Bản án số 28/2024/DS-ST ngày 23/09/2024 của TAND huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 28/2024/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 28/2024/DS-ST ngày 23/09/2024 của TAND huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Krông Nô (TAND tỉnh Đắk Nông)
Số hiệu: 28/2024/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 23/09/2024
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ông Lại Nguyễn Vũ V yêu cầu ông Nguyễn Văn H, Đồng Thị H tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG NÔ
TỈNH ĐẮK NÔNG
Bản án số: 28/2024/DS-ST
Ngày 23-9-2024
V/v “Tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử
dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NÔ, TỈNH ĐĂK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Nhi.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Châu, ông Lê Khải.
- Thư phiên tòa: Nguyễn Thị Nguyệt Bun Thư của Tòa án nhân
dân huyện Krông Nô.
- Đại diện Viện kiểm t nhân dân huyện Krông tham gia phiên tòa:
Ông Mai Văn Hữu - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Krông
tiến hành xét xử thẩm ng khai vụ án dân sự thụ số 18/2023/TLST-DS
ngày 22/3/2023, về “Yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2024/QĐXXST-DS, ngày 28/6/2024,
Quyết định hoãn phiên tòa số 271/2024/QĐST-DS, ngày 25/7/2024, Quyết định
tạm ngừng phiên tòa số 316/2024/QĐST-DS, ngày 20/8/2024, Quyết định hoãn
phiên tòa số 384/2024/QĐST-DS, ngày 12/9/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lại Nguyễn Vũ V Vắng mặt.
Địa chỉ: Đội 4, Ấp Đông K, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Đặng Anh T, địa chỉ: Tổ dân
phố 7, phường T, tp B, tỉnh Đắk Lắk Có mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H Có mặt, bà Đồng Thị H Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện K, tỉnh Đăk Nông.
Người đại diện theo ủy quyền của Đồng Thị H: ông Nguyễn Văn H, địa chỉ:
Thôn Đ, xã T, huyện K, Đăk Nông Có mặt.
Cư trú tại: Bon Sa D, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Văn Phòng công chứng Nguyễn Văn N, địa chỉ: Số 03 đường Ngô Q, thị trấn
E, huyện C, Đăk Nông Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Thanh T, chức vụ:
công chứng viên mặt.
+ Chi cục Thi hành án dân sự huyện K, tỉnh Đăk Nông - Người đại diện theo
pháp luật: Ông Văn T, chức vụ Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự huyện
K.
2
Người đại diện theo ủy quyền của ông Văn T: ông Mạnh Hồng S chức vụ
Phó Chi cục trưởng THADS huyện K - Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 14/02/2023 (nộp trực tiếp tại Tòa án ngày
16/3/2023), quá trình giải quyết vụ án lời khai tại phiên tòa của người đại
diện theo ủy quyền của Nguyên đơn là ông Đặng Anh T trình bày:
Ngày 26/4/2022, ông Lại Nguyễn Vũ V nhận chuyển nhượng của ông
Nguyễn Văn H Đồng Thị H thửa đất số 26, tờ bản đồ số 21, địa chỉ thửa đất
tại thôn Đ, T, huyện K, tỉnh Đăk Nông, diện tích sang nhượng là 31.470m
2
mục
đích sử dụng đất trồng cây lâu năm, đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất mang tên ông Nguyễn Văn H Đồng Thị H theo giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số BL921847 do Ủy ban nhân dân huyện K cấp ngày 03/4/2013,
giá trị sang nhượng 2.080.000.000 đồng. Khi chuyển nhượng ông H bà H
thỏa thuận thửa đất nói trên không có tranh chấp dưới mọi hình thức nên hai bên đã
tiến hành đặt cọc đối với thửa đất nói trên.
Ngày 17/3/2022 ông Lại Nguyễn V đã tiến hành đặt cọc chuyển khoản số
tiền 100.000.000 đồng cho ông Hbà H; lần 2 đặt cọc ngày 21/3/2022 ông V đặt
cọc cho ông H H stiền 400.000.000 đồng; lần 3 ngày 25/4/2022 ông V trả
tiếp số tiền 1.310.000.000 đồng cho ông H và bà H, lần 4 ngày 26/4/2022 số tiền là
270.000.000 đồng. Tổng 4 lần giao tiền ông V đã thanh toán đầy đủ cho ông H
bà H số tiền là 2.080.000.000 đồng (Hai tỷ không trăm tám mươi triệu đồng).
Cụ thể vào ngày 21/3/2022 (đặt cọc lần 2), sau khi giao số tiền 400.000.000
đồng thì ông H H đã giao thửa đất số 26, tờ bản đồ số 21 địa chỉ thửa đất tại
thôn Đ, T, huyện K, tỉnh Đăk Nông cho ông Lại Nguyễn V quản sử
dụng. Đến ngày 26/4/2022 ông V hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất
tại Văn phòng công chứng Nguyễn Văn N tại số 03 đường Ngô Q, thị trấn E,
huyện C, Đăk Nông và nộp hồ đến chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện
K. Đến ngày 05/01/2023, Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện K trả lời
không đủ điều kiện sang tên quyền sử dụng đất theo công văn số 851/CV-
CCTHADS, ngày 30/11/2022 do ông H H người phải Thi hành án trả nợ
theo Quyết định Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 35 ngày 09/8/2022
Quyết định Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 39, ngày 28/9/2022
của Tòa án nhân dân huyện Krông ông H H chưa thực hiện thanh
toán. Như vậy, ông H và bà H đã vi phạm hợp đồng đã ký kết với ông V được công
chứng tại Văn phòng công chứng Nguyễn Văn N vào ngày 26/4/2022. Tại đơn
khởi kiện Nguyên đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Krông giải quyết: Hủy
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được lập ngày 26/4/2022 tại Văn
phòng công chứng Nguyễn Văn N giữa ông Lại Nguyễn Vũ V và ông Nguyễn Văn
H Đồng Thị H theo công chứng số 4954, quyển 05/2022/TP/CC-
SCC/HĐGD. Buộc ông Nguyễn Văn H Đồng Thị H trả cho ông Lại Nguyễn
V số tiền 2.080.000.000 đồng (Hai tỷ không trăm tám mươi triệu đồng) bồi
thường cho Nguyên đơn số tiền 2.080.000.000 đồng (Hai tỷ không trăm tám mươi
triệu đồng). Tổng cộng 4.160.000.000 đồng (Bốn tỷ một trăm sáu mươi triệu đồng)
do ông H, bà H vi phạm hợp đồng.
3
Quá trình giải quyết, tại phiên tòa Nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện:
Buộc Bị đơn công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã được
Công chứng ngày 26/4/2022 tại Văn phòng công chứng Nguyễn Văn N địa chỉ số
03 đường Ngô Q, thị trấn E, huyện C, Đăk Nông đối với thửa đất số 26, tờ bản đồ
số 21, diện tích 31470 m
2
đất trồng cây lâu năm, địa chỉ thửa đất tại thôn Đ, T,
huyện K, tỉnh Đăk Nông theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà tài sản khác gắn liền với đất số BL 921847, số vào sổ CH 01341 do Ủy
ban nhân dân huyện K cấp ngày 03/4/2013 mang tên ông Nguyễn Văn H, Đồng
Thị H. Rút yêu cầu đối với Bị đơn không yêu cầu ông Nguyễn Văn H
Đồng Thị H trả cho ông Lại Nguyễn V số tiền 2.080.000.000 đồng (Hai tỷ
không trăm tám mươi triệu đồng) rút tiền bồi thường cho Nguyên đơn số tiền
2.080.000.000 đồng (Hai tỷ không trăm tám mươi triệu đồng). Tổng cộng
4.160.000.000 đồng (Bốn tỷ một trăm sáu mươi triệu đồng).
- Trong quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa bđơn ông Nguyễn Văn
H và bà Đồng Thị H trình bày:
Ông H, H thừa nhận vào ngày 26/4/2022, vchồng tôi chuyển nhượng
cho ông Lại Nguyễn V thửa đất số 26, tờ bản đồ số 21, diện tích 31.470 m2,
đất tại thôn Đ, T, huyện K, tỉnh Đăk Nông, mục đích sử dụng đất trồng cây lâu
năm, đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Nguyễn
Văn H Đồng Thị H theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BL921847
do Ủy ban nhân dân huyện K cấp ngày 03/4/2013, giá tr sang nhượng
2.080.000.000 đồng (Hai tỷ không trăm tám mươi triệu đồng). Tuy nhiên để giảm
thuế thu nhập cá nhân nên ông H bà H thỏa thuận với ông Lại Nguyễn Vũ V giá
trị sang nhượng 760.000.000 đồng nhưng thực tế giá trị sang nhượng
2.080.000.000 đồng. Khi vợ chồng ông H bà H chuyển nhượng cho ông V thửa đất
không bị ngăn chặn, kê biên nên vợ chồng ông H bà H thỏa thuận thửa đất nói trên
không tranh chấp dưới mọi hình thức nên hai bên đã tiến hành đặt cọc đối với
thửa đất nói trên. Ngày 21/3/2022, sau khi giao số tiền 400.000.000 đồng vợ chồng
ông H bà H đã bàn giao thửa đất nói trên cho ông V. Hiện nay ông H bà H đã nhận
đủ số tiền là 2.080.000.000 đồng (Hai tỷ không trăm tám mươi triệu đồng) của ông
V, đồng thời ông H bà H đã giao đất cho ông V quản lý, canh tác và sử dụng.
Ngày 04/5/2022, ông H bà H đã nộp hồ để làm thủ tục chuyển nhượng tại
Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện K nhưng đến ngày 06/5/2022, Chi
nhánh văn phòng đăng đất đai công văn số 1290 ngày 06/5/2022 về việc t
chối giải quyết hồ sơ quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của
Tòa án nhân dân huyện Krông Nô. Do vậy, vợ chồng ông H H không thể hoàn
tất thủ tục sang tên cho ông Lại Nguyễn Vũ V được.
Quá trình giải quyết vụ án, trước yêu cầu khởi kiện của ông V, vợ chồng ông
H H yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng đã được công chứng ngày 26/4/2022.
Trường hợp không tiếp tục thực hiện hợp đồng được thì ông H H đồng ý thanh
toán tiền cho ông V gốc 2.080.000.000 đồng (Hai tỷ không trăm tám mươi triệu
đồng) không chấp nhận bồi thường cho Nguyên đơn.
Tại phiên tòa, Nguyên đơn thay đổi yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất đã được Công chứng ngày 26/4/2022 tại Văn phòng
công chứng Nguyễn Văn N địa chỉ số 03 đường Ngô Q, thị trấn E, huyện C, Đăk
4
Nông đối với thửa đất số 26, tờ bản đồ số 21, diện tích 31470 m
2
đất trồng cây lâu
năm, địa chỉ thửa đất tại thôn Đ, xã T, huyện K, tỉnh Đăk Nông theo giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BL
921847, số vào sổ CH 01341 do Ủy ban nhân dân huyện K cấp ngày 03/4/2013
mang tên ông Nguyễn Văn H, bà Đồng Thị H thì ông H bà H đồng ý.
Việc Nguyên đơn rút yêu cầu đối với ông Nguyễn Văn H Đồng Thị H
trả cho ông Lại Nguyễn V số tiền 2.080.000.000 đồng (Hai tỷ không trăm tám
mươi triệu đồng) t bồi thường cho Nguyên đơn số tiền 2.080.000.000 đồng
(Hai tỷ không trăm tám mươi triệu đồng) thì ông H H đồng ý không ý
kiến gì.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chi cục Thi hành án dân s
huyện K do ông Mạnh Hồng S đại diện trình bày:
- Căn cứ Quyết định Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số
35/2022/QĐST-DS ngày 09/8/2022 Quyết định Công nhận sự thỏa thuận của
các đương sự số 39/2022/QĐST-DS ngày 28/9/2022 của Toà án nhân dân huyện
Krông Nô.
- Căn cứ Quyết định thi hành án số 45/QĐ-CCTHADS ngày 07/10/2022;
Quyết định thi hành án số 105/QĐ-CCTHADS ngày 26/10/2022; Quyết định thi
hành án số 681/QĐ-CCTHADS ngày 19/8/2022; Quyết định thi hành án số
12/QĐ-CCTHADS ngày 06/10/2022 của Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân
sự huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông. Theo các quyết định nêu trên thì: Người phải
thi hành án: Ông Nguyễn Văn H bà Đồng Thị H, địa chỉ: Thôn Đ, Tân T,
huyện K, tỉnh Đắk Nông.
Người được thi hành án:
- Ông Nguyễn Văn G, địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện K, tỉnh Đắk Nông.
- Nguyễn Thị H, địa chỉ: Tổ dân phố 3, thị trấn Đ, huyện K, tỉnh Đắk
Nông.
- Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng TMCP S Chi nhánh Đ,
địa chỉ: 90A đường T, phường T, Tp. B, tỉnh Đắk Lắk
- Án phí thu về ngân sách nhà nước.
Tài sản đảm bảo thi hành án:
- Tài sản 01: Thửa đất số 34, tờ bản đồ số 88, diện tích 14.555,5m
2
đất trồng
cây lâu năm, địa chỉ thửa đất: Thôn Đ, xã T, huyện K, tỉnh Đắk Nông, GCNQSDĐ
số CI 139491 do UBND huyện Krông cấp ngày 03/10/2017 đứng tên ông
Nguyễn Văn H bà Đồng Thị H và tài sản gắn liền với đất.
- Tài sản 02: Thửa đất số 54, tờ bản đồ số 88, diện tích 21.017,6m
2
đất trồng
cây hàng năm, địa chỉ thửa đất: Thôn Đ, T, huyện K, tỉnh Đắk Nông,
GCNQSDĐ số CI 139838 do UBND huyện K cấp ngày 03/10/2017 đứng tên ông
Nguyễn Văn H bà Đồng Thị H và tài sản gắn liền với đất.
- Tài sản 03: Thửa đất số 26, tờ bản đồ số 21, diện tích 31.470m
2
đất trồng
cây lâu năm, địa chỉ thửa đất: Thôn Đ, xã T, huyện K, tỉnh Đắk Nông, GCNQSDĐ
số BL 921847 do UBND huyện K cấp ngày 03/4/2013 đứng tên ông Nguyễn Văn
H và bà Đồng Thị H và tài sản gắn liền với đất.
Ngày 23/11/2023 Chấp hành viên Chi cục thi hành án dân sự huyện K đã tiến
hành xác minh tại Tòa án nhân dân (TAND) huyện Krông Nô và được biết TAND
5
huyện Krông đang thụ giải quyết vụ án liên quan đến việc hủy hợp đồng
chuyển nhượng QSDĐ liên quan đến Thửa đất số 26, tờ bản đồ số 21, diện tích
31.470m
2
.
Ngày 28/11/2023 Chấp hành viên Chi cục thi hành án dân sự huyện K đã ban
hành Quyết định cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất đối với các thửa đất mà ông
H, bà H không thế chấp để đảm bảo thi hành án, gồm: Thửa đất số 54, tờ bản đồ số
88, diện tích 21.017,6m
2
; Thửa đất số 26, tờ bản đồ số 21, diện tích 31.470m
2
.
Ngày 24/01/2024 ông Nguyễn Văn H và bà Đồng Thị H đã tự nguyện giao tài
sản cho Chi cục THADS huyện K xử lý để đảm bảo cho các nghĩa vụ: Trả nợ công
dân, thanh toán cho ngân hàng, nộp tiền án phí.
Tài sản tự nguyện giao: Thửa đất số 34, tờ bản đồ số 88, diện tích 14.555,5m
2
(Thửa đất đang thế chấp ngân hàng); Thửa đất số 54, tờ bản đồ số 88, diện tích
21.017,6m
2
.
Đối với thửa đất số 26, tờ bản đồ số 21, diện tích 31.470m
2
đã được áp dụng
biện pháp bảo đảm thi hành án, các bên đương sự thống nhất chờ kết quả giải
quyết của Tòa án nhân dân huyện Krông . Đối với thửa đất này đã được Áp
dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo Quyết định số 109/2022/QĐ-BPKCTT
ngày 05/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện Krông Quyết định thi hành án
số 489/QĐ-CCTHADS ngày 06/5/2022 của Chi cục THADS huyện K. Đến ngày
03/01/2023 Tòa án nhân dân huyện Krông ban hành Quyết định số
01/2023/QĐ-HBBPKCTT Hủy bỏ Biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với thửa đất
được áp dụng, do đó Chi cục THADS huyện K đã ban hành Quyết định số 21/QĐ-
CCTHADS ngày 04/01/2023 đình chỉ việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
đối với tài sản được áp dụng.
Ngày 23/11/2023 của Chấp hành viên Chi cục Thi hành án dân sự huyện K
lập biên bản xác minh tại Toà án nhân dân huyện Krông Nô. Ngày 28/11/2023
Chấp hành viên Chi cục thi hành án dân sự huyện K đã ban hành Quyết định
cưỡng chế biên quyền sử dụng đất đối với các thửa đất ông H, bà H không
thế chấp để đảm bảo thi hành án, gồm: Thửa đất số 54, tờ bản đsố 88, diện tích
21.017,6m
2
thửa đất s26, tờ bản đồ số 21, diện tích 31.470m
2
. Quá trình giải
quyết vụ án, ông S đại diện Chi cục Thi hành án dân sự huyện K đồng ý với yêu
cầu khởi kiện của Nguyên đơn là Hủy hợp đồng chuyển nhượng Quyền sử dụng
đất lập ngày 26/4/2022 tại Văn phòng công chứng Nguyễn Văn N trả lại cho
ông Lại Nguyễn V số tiền mua tài sản. Chi cục Thi hành án dân sự huyện K
không yêu cầu độc lập.
Người đại diện Chi cục Thi hành án dân sự huyện K đơn đề nghị giải
quyết vụ án theo quy định của pháp luật và đề nghị xét xử vắng mặt.
- Quá trình giải quyết, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Phòng công
chứng Nguyễn Văn N, huyện C, tỉnh Đăk Nông do ông Phan Thanh T đại diện
trình bày:
Ngày 26/4/2022 Văn phòng công chứng Nguyễn Văn N, tỉnh Đăk Nông
tiếp nhận hồ yêu cầu công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
của ông Lại Nguyễn Vũ V, thường trú tại: Đội 04, ấp Đông K, xã G, huyện T, tỉnh
Đồng Nai.
Thành phần hồ sơ bao gồm:
6
+ Phiếu yêu cầu công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất;
+ Hợp đồng chuyến nhượng quyền sử dụng đất;
+ Bản sao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà tài sản
khác gắn liền với đất số: BL 921847 do Ủy ban nhân dân huyện K, tỉnh Đăk Nông
cấp ngày 05/4/2013, số vào số cấp giấy chứng nhận: CH 01341;
+ Bản sao Giấy chứng minh nhân dân, Sổ hộ khẩu của ông Nguyễn Văn H
bà Đồng Thị H;
+ Bản sao Giấy chứng minh nhân dân, Sổ hộ khẩu của ông Lại Nguyễn
V;
Sau khi tiếp nhận hồ sơ, nhận thấy hyêu cầu công chứng đầy đủ, phù
hợp với quy định của pháp luật nên Văn phòng công chứng Nguyễn Văn N, tỉnh
Đăk Nông tiến hành thụ hồ yêu cầu công chứng thực hiện công chứng
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Công chứng
2014, cụ thể như sau:
1. Đối với tài sản: Là quyền sử dụng đất đối với thửa đất số: 26, tờ bản đồ số:
21 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà tài sản khác
gắn liền với đất số BL 921847 do Ủy ban nhân dân huyện K cấp ngày 05/4/2013,
số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CH 01341, quyền sử dụng đất cấp cho ông
Nguyễn Văn H vợ là bà Đồng Thị H.
Tại thời điểm yêu cầu công chứng: Quyền sử dụng đất nêu trên tài sản
được phép giao dịch theo quy định của pháp luật bởi vì:
+ Quyền sử dụng đất chuyển nhượng thuộc quyền sử dụng của ông Nguyễn
Văn H và bà Đồng Thị H theo Giấy chứng nhận đã được cấp.
+ Quyền sử dụng đất nêu trên không được dùng để bảo đảm cho bất kỳ nghĩa
vụ dân sự nào; quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án hoặc bị
ngăn chặn, hạn chế giao dịch theo quyết định của quan nhà nước thẩm
quyền, quyền sử dụng đất cũng không thế chấp hoặc bị bảo lưu quyền sở hữu bởi
bất kỳ tổ chức, cá nhân nào.
Người yêu cầu ng chứng cam đoan tại thời điểm yêu cầu công chứng
quyền sử dụng đất nêu trên không có bất kỳ tranh chấp nào.
2. Đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất:
Sau khi kiểm tra các thông tin theo yêu cầu các bên tham gia giao dịch,
Văn phòng công chứng Nguyễn Văn N, tỉnh Đắk Nông tiến hành soạn thảo hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Nội dung trong hợp đồng chuyển nhượng do các bên thỏa thuận thống nhất
không điều khoản vi phạm pháp luật, trái đạo đức hội, đối tượng của hợp
đồng hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật.
3. Đối với người yêu cầu công chứng:
Các bên tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện thỏa thuận giao kết hợp
đồng, không dấu hiệu bị đe dọa, cưỡng ép, tại thời điểm công chứng năng
lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật.
Sau khi đã kiểm tra h sơ, các bên được hướng dẫn tuân thủ đúng các quy
định v thủ tục công chứng các quy định pháp luật liên quan đến việc
chuyển nhượng quyền sử dụng đất; các bên được giải thích quyền, nghĩa vụ
lợi ích hợp pháp của họ, ý nghĩa và hậu quả pháp lý của việc tham gia hợp đồng.
7
Như vậy, căn cứ theo các quy định của pháp luật về đối tượng của hợp đồng,
chủ thể tham gia giao dịch thì việc Văn phòng công chứng Nguyễn Văn N, huyện
C, tỉnh Đắk Nông tiếp nhận, thụ lý và công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất giữa bên chuyển nhượng là ông Nguyễn Văn H bà Đồng Thị H với
bên nhận chuyển nhượng ông Lại Nguyễn V, hoàn toàn phù hợp với quy
định pháp luật.
Từ những do nêu trên, Văn phòng công chứng Nguyễn Văn N, huyện C,
tỉnh Đắk Nông đề nghị Tòa án xem xét xử vụ việc theo quy định của pháp
luật để đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp cho Văn phòng Công chứng Nguyễn
Văn N, huyện C, tỉnh Đăk Nông cũng như người yêu cầu công chứng.
Văn phòng Công chứng Nguyễn Văn N, huyện C, tỉnh Đăk Nông không yêu
cầu độc lập.
Tại phiên Tòa, người đại diện Văn phòng công chứng Nguyễn Văn N, huyện
C, tỉnh Đắk Nông đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Quá trình giải quyết
vụ án Tòa án đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng từ khâu thụ đến
trước khi mở phiên tòa; tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng, đầy đủ
các trình tự thủ tục quy định. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên
quan đã chấp hành đầy đủ các quy định, quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định
của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về
việc Công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền s dụng đất được lập ngày
26/4/2022 tại Văn phòng công chứng Nguyễn Văn N giữa ông Lại Nguyễn V
và ông Nguyễn Văn H và bà Đồng Thị H theo công chứng số 4954, quyển
05/2022/TP/CC-SCC/HĐGD.
Đình chỉ yêu cầu của Nguyên đơn yêu cầu ông Nguyễn Văn H Đồng
Thị H trả cho ông Lại Nguyễn V số tiền 2.080.000.000 đồng (Hai tỷ không
trăm tám mươi triệu đồng) đình chỉ bồi thường cho Nguyên đơn số tiền
2.080.000.000 đồng (Hai tỷ không trăm tám mươi triệu đồng). Tổng cộng
4.160.000.000 đồng (Bốn tỷ một trăm sáu mươi triệu đồng) do ông H, H vi
phạm hợp đồng.
Về các vấn đề khác đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của
pháp luật.
Các tài liệu chứng cứ trong hồ vụ án: Bản chính Hợp đồng đặt cọc
ngày 21/3/2022; 02 giấy chuyển tiền cho ông H; bản sao giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất mang tên ông Nguyễn Văn H, bà Đồng Thị H; bản chính Hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất được công chứng tại Văn phòng công chứng
Nguyễn Văn N tại số 03 đường Ngô Q, thị trấn E, huyện C, tỉnh Đăk Nông theo số
công chứng 4954, quyển số 05/2022 P/CC-SCC/HĐGD ngày 26/4/2022; Quyết
định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 109/2022/QĐ-BPKCTT ngày
05/5/2022 của TAND huyện Krông Nô; Thông báo số 1290/TB-CNVPĐKĐĐ
ngày 06/5/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai K “về việc từ chối giải
quyết hồ sơ”; Quyết định công nhận thỏa thuận của các đương sự s
35/2022/QĐST-DS ngày 09/8/2022 của TAND huyện Krông Nô, Quyết định công
nhận thỏa thuận của các đương sự số 39/2022/QĐST-DS ngày 28/9/2022 của
8
TAND huyện Krông Nô, Quyết định thi hành án theo yêu cầu số 12/QĐ-
CCTHADS ngày 06/10/2022 của Chi cục THADS huyện K, Quyết định thi hành
án theo yêu cầu số 105/QĐ-CCTHADS ngày 26/10/2022 của Chi cục THADS
huyện K, Quyết định thi hành án chủ động số 681/QĐ-CCTHADS ngày 19/8/2022
của Chi cục THADS huyện K, Quyết định thi hành án chủ động số 45/QĐ-
CCTHADS ngày 07/10/2022 của Chi cục THADS huyện K; Công văn số 851/CV-
CCTHADS ngày 30/11/2022 của Chi cục THADS huyện K “về việc phối hợp
trong việc thi hành án”; Quyết định hủy bỏ áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
số 01/2023/QĐ-HBBPKCTT ngày 03/01/2023 của TAND huyện Krông Nô, Quyết
định đình chỉ thi nh án số 21/QĐ-CCTHADS ngày 04/01/2023 của Chi cục
THADS huyện K (hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời); bản sao Công văn số
06/CV-CNVPĐKĐĐ, ngày 05/1/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai K
về việc trả lời hồ không đ điều kiện (do thực hiện Công văn số 851/CV-
CCTHADS ngày 30/11/2022 của Chi cục THADS huyện K); Phiếu cung cấp thông
tin địa chính số 74/PCC-CNVPĐKĐĐ ngày 10/3/2023 của Chi nhánh Văn phòng
đăng đất đai K; Phiếu cung cấp thông tin địa chính số 199/PCC-CNVPĐKĐĐ
ngày 03/7/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai K; Quyết định số
09/QĐ-CCTHADS ngày 28/11/2023 của Chi cục THADS huyện K “về việc cưỡng
chế biên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất”; Kết quả xem xét thẩm
định tại chỗ; kết quả định giá tài sản. Đây các tài liệu do đương sự cung cấp
Tòa án thu thập được theo đúng trình tự thủ tục được chấp nhận làm căn cứ để giải
quyết vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án, được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Về quan hệ pháp luật thẩm quyền giải quyết: Tại đơn khởi
kiện Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất được lập ngày 26/4/2022 tại Văn phòng công chứng Nguyễn Văn N; yêu cầu bị
đơn trả số tiền đã đặt cọc 2.080.000.000 đồng bồi thường cho Nguyên đơn số
tiền 2.080.000.000 đồng. Do đó, quan hệ pháp luật dân sự vTranh chấp hợp
đồng đặt cọc. Quá trình giải quyết, tại phiên tòa Nguyên đơn thay đổi yêu cầu
Công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được lập ngày 26/4/2022
tại Văn phòng công chứng Nguyễn Văn N; Nguyên đơn rút yêu cầu bị đơn trả số
tiền đã đặt cọc 2.080.000.000 đồng tiền bồi thường cho Nguyên đơn số tiền
2.080.000.000 đồng. Nay xác định lại quan hệ pháp luật tranh chấp “Tranh chấp
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” theo quy định tại khoản 3 Điều 26
của Bộ luật tố tụng dân s. Bđơn ông Nguyễn Văn H bà Đồng Thị H có địa chỉ
tại Thôn Đ, T, huyện K, tỉnh Đăk Nông nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết
của Tòa án nhân dân huyện Krông Nô, tỉnh Đăk Nông theo quy định tại điểm a
khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chi cục Thi hành án dân sự huyện K
do ông Mạnh Hồng S đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều
227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt Chi cục Thi hành án dân
sự huyện K do ông Mạnh Hồng S đại diện.
[2] Về nội dung khởi kiện:
9
[2.1] Xét hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Lại Nguyễn
V với ông Nguyễn Văn H, bà Đồng Thị H đã được Công chứng ngày
26/4/2022 tại Văn phòng công chứng Nguyễn Văn N địa chỉ số 03 đường Ngô Q,
thị trấn E, huyện C, tỉnh Đăk Nông đối với thửa đất số 26, tờ bản đồ số 21, diện
tích 31470 m
2
đất trồng cây lâu năm, địa chthửa đất tại thôn Đ, T, huyện K,
tỉnh Đăk Nông. Hội đồng xét xử xét thấy:
Các bên tham gia kết Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự, việc giao kết hợp đồng xuất phát t
ý chí tự nguyện của các bên, không blừa dối, ép buộc, mục đích nội dung của
giao kết hợp đồng: Không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức
hội. Hình thức của hợp đồng: Hợp đồng được lập thành văn bản được công
chứng đúng với quy định pháp luật. Bên nhận chuyển nhượng ông Lại Nguyễn
V đã thanh toán xong số tiền mua đất 2.080.000.000 đồng (Hai tỷ không
trăm tám mươi triệu đồng) cho bên chuyển nhượng ông Nguyễn Văn H, Đồng
Thị H; các bên ng xác nhận đã bàn giao đất tại thực địa từ 21/3/2022 cho đến
nay, các bên đã thực hiện đầy đcác quyền, nghĩa vụ dân sự của mình nêu trong
hợp đồng.
Như vậy, Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đảm bảo đầy đủ các
điều kiện hiệu lực của hợp đồng theo quy định tại các Điều 117, 118, 119, 500,
501 và Điều 502 của Bộ luật dân sự; đảm bảo đầy đủ các điều kiện chuyển nhượng
quyền sử dụng đất theo Điều 188 Luật đất đai.
Đến nay, ông Lại Nguyễn V khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn H,
Đồng Thị H tại Tòa án đề nghị công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất ngày 26/4/2022 giữa ông V ông H, H. Đối với ông H, H ý kiến
nhất trí toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông V nhưng do thửa đất số 26 tờ bản đồ số
21 đang bị biên thi hành án nên ông H H không thể làm thủ tục chuyển
nhượng quyền sđất theo quy định, vậy ông H H cũng yêu cầu và mong
muốn được tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất ngày
26/4/2022 cho ông V. Như vậy, các bên tham gia kết hợp đồng đều không
tranh chấp về hiệu lực của hợp đồng và đều đề nghị Tòa án công nhận hiệu lực của
hợp đồng.
Văn phòng công chứng Nguyễn Văn N địa chỉ số 03 đường Ngô Q, thị trấn E,
huyện C, Đăk Nông cũng trình bày đã thực hiện việc công chứng hợp đồng chuyển
nhượng quyền sdụng đất ngày 26/4/2022 giữa ông Lại Nguyễn V với ông
Nguyễn Văn H, bà Đồng Thị H là đúng quy định của pháp luật.
[2.2] Tại Quyết định công nhận thỏa thuận của các đương sự số
35/2022/QĐST-DS ngày 09/8/2022 của TAND huyện Krông Nô, Quyết định công
nhận thỏa thuận của các đương sự số 39/2022/QĐST-DS ngày 28/9/2022 của
TAND huyện Krông Nô. Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số
109/2022/QĐ-BPKCTT ngày 05/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện Krông
(đến ngày 03/01/2023 Tòa án nhân dân huyện Krông ban hành Quyết định Hủy
bỏ Biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với thửa đất được áp dụng số 01/2023/QĐ-
HBBPKCTT của Tòa án nhân dân huyện Krông Nô).
Xác định: Tại thời điểm 26/4/2022 ông V với ông H, H hợp đồng
chuyển nhượng thửa đất s26 thì chưa bản án hoặc quyết định nào hiệu lực
10
pháp luật hoặc một quyết định cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất và tài sản gắn
liền với đất đối với thửa đất số 26.
Như vậy, việc hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được Công
chứng ngày 26/4/2022 xảy ra trước thời điểm bản án hoặc quyết định nào hiệu
lực pháp luật hoặc một quyết định cưỡng chế biên quyền sử dụng đất tài sản
gắn liền với đất đối với thửa đất số 26. Do đó không căn cứ xác định việc ông
H, H hợp đồng chuyển nhượng sử dụng đất ngày 26/4/2022 là đtrốn tránh
nghĩa vụ trả nợ và trốn tránh nghĩa vụ trả nợ và trốn tránh nghĩa vụ thi hành án, tẩu
tán tài sản. Mặt khác tại các Quyết định công nhận thỏa thuận của các đương sự
nêu trên không điều khoản nào quy định về thế chấp tài sản thửa đất s26,
việc kết hợp đồng vay tài sản hợp đồng riêng lẻ, không liên quan đến nhau,
không chịu ràng buộc về quyền nghĩa vụ phải thanh toán tiền bằng thửa đất số
26. Ngoài ra pháp luật không cấm việc một nhân đang vay nợ người khác
không được chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho người thứ ba, bản thân
người thứ ba hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đúng quy định
phát luật ngay tình, không lỗi. Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa
ông V với ông H bà H không vi phạm Điều 6 Thông tư liên tịch số 14/2010/TTLT-
BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 26/7/2010 của Bộ pháp, Tòa án nhân dân tối
cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn một số vấn đề về thủ tục thi hành
án dân sự phối hợp liên ngành trong thi hành án dân sự. “1. Kể tthời điểm
bản án, quyết định thẩm người phải thi hành án bán, chuyển đổi, chuyển
nhượng, tặng cho, thế chấp, bảo lãnh, cầm cố tài sản của mình cho người khác,
không thừa nhận tài sản của mình mà không sử dụng khoản tiền thu được đế thi
hành án thì tài sản đó vẫn bị biên để thỉ hành án, trừ trường hợp pháp luật
quy định khác. Nếu tranh chấp thì Chấp hành viên hướng dân đương sự thực
hiện việc khởi kiện tại Tòa án để bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của mình. Hết
thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được thông báo không người khởi kiện thì
quan thi hành án xử lý tài sản để thi hành án”.
Tại khoản 4 Điều 4 Thông liên tịch số 11/2016/TTLT-BTP-TANDTC-
VKSNDTC ngày 01/8/2016 của Bộ pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm
sát nhân dân tối cao quy định một số vấn đề về thủ tục thi hành án dân sự phối
hợp liên ngành trong thi hành án dân sự 4. Đối với tiền, tài sản bản án, quyết
định của Tòa án tuyên tạm giđể bảo đảm thi hành án nhưng hết thời hiệu u cầu thi
hành án mà người được thi hành án không yêu cầu thi hành án và người phải thi hành án
đã thi hành xong khoản thu cho ngân sách nhà nước thì tiền, tài sản đó được trả lại cho
người phải thi hành án. Thủ tục trả lại tiền, tài sản trong trường hợp này được thực hiện
theo quy định tại Điều 126, Điều 129 Luật Thi hành án dân sự quy định pháp luật
khác có liên quan”.
Như vậy, Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông V với ông H
H ngày 26/4/2022 hiệu lực pháp luật, được Bộ luật dân sự ng nhận bảo
vệ như phân tích trên. Mặt khác tại biên bản làm việc ngày 24/01/2024 do Chi Cục
THADS làn chủ trì, tại buổi làm việc các đương sự (bao gồm người được thi hành
án, người phải thi hành án, người quyền lợi nghĩa vliên quan) thống nhất chờ
kết quả giải quyết của Tòa án. Tại phiên tòa Nguyên đơn, bị đơn thỏa thuận Công
nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã được Công chứng, do đó việc
11
thỏa thuận hợp đồng này phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó Hội đồng
xét xử cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn yêu cầu Công nhận hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã được Công chứng ngày 26/4/2022 tại
Văn phòng công chứng Nguyễn Văn N địa chỉ số 03 đường Ngô Q, thị trấn E,
huyện C, tỉnh Đăk Nông đối với thửa đất số 26, tờ bản đồ số 21, diện tích 31470
m
2
đất trồng cây lâu năm, địa chỉ thửa đất tại thôn Đ, T, huyện K, tỉnh Đăk
Nông theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác
gắn liền với đất số BL 921847, số vào sổ CH 01341 do Ủy ban nhân dân huyện K
cấp ngày 03/4/2013 mang tên ông Nguyễn Văn H, bà Đồng Thị H.
[2.3] Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ ngày 21/9/2023 của Tòa án, xác
định: Thửa đất số 26, tờ bản đồ số 21, diện tích 31470 m
2
đất trồng cây lâu năm,
địa chỉ thửa đất tại thôn Đ, T, huyện K, tỉnh Đăk Nông theo giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số BL
921847, số vào sổ CH 01341 do Ủy ban nhân dân huyện K cấp ngày 03/4/2013
mang tên ông Nguyễn Văn H, Đồng Thị H. Kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất
và khi lồng ghép với bản đồ giải thửa thì thửa đất đúng vị trí, trùng khớp với tờ bản
đồ.
[2.3] Kết quả định giá quyền sử dụng đất tài sản gắn liền trên đất thửa đất
số 26, tờ bản đồ số 21, tại thời điểm xét xử là 2.587.461.000 đồng.
[3] Quá trình giải quyết tại phiên tòa, Người đại diện theo ủy quyền của
Nguyên đơn rút yêu cầu không yêu cầu ông Nguyễn Văn H Đồng Thị H
trả cho ông Lại Nguyễn V số tiền 2.080.000.000 đồng (Hai tỷ không trăm tám
mươi triệu đồng) rút yêu cầu bồi thường cho Nguyên đơn số tiền 2.080.000.000
đồng (Hai tỷ không trăm m mươi triệu đồng). Tổng cộng 4.160.000.000 đồng
(Bốn tỷ một trăm sáu mươi triệu đồng). Hội đồng xét xử xét thấy, việc Nguyên đơn
rút yêu cầu khởi kiện là tự nguyện, không trái pháp luật, vậy cần căn cứ Điều
244 của Bộ luật tố tụng dân sự, đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của Nguyên đơn.
Nguyên đơn có quyền khởi kiện lại theo quy định của pháp luật.
[4] Xét bị đơn không đơn yêu cầu phản tố; người quyền lợi nghĩa vụ
liên quan không đơn yêu cầu độc lập nên Hội đồng xét xkhông xem xét giải
quyết.
[5] Xét đ ngh của Đại din Vin kim sát nhân dân huyn Krông v gii
quyết ni dung v án là có cơ s nên cn chp nhn.
[6]. Về tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ; tiền chi phí định giá tài sản;
tiền án phí dân sự sơ thẩm: Tại phiên tòa, Các đương sự thỏa thuận Nguyên đơn
nộp toàn bộ tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ; chi phí định giá tài sản; tiền án
phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39;
Điều 147; Điều 157; Điều 165; Điều 227; Điều 244; Điều 271; khoản 1 Điều 273
Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 188 Luật đất đai 2013; Điều 117; Điều 118; Điều 119; Điều 500;
Điều 501; Điều 502; Điều 503 của Bộ luật Dân sự; Căn cứ khoản 2 Điều 26 của
12
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn ông Lại Nguyễn Vũ V.
Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã được Công
chứng ngày 26/4/2022, theo công chứng số 4954, quyển 05/2022/TP/CC-
SCC/HĐGD tại Văn phòng công chứng Nguyễn Văn N địa chỉ số 03 đường Ngô
Q, thị trấn E, huyện C, tỉnh Đăk Nông giữa ông Lại Nguyễn Vũ V với ông Nguyễn
Văn H Đồng Thị H đối với thửa đất số 26, tờ bản đồ số 21, diện tích 31470
m
2
đất trồng cây lâu năm, địa chỉ thửa đất tại thôn Đ, T, huyện K, tỉnh Đăk
Nông theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác
gắn liền với đất số BL 921847, số vào sổ CH 01341 do Ủy ban nhân dân huyện K
cấp ngày 03/4/2013 mang tên ông Nguyễn Văn H, bà Đồng Thị H.
Ông Lại Nguyễn V được quyền liên hệ đến quan thẩm quyền đ
làm thủ tục cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
2. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Lại Nguyễn V đối với yêu cầu ông
Nguyễn Văn H Đồng Thị H trả cho ông Lại Nguyễn V số tiền
2.080.000.000 đồng (Hai tỷ không trăm tám mươi triệu đồng) Đình chỉ yêu cầu
bồi thường cho Nguyên đơn số tiền 2.080.000.000 đồng (Hai tỷ không trăm tám
mươi triệu đồng). Tổng cộng 4.160.000.000 đồng (Bốn tỷ một trăm sáu mươi triệu
đồng). Ông Lại Nguyễn V có quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu này theo quy
định của pháp luật.
3. Về tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và tiền chi phí định giá tài sản là
24.890.000 đồng. Ông Lại Nguyễn Vũ V thỏa thuận nhận nộp toàn bộ được trừ vào
số tiền 24.890.000 đồng ông Lại Nguyễn V đã nộp tạm ứng chi phí xem
xét, thẩm định tại chỗ và chi phí định giá tài sản.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng. Ông Lại
Nguyễn V thỏa thuận nhận nộp toàn bộ được trừ vào 56.080.000 đng tin án
phí ông V (người nộp thay: ông Đặng Anh T) đã nộp tại Chi cục Thi hành án
dân sự huyện K theo biên lai số 0003492, ngày 16 tháng 3 năm 2023. Hoàn trả ông
Lại Nguyễn V số tiền 55.780.000 đồng (Năm mươi lăm triệu bảy trăm tám
mươi nghìn đồng).
5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn, người quyền lợi nghĩa vụ liên
quan mặt tại phiên tòa quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ
ngày tuyên án thẩm; người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt quyền
kháng cáo bản án liên quan đến quyền nghĩa vcủa mình trong thời hạn 15
ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ
theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người đựơc thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thu hành án hoặc
bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7, 7a, 7b 9 Luật Thi hành án
dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành
án dân sự”.
13
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Đắk Nông;
- VKSND huyện Krông Nô (02 bản);
- Chi cục THA.DS huyện K;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Võ Thị Nhi
Tải về
Bản án số 28/2024/DS-ST Bản án số 28/2024/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 28/2024/DS-ST Bản án số 28/2024/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất