiền 15.473.323 đồng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng
án phí, lệ phí Tòa án số 0001787 ngày 03/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố
Thuận An, tỉnh Bình Dương.
4. Nguyên đơn; bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo
bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
5. Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều
2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời
hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Thị Bạch T1
9
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng