Bản án số 28/2019/HS-ST ngày 24/09/2019 của TAND TP. Lai Châu, tỉnh Lai Châu về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 28/2019/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 28/2019/HS-ST ngày 24/09/2019 của TAND TP. Lai Châu, tỉnh Lai Châu về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tội danh: 249.Tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Lai Châu (TAND tỉnh Lai Châu)
Số hiệu: 28/2019/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 24/09/2019
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LAI CHÂU
TỈNH LAI CHÂU
Bản án số: 28/2019/HS-ST
Ngày 24 - 9 - 2019
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên t: Bà Nguyễn Bích Nga
Các hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Kim Quy
Ông Giàng A Chỉnh
- Thư ký phiên toà: Ông Phan Hồng Phúc Thư ký Toà án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu tham gia phiên
toà: Ông Đào Mạnh Hân, Kiểm sát viên.
Ngày 24/9/2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lai Châu xét xử
thẩm công khai vụ án hình sự thụ số: 29/2019/TLST-HS ngày 15 tháng 8 năm
2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2019/XXST-HS ngày 11
tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo:
Họ n: Nguyễn Văn A; n gọi khác: Kng; Sinh m 1997 ti tỉnh
Điện Biên; Nơi ĐKHKTT: Tổ 13, phường M, thành phố Đ, tỉnh Đ; Nghnghiệp:
Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; n
giáo: không; Con ông Nguyễn Anh B, sinh năm 1968 ã chết) con Nguyễn
Thị T, sinh năm 1973; V con: Ca có; Bo có 02 anh em, bị cáo là con thứ nht
trong gia đình; Tiền sự: Không; Tiền án: Kng.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 01/6/2019 đến ngày 07/6/2019 được áp dụng
biện pháp ngăn chặn bằng bảo lĩnh cho đến nay (bị cáo mặt tại phn a).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Khong 14 gi 50 phút ngày 01/6/2019, ti khu vực trước cửa số nhà 280
đường Nguyễn Trãi thuộc bản N, phường Q, thành ph C, tnh C Nguyễn Văn A
cầm trong lòng bàn tay phải 01 gói Methamphetamine được gói bên ngoài bằng
băng dính màu đen, bên trong 02 gói được gói bên ngoài bằng túi nilon mầu
trắng, trong là chất tinh thể màu trắng. A đang tìm nơi để sử dụng thì bị quan
điều tra Công an thành phố C phát hiện bắt qutang thu giữ số ma túy trên A tự
giác giao nộp. Ti Cơ quan cnh t điu tra Công an thành ph C, tnh C Nguyễn
Văn A khai nhn, ngun gc chất ma túy trên Quân có được là do một người tên T
cho Quân tại bến xe khách tỉnh LC, (A không biết tuổi, địa chỉ, ch của T).
Cùng ngày quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C khám xét khẩn
cấp chỗ ở, đồ vật của A tại khu trọ bản N, phường Q, thành phố C, tỉnh C.
Nguyễn Văn A đã tự giác giao nộp 01 gói được gói bên ngoài bằng 2 lớp, lớp
ngoài túi ni lon màu màu trắng hàn kín mép, miệng túi dạng khóa zíp viền
màu hồng, lớp trong mảnh giấy màu trắng loại giấy vệ sinh trong cùng một
viên nén màu xanh. Nguyễn Văn A khai nhận ma túy tổng hợp A tàng trữ mục
đích để sử dụng cho bản thân, nguồn gốc A được viên ma túy trên do mua
của một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ tại bến xe khách tỉnh C với giá
600.000đồng.
Ngày 01/6/2019 quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C thành lập hội
đồng mở niêm phong, xác định khối lượng và gửi mẫu giám định, xác định khối
lượng 02 gói tinh thể màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn A trong quá trình bắt quả
tang khối lượng 0,27 gam (trong đó gói 1 0,14 gam, gói 2 0,13 gam)
(Bút lục 24,25). Một viên nén màu xanh thu giữ trong quá trình khám xét khẩn cấp
có khối lượng là 0,35gam (Bút lục 26,27). Toàn bộ số vật chứng trên gửi giám định
tại Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh C, không hoàn lại mẫu vật giám định.
Các vấn đề khác của vụ án:
Về nguồn gốc các chất ma túy trên (0,27 gam 0,35 gam) Cơ quan cảnh t
điều trang an thành phC thu giữa được của bịo Nguyễn Văn A, theo lời khai
của bị cáo: Bị o mua một viên nén màu xanh của một người đàn ông không lai
lịch tại bến xe khách tỉnh C. Kết quả điều tra không xác định được người đàn ông đã
bán một viên nén màu xanh cho bị cáo ai nên không cơ sở để điều tra làm rõ;
Đối với nguồn gốc 02 gói được gói bên ngoài bằng túi nilon mầu trắng, bên trong là
chất tinh thể màu trắng, A được do một người tên T cho A tại bến xe khách
tỉnh LC (A không biết tuổi, địa chỉ chỗ của T). Kết quả điều tra không xác định
được người đàn ông tên T đã cho bị cáo ma túy là ai nên không có cơ sở đđiều tra
làm rõ. Ngoài lời khai duy nhất của bị cáo, không i liệu khác để chứng minh
nên không đủ cơ sở để xử lý bị cáo A về việc phạm tội hai lần trở lên.
Kết luận giám định số 243/GĐ-KTHS ngày 03/6/2019 của Phòng kỹ thuật
hình sự Công an tỉnh C kết luận 01 mẫu vật (viên nén màu xanh) thu giữ của
Nguyễn Văn A trong quá trình khám xét gửi đến giám định khối lượng
0,35gam là ma túy loại MDMA (Bút lục 32);
Kết luận giám định số 244/GĐ-KTHS ngày 03/6/2019 của Phòng kthuật
hình sự Công an tỉnh C kết luận 02 mẫu vật (ký hiệu M1, M2) gửi đến giám định
có tổng khối lượng là 0,27gam là ma túy loại Methamphetamine (Bút lục 33);
Cáo trạng số 26/CT-VKSTP ngày 12/8/2019 của Viện kiểm sát nhân dân
thành phố C, tỉnh C đã truy tố Nguyễn Văn A về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma
tuý theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố C giữ quyền công ttại phiên
toà giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo
Nguyễn Văn A phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Về hình phạt chính: Đề nghị Hội đồng xét xáp dụng điểm i khoản 1 Điều
249; điểm s, t khoản 1 khoản 2 Điều 51của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn
Văn A từ 12 tháng đến 16 tháng tù, bị cáo được khấu trừ thời gian tạm gi 06
ngày, thời hạn tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án; Hình phạt bổ sung: đề
nghị hội đồng xét x xem t miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo;
- Vbin pháp tư pp: Áp dng điểm a khoản 1 Điu 47 Bộ luật hình s, điểm a
khoản 2 Điu 106 ca Blut ttng nh sự, đề nghị hi đồng xét xử tuyên:
+ Tch thu, tiêu hy đối vi 01 phong niêm phong phong công văn
ca Công an thành ph C (Theo h sơ bên trong 01 mnh băng dính màu đen,
02 túi ni lon màu trắng) vật chứng còn li sau khi ly mu gi giám định thu gi
ca Nguyễn Văn A trong quá trình bắt quả tang ngày 01/6/2019.
+ Tch thu, tiêu hy đối vi 01 phong bì niêm phong phong công văn
ca Công an thành ph C (Theo h sơ bên trong 01 túi ni lon màu trắng được
hàn kín mép miệng túi dạng khóa zíp viền màu hồng, 01 mảnh giấy màu trắng
loại giấy vệ sinh) vật chứng còn li sau khi ly mu gi giám định thu gi ca
Nguyễn Văn A trong quá trình khám xét khẩn cấp ngày 01/6/2019.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Quá trình điều tra tại phiên tòa bị cáo không ý kiến hay khiếu nại về
Cáo trạng, Kết luận nêu trên.
Tại lời nói sau cùng bị cáo ăn n, hối cải về nh vi phạm tội của bản thân và
đề nghị Hội đồng t xử xem t cho bị o được mc án thấp nhất để bị o được
sớm trvề với gia đình hội làm công dân có ích.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, n cứ o các i liệu trong hồ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng t xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của quan điều tra Công an thành phố
C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố C, Kiểm sát viên trong quá
trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thtục quy định
của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xtại phiên tòa, bị cáo
không ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của quan tiến
hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng,
người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Khong 14 gi50 phút ngày 01/6/2019, tại khu vực trước cửa số nhà 280
đường Nguyễn Trãi thuộc bản N, phường Q, thành ph C, tnh C Nguyễn Văn A
đang tàng trữ 0,27gam Methamphetamine thì bị phát hiện bắt quả tang. Cùng ngày
khám xét khẩn cấp chỗ ở, đồ vật của Nguyễn Văn A tại phòng trọ thuộc bản N,
phường Q, thành phố C, tỉnh C, Nguyễn Văn A đã tự giác giao nộp 0,35gam
MDMA của Quân đang tàng trữ. Mục đích tàng trữ số ma túy trên (0,27gam
Methamphetamine 0,35gam MDMA) của Nguyễn Văn A để sử dụng cho bản
thân.
Nguyễn Văn A phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tổng khối lượng chất
ma túy mà Quân đã tàng trữ theo Điều 4 Nghị định 19/2018/NĐ-CP, ngày
02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất
ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì xác định tổng khối lượng
của Methamphetamine MDMA Nguyễn Văn A tàng trữ mục đích để sử
dụng cho bản thân 0,62gam (0,27gam Methamphetamine + 0,35gam MDMA =
0,62 gam), hành vi của Nguyễn Văn A cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma
túy” thuộc trường hợp quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
1. Người nào tàng trữ trái phép ma túy ma không nhằm mục đích mua bán,
vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau
đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
i. 02 chất ma túy trở lên tổng khối lượng hoặc thtích của các chất
đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong
các điểm từ điểm h đến điểm o khoản này.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên a phù hợp với biên bản bắt người
phạm tội quả tang, biên bản khám xét, phù hợp với vật chứng thu giữ và c tài liệu
chứng cứ kháctrong hồ sơ vụ án.
Bo Nguyễn Văn A là người đủ ng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận
thức được việcng tr trái phép chất may là vi phạm pháp luật.nh vi đó là nguy
hiểm cho xã hội, có nh chất nghiêm trng, m phạm đến chế độ độc quyn qun
các cht ma t của Nc, gây mt trt tự trị an tn địan, ý thức được điều đó
nhưng để thỏa mãn nhu cầu của bản thân bị cáo vẫn c ý thực hiện hành vi phạm ti.
Như vậy, có đủ cơ sở để khẳng định: Hành vi của bị cáo Nguyn n A có đủ
yếu tố cấu thành tộiTàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1
Điều 249 Bộ luậtnh sự.
Vì vậy, quan điểm xử trách nhiệm hình sự của đại diện Viện kiểm sát nhân
n tnh phố Lai Châu tại phiên tòa có cơ sở, không oan sai, đúng nời, đúng tội,
đúng pháp luật.
[3] Về nhân thân các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
đối với bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền s.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo
đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đồng thời
trong giai đoạn điều tra bị cáo đã tích cực hợp tác với quan điều tra Công an
thành phố C trong việc phát hiện tội phạm. Công an thành phố C đã có công văn số
149a/CV ngày 24/7/2019 về việc đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Nguyễn
Văn A. Bị cáo có bố đẻ là ông Nguyễn Anh B được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam tặng thưởng Huân chương chiến sỹ vẻ vang, Huân chương
quân kỳ quyết thắng. Đây các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệmnh sự quy định tại
điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không tình tiết tăng
nặng trách nhiệmnh sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Hội đồng xét xử thấy trên sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho hội của
hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy cần
thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống hội một thời gian nhất định, đồng thời
cần một mức hình phạt phù hợp đủ để bị cáo thời gian cai nghiện, nhằm tiếp
tục răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho hội.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 điều 249 Bộ luật hình
sự, bcáo thể bị áp dụng hình phạt bsung phạt tiền. Tuy nhiên theo các tài
liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy
bị cáo lao động tự do thu nhập không ổn định, điều kiện kinh tế còn khó khăn
mặt khác bị cáo còn phải chấp hành án phạt tù nên Hội đồng xét xử cần quyết định
miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về vật chứng của vụ án
+ Đối vi 01 phong bì niêm phong phong công văn ca Công an tnh
ph C (Theo h sơ bên trong 01 mnh băng dính u đen, 02 túi ni lon màu
trng) vt chng còn li sau khi ly mu gi giám định thu gi ca Nguyễn Văn A
trong quá trình bt qu tang ngày 01/6/2019 01 phong niêm phong phong
công văn ca Công an thành ph C (Theo h sơ bên trong 01 túi ni lon u
trng được hàn kín mép ming túi dng khóa zíp vin màu hng, 01 mnh giy
màu trng loi giy v sinh) vt chng còn li sau khi ly mu gi giám định thu
gi ca Nguyễn Văn A trong quá trình khám xét khn cp ngày 01/6/2019. Hội
đồng xét xử xét thấy những vật chứng trên công cụ, phương tiện phạm tội nên
cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự
điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
[6] Về án phí: Buộc bị o phải chịu án phí hình sự thẩm theo quy định tại
khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
n cứ o điểm i khoản 1 Điu 249, các đim s, t khoản 1 khoản 2 Điu 51,
điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khon 2 Điều 106 Bộ luật t tụng hình
sự; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí và lệ phí
Tòa án; Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự:
[1] Tuyên bbị cáo Nguyễn Văn A phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma
tuý”.
[2] Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn A 15 (Mười lăm) tháng tù,
bị cáo được khấu trừ thời gian tạm giữ 06 (Sáu) ngày, bị cáo còn phải chấp hành là
14 (Mười bốn) tháng 24 (Hai mươi bốn) ngày tù. Thời hạn tính từ ngày bị cáo
vào trại chấp hành án.
[3] Về vật chứng:
+ Tch thu, tiêu hy đối vi 01 phong niêm phong phong công văn ca
Công an thành ph Lai Cu (Theo h sơn trong là 01 mnh băngnh màu đen, 02
túi ni lon màu trng) vt chng còn li sau khi ly mu gi giám định thu gi ca
Nguyn Văn A trong quá trình bt qu tang ngày 01/6/2019.
+ Tch thu, tiêu hy đối vi 01 phong bì niêm phong phong bì ng văn ca
Công an thành ph Lai Cu (Theo h sơ bên trong 01 túi ni lon màu trng đưc hàn
kín mép ming túi dng khóa zíp có vin màu hng, 01 mnh giy màu trng loi giy
v sinh) vt chng còn li sau khi ly mu gi giám định thu gi ca Nguyễn n A
trong quá trình khám t khn cp ny 01/6/2019.
(Tình trng vt chng theo biên bn giao nhn vt chng hi 15 gi 00 phút
ngày 15/8/2019 gia Công an thành ph Lai Châu, tnh Lai Châu Chi cc thi
hành án dân s thành ph Lai Châu, tnh Lai Châu).
[4] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí
hình sự sơ thẩm.
[5] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày
kể từ ngày tuyên án lên Tòa án nhân dân cấp trên.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh C;
- VKSND tỉnh C;
- Công an thành phC;
- VKSND thành phố C;
- Chi cục THADS thành phố C;
- Sở tư pháp tỉnh C;
- Bị cáo;
- Lưu HSVA.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ toạ phiên t
Nguyễn Bích Nga
HI ĐỒNG XÉT X SƠ THM
Các Hi thm nhân dân Thm phán Ch ta phiên tòa
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Lai Châu;
- VKSND tỉnh Lai Châu;
- Công an thành phố Lai Châu;
- VKSND thành phố Lai Châu;
- Chi cục THADS thành phố Lai Châu;
- Sở tư pháp tỉnh Lai Châu;
- Bị cáo;
- Lưu HSVA.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ toạ phiên t
Nguyễn Bích Nga
Tải về
Bản án số 28/2019/HS-ST Bản án số 28/2019/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất