Bản án số 275/2021/DS-PT ngày 24/12/2021 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp bồi thường thiệt hại tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 275/2021/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 275/2021/DS-PT ngày 24/12/2021 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp bồi thường thiệt hại tài sản
Quan hệ pháp luật: Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Tháp
Số hiệu: 275/2021/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 24/12/2021
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Công ty Dasco khởi kiện yêu cầu Tòa án xem xét buộc Nguyễn Ngọc Thắng với tư cách là Giám đốc Chi nhánh, chịu mọi trách nhiệm về hoạt động của Chi nhánh, có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho Công ty Dasco các khoản thiệt hại số tiền thất thoát là 2.610.751.495 đồng (Hai tỷ sáu trăm mười triệu bảy trăm năm mươi mốt nghìn bốn trăm chín mươi lăm đồng) và thiệt hại phát sinh trên số tiền 2.610.751.495đ tính bằng lãi suất theo quy định của Ngân hàng tính từ ngày nộp đơn khởi kiện đến ngày Nguyên đơn thực nhận đủ số tiền bồi thường này.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - hạnh phúc
Bản án số: 275 /2021/DS-PT
Ngày 24/12/2021
V/v Tranh chấp bồi thường
thiệt hại về tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Nguyễn Tấn Tặng
Các Thẩm phán:
Ông Sỹ Danh Đạt
Nguyễn Huỳnh Thị Hương Thủy
- Thư phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn Thư Tòa án nhân dân
tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân
tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:
ông Nguyễn Tấn Tài- Kiểm sát viên.
Trong ngày 16, 24/12/2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp
xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số: 529/2020/TLPT-DS ny 30 tng
12 m 2020, về việc Tranh chấp bồi thường thiệt hi vi sản”.
Do bản án dân sự thẩm số: 41/2021/DS-ST ngày 16 tháng 9 năm 2020
của Tòa án nn dân huyện Tp ời bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 70/2021/QĐ-PT ngày
25 tháng 02 năm 2021, giữa:
* Nguyên đơn: Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Dịch vụ Phát triển Nông
nghiệp Đ (gọi tắt Công ty D); Người đại diện theo pháp luật của công ty:
Ông Ngọ Văn T, Chức vụ: Giám đốc. (Theo Công ty TNHH-DVPT NN Đ
đăng ký thay đổi lần thứ 20 ngày 16/11/2021).
Người đại diện hợp pháp: Nguyễn Thị Diễm Thúy K- Chức vụ: Kế
toán trưởng. Là người đại diện theo ủy quyền (Theo Giấy ủy quyền số
29.2021/DASCO/UQ ngày 15/12/2021 của Giám đốc Công ty DASC);
Địa chỉ trụ sở chính: Số, Tổ, ấp An Đ, An B, huyện Cao L, tỉnh Đồng
Tháp.
* Bị đơn: Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1979;
2
Địa chỉ: Ấp Lợi A, xã Thanh M, huyện Tháp M, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện hợp pháp của bđơn: Chị Phan Thị Thảo Q, sinh m
1996. Là người đại diện theo ủy quyền, theo văn bản ủy quyền chứng thực số:
812, quyển số: 01/2019-SCT/CK ngày 19/9/2019.
Đa ch: S, p An Đ, xã An B, huyn Cao L, tnh Đng Tháp.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn Nguyễn Ngọc
Thắng: Luật Nguyễn Xuân N Công ty Luật hợp danh Anh Em - Đoàn
Luật sư tỉnh Đồng Tháp.
Địa chỉ: Số, Quốc lộ, phường Mỹ P, thành phố Cao L, tỉnh Đồng Tháp.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Phan Thanh V, sinh năm 1979.
Địa chỉ: Ấp, xã Phong M, huyện Cao L, tỉnh Đồng Tháp.
2. Hồ Văn M, sinh năm 1983.
Địa chỉ: Ấp, xã Mỹ L, huyện Cao L, tỉnh Đng Tháp.
* Người kháng cáo: Ông Nguyễn Ngọc T là bị đơn.
* Kháng nghị: Quyết định kháng ngh phúc thm số 12/QĐKNPT-VKS-DS
ny 01/10/2020 ca Viện trưng Vin kiểm sát nn dân huyn Tháp M.
Bà K, chQ, Luật mt tại phn tòa. Ông V, ông M vắng mặt ti phn
tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Dịch vụ Phát
triển Nông nghiệp ĐT (gọi tắt là Công ty D) trình bày:
Ngày 01/10/2011, Công ty D ra Quyết định số 35/QĐ-DAS về việc mở
Chi nhánh Công ty TNHH MTV Dịch vụ phát triển nông nghiệp ĐT tại
Vương Quốc Campuchia.
Ngày 01/10/2011, Công ty D ký Hợp đng lao đng số: 0118/.DAS
vi ông Nguyễn Ngọc T. Đến ngày 06/12/2012, Giám đc Công ty D ký quyết
đnh điều đng T gichức vPhó png Bán hàng-Marketing Công ty kiêm Gm
đc điều nh Chi nnh Campuchia (CPC).
Ngày 02/01/2013, Nguyễn Ngọc T trực tiếp tuyển dụng hai nhân sự: Ông
Phan Thanh V giữ chức vụ Kế toán (Hợp đồng lao động số: 03/HĐLĐ), Giám
đốc Công ty bổ nhiệm Phan Thanh V Kế toán trưởng Chi nhánh vào tháng
6/2013, Quyết định số 38/QĐ/DAS ngày 12/6/2013); Ông Phan Hoàng T gi
3
chức vụ Nhân viên kinh doanh kiêm Thông dịch viên (Hợp đồng lao đồng số:
01/HĐLĐ).
Kể từ thời điểm bắt đầu hoạt động cho đến ngày 31/12/2012, Chi nhánh
D CPC chưa phát sinh công nợ do sản phẩm và thị trường tiêu thụ còn mới mẽ
nên cần xây dựng thị trường, quảng thương hiệu sản phẩm. Xét thấy, yêu
cầu trên của Chi nhánh D CPC là thiết yếu, Giám đốc Công ty D cho phép Chi
nhánh bán gối đầu hoặc cho khách hàng nợ 40 ngày. Tính đến 9/2013 công nợ
của Chi nhánh D CPC do ông Nguyễn Ngọc T điều hành đã lên đến
1.620.232.000 đồng.
Sau khi được báo cáo tình hình kinh doanh của Chi nhánh D CPC và phát
hiện có nhiều công nợ chưa được xác nhận định kỳ, tại Biên bản họp giao ban
ngày 06/8/2013 Giám đốc ng ty D đã quán triệt chủ trương tạm ngưng bán
nợ cho khách hàng, tập trung thu hồi nợ đề nghị Giám đốc Chi nhánh
Nguyễn Ngọc T chỉ đạo nhân viên đối chiếu công nợ thu hồi nợ tồn đọng.
Tuy nhiên, ông T không những không thực hiện chủ trương tiếp tục
những hành vi sai phạm là thất thoát tài sản, cụ thể như sau:
Tng 11/2013, T và Vệ v Vit Nam thì Phan Hoàng T t m kho xuất bán
hàng cho ông L (Tên gi kc L - Cc trưng Cc Hi quan tnh Pray Veng) vi
tổng giá tr 591.365.000 đồng mà không có xác nhn công nợ.
Năm 2014, ông T tý bán trả chậm không được phép của Ban Lãnh
đạo Công ty với stiền 399.154.465 đồng (Bán cho Nông trường Dam Chanh
S và cho khách hàng Dam Sóc T).
Công ty D đã yêu cầu ông T nhiều lần giải trình biện pháp khắc
phục đồng thời tổ chức nhiều cuộc họp để nghe ông T trình bày. Cụ thể tại
các cuộc họp như sau:
Biên bản họp ngày 26/9/2014, tại Hội trường Công ty D;
Biên bản họp ngày 17/12/2014, tại Chi nhánh D CPC;
Biên bản họp ngày 23/12/2014, tại Chi nhánh D CPC;
Biên bản họp ngày 25/12/2014, tại Chi nhánh D CPC, ông T, ông V, ông
T đã chấp nhận chịu hoàn toàn trách nhiệm vcác khoản công nợ phát sinh
trong quá trình hoạt động Chi nhánh D CPC.
Năm 2015, Công ty cử đại diện xác minh tại Campuchia thì được biết các
khách hàng đã thánh toán tiền hàng cho Công ty nhưng ông T khai do Phan
Hoàng T đã tự ý chiếm đoạt không nộp cho Công ty. Trên thực tế, Phan
Hoàng T đã bỏ trốn nên không đối chất được.
4
Căn cứ theo Hợp đồng lao động đã với Nguyễn Ngọc T, căn cứ theo
các quy định của Luật lao động về trách nhiệm của cán bộ quản Bộ luật
dân sự năm 2005 về bồi thường thiệt hại sự tnguyện cam kết chịu trách
nhiệm về các khoản công nợ của Nguyễn Ngọc T với tư cách là cán bộ quản
lý, người lao động của Chi nhánh. Công ty D khởi kiện yêu cầu Tòa án xem
xét buộc Nguyễn Ngọc T với cách Giám đốc Chi nhánh, chịu mọi trách
nhiệm vhoạt động của Chi nhánh, trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho
Công ty D các khoản thiệt hại stiền thất thoát 2.610.751.495 đồng (Hai tỷ
sáu trăm mười triệu bảy trăm m mươi mốt nghìn bốn trăm chín mươi lăm
đồng) thiệt hại phát sinh trên số tiền 2.610.751.495đ tính bằng lãi suất theo
quy định của Ngân hàng tính từ ngày nộp đơn khởi kiện đến ngày Nguyên đơn
thực nhận đủ số tiền bồi thường này.
- Bđơn ông Nguyễn Ngọc T, người đại diện theo ủy quyền của ông T
là chị Phan Thị Thảo Q, trình bày:
Năm 2011, Công ty D thành lập Chi nhánh tại bổ nhiệm ông T làm
Giám đốc Chi nhánh. Khi Chi nhánh đi vào hoạt động gồm 05 người: Giám
đốc Chi nhánh ông Nguyễn Ngọc T, ông Hồ Văn M Phó Giám đốc Chi nhánh,
ông Phan Thanh V Kế toán, ông Phan Hoàng T Nhân viên thị trường, N
Nhân viên kinh doanh. Ngày 06/12/2012, Công ty điều ông T vViệt Nam
làm Phó Phòng bán hàng kiêm Giám đốc Chi nhánh Campuchia. Hoạt động
Chi nhánh Campuchia do Hồ Văn M điều hành. Hoạt động bán hàng của Chi
nhánh theo chính sách Công ty lúc đầu bán gối đầu hoặc cho nợ 40 ngày. Giai
đoạn đầu khách hàng thanh toán đúng hạn nhưng sau do lợi dụng tình hình
chính trị Campuchia bất ổn nên khách hàng nợ đến tháng 9/2013
1.658.306.000 đồng.
Tháng 11/2013 nhân viên ông T tự ý m kho bán hàng trị giá
578.640.000 đồng, sự việc báo cho Lãnh đạo Công ty D. Ông T cùng với
ông T, ông V đến gặp người mà ông T bán hàng, ông T trao đổi với họ hẹn
30 ngày thanh toán, ông T đem về xác nhận nợ dấu của ông L (người
mua hàng).
Năm 2014, Công ty D chuyển sản phẩm qua bán cho hai khách hàng
Dam Chanh S Dam Sóc T với tổng nợ 400.654.000 đồng, khi đến xác
nhận công nợ thì khách hàng cho là đã trả cho Phan Hoàng T.
5
Năm 2015, Công ty nhờ ông K Lai hỗ trợ xác nhận nợ thu hồi nợ.
Qua 2 lần phát thơ mời Luật của ông xác nhận khách hàng nói đã trả
tiền cho Tr trước đó.
Nay, Công ty yêu cầu bồi thường thiệt hại 2.610.751.495 đồng, ông T
không đồng ý bồi thường. Yêu cầu làm trách nhiệm những người liên quan
là ông Hồ Văn M, ông Phan Thanh V và truy tìm ông Phan Hoàng Tr.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Hồ Văn M trình bày:
Anh M làm Phó Giám đốc Chi nhánh cuối năm 2012 đến khoảng 9/2013.
Phương thức bán hàng của Chi nhánh Campuchia nhập hàng tCông ty D.
Anh với anh Phan Hoàng Tr đến các đại Campuchia để chào hàng,
thì anh Tr phiên dịch ra khách hàng đặt hàng với anh Tr liên hệ qua số
điện thoại với anh Tr anh Tr báo lại với kế toán ra hóa đơn. Anh Tr nhận
hàng, giao hàng và thu tiền nộp cho thủ quỹ. Do đặc điểm tình hình
Campuchia không thể bán hàng tiền mặt được nên anh anh T xin ý kiến
Giám đốc, Giám đốc chỉ đạo cho bán hàng trả chậm 40 ngày hoặc gối đầu.
Lúc đầu khách hàng trả đúng hạn, về sau khách hàng trả không đúng hạn do
tình hình an ninh Campuchia bất ổn. Khi Quyết định điều về Công ty, bàn
giao công nợ 1.789.561.000 đồng nguyên nhân như sau: Anh không biết tiếng
Campuchia nên việc mua bán hàng nhận tiền đều do anh Tr đảm nhiệm,
anh không kiểm tra được, chỉ nhắc nhở anh Tr thì lúc đó anh Tr nói khách
hàng viện nhiều lý do; Số ng nợ trên thì anh V đối chiếu với anh Tr
1.789.561.000đ, thực tế những hóa đơn xuất đi thì nhiều khi khách hàng
không nhận giao lại. Công nợ đối chiếu nhập trên máy. Thời gian anh phụ
trách Chi nhánh Campuchia, anh đều có báo với anh T, anh T báo lại Công ty.
Hàng tháng hoạt động Chi nhánh Campuchia thì anh cùng với anh V về ng
ty báo cáo.
Thiệt hại Công ty anh không đồng ý bồi thường vì anh là người làm công
ăn lương và trước khi anh bàn giao, Công ty đã thành lập Đoàn giám sát về
công nợ và đã xác nhận từng công nợ.
- Ngưi có quyền li, nga v liên quan ông Phan Thanh V trình bày:
Chi nhánh Công ty tại Campuchia, anh làm kế toán kiêm thủ quỹ, còn
anh T làm Giám đốc, chị N phụ anh làm kế toán, phiên dịch, trực điện thoại
bán hàng. Còn anh Tr nhân viên bán hàng và dịch tiếng Campuchia. Khi thành
lập Chi nhánh anh T qua Chi nhánh khoảng 01 tháng, anh M quyết định
bổ nhiệm Phó Giám đốc Chi nhánh thì điều anh M qua Chi nhánh điều hành
6
hoạt động kinh doanh và rút anh T về Việt Nam. Khi bán hàng anh người
xuất hóa đơn, đại mua tiền mặt không ký vào hóa đơn, mua trả chậm t
vào anh người giữ để đối chiếu. Anh Tr người bán hàng, thu tiền về
nộp cho anh, giữa anh anh Tr đối chiếu hàng tháng đưa danh sách
công nợ cho anh Tr đi thu. Về chị N, trong hợp đồng ghi chị là thủ quỹ nhưng
không giữ tiền mà tiền do anh giữ.
Lúc đầu Lãnh đạo Công ty không cho bán trả chậm phải thu tiền mặt
nhưng Chi nhánh bán tiền mặt thì không có doanh thu nên anh T, anh M xin ý
kiến Lãnh đạo Công ty cho bán trả chậm hoặc gối đầu. Lúc đầu khách hàng
cũng thực hiện tốt nhưng sau đó tình hình Campuchia bất ổn nên nợ bị trì trệ,
anh và anh T báo về Công ty hỗ trợ đưa anh Th qua thu nợ nhưng anh Tr
không dẫn đi xác nhận nợ nên anh Th về báo Công ty D, sau đó có họp nhưng
không có biện pháp gì. Về công nợ có xác nhận công nợ nhưng không đầy đủ,
không biết bản chính có đưa nhờ ông L, ông S hay không thì anh không biết vì
anh đã bàn giao lại. Anh T, anh Tr có thu bỏ túi riêng hay không thì anh không
biết. Hồ sơ sổ sách anh đã bàn giao xong không còn trách nhiệm trong phần
thiệt hại.
Tại quyết định bản án dân sự sơ thẩm số: 41/2021/DS-ST ngày 16 tng 9
m 2020 củaa án nn n huyện Tháp Mưi đã tuyên xử:
1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH MTV Dịch
vụ phát triển nông nghiệp Đ nay Công ty cổ phần Dịch vụ phát triển nông
nghiệp Đ về yêu cầu tính lãi theo mức lãi suất ngân hàng kể từ ngày nộp đơn
khởi kiện đến ngày nhận đủ tiền bồi thường.
2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH
MTV Dịch vụ phát triển nông nghiệp Đ nay Công ty cổ phần Dịch vụ phát
triển nông nghiệp Đ đối với số tiền 2.221.597.030 đồng.
3. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH MTV Dịch
vụ phát triển nông nghiệp Đ nay Công ty cổ phần Dịch vụ phát triển nông
nghiệp Đ đối với số tiền 399.154.465 đồng (Ba trăm chín mươi chín triệu một
trăm năm mươi bốn nghìn bốn trăm sáu mươi lăm đồng).
Buộc ông Nguyễn Ngọc T bồi thường cho Công ty TNHH MTV Dịch vụ
phát triển nông nghiệp Đ nay Công ty cổ phần Dịch vụ phát triển nông
nghiệp Đ số tiền 399.154.465 đồng (Ba trăm chín mươi chín triệu một trăm
năm mươi bốn nghìn bốn trăm sáu mươi lăm đồng).
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
7
Công ty TNHH MTV Dịch vụ phát triển nông nghiệp Đ nay Công ty
cổ phần Dịch vụ phát triển nông nghiệp Đ phải chịu án phí dân sthẩm
76.231.941 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự
thẩm đã nộp 57.221.503 đồng theo biên lai thu số 02753 ngày 05/7/2016
của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười; Công ty TNHH MTV Dịch
vụ phát triển nông nghiệp Đ nay Công ty cổ phần Dịch vụ phát triển nông
nghiệp Đ còn phải nộp thêm 19.010.000 đồng (Mười chín triệu không trăm
mười nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Nguyễn Ngọc T phải chịu 19.958.000 đồng (Mười chín triệu chín
trăm năm mươi tám nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Ngoài ra bản án thẩm còn tuyên về thời hạn, quyền kháng cáo
quyền, nghĩa vụ, thời hiệu thi hành án của các đương sự.
Sau khi xét xử thẩm, ngày 29 tháng 9 m 2020, ông Nguyễn Ngọc T
bị đơn kháng cáo một phần bản án thẩm số 41/2020/DS-ST ny 16
tháng 9 năm 2020 của a án nhân dân huyện Tháp Mười. Ông T không
đồng ý trả cho Công ty TNHH MTV Dịch vụ Pt triển Nông nghiệp Đ số
tiền 399.154.495 đồng (Ba trăm chín ơi chín triệu, một trăm năm ơi bốn
nghìn, bốn trăm chín mươi lăm đồng).
Ny 01/10/2020, Viện tởng Vin kiểmt nn dân huyn Thápi ban
hành Quyết đnh kháng ngh phúc thm s 12/QĐKNPT-VKS-DS đối với bản án
số: 41/2020/DS-ST ngày 16 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện
Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp. Vin trưng Vin kiểm sát nhân dân huyn Tp
Mưi đề nghị hủy bản án dân sự thẩm: Do việc thu thập chứng cứ chứng
minh chưa được thực hiện đầy đủ, đồng thời tranh chấp trong vụ án hiện liên
quan đến đương sự là người liên quan cùng với tài sản ở Campuchia.
Tại phiên tòa phúc thẩm các đương skhông thỏa thuận được với nhau
về việc giải quyết vụ án.
Luật bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của ông T cho rằng ông T đã
thực hiện đúng chủ trương, chỉ đạo của Giám đốc Công ty D cho phép bán
hàng nợ chậm trả hoặc gối đầu, thể hiện theo biên bản ngày 06/8/2013, Hợp
đồnh kinh tế số 53-2014/HĐKT ngày 07/5/2014, Kế hoạch số 12/KH.Cam
ngày 29/4/2014, xác nhận của ông Hùng Nh ngày 26/8/2020. Việc khách
hàng nợ chưa trả không phải trách nhiệm của ông T, về chứng cứ không
ràng, chỉ bản sao không ch của người mua hàng đề nghị chấp nhận
kháng cáo của ông T, không chấp nhận khởi kiện của Công ty D.
8
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tỉnh, phát biểu
việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán Hội đồng xét xử đảm bảo đúng quy
định của Bộ luật tố tụng dân sự, các đương sự tham gia tố tụng chấp hành tốt
quy định của pháp luật đề xuất hướng giải quyết là chấp nhận kháng nghị
hủy bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ, được kiểm tra tại
phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, lời phát biểu của Kiểm
sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Ngày 01/10/2011, Công ty D Hợp đồng lao động số:
0118/HĐLĐ.DAS với ông Nguyễn Ngọc Thắng. Đến ngày 01/11/2011, Công
ty D ra Quyết định số 35/QĐ-DAS về việc mở Chi nhánh Công ty TNHH
MTV Dịch vụ phát triển nông nghiệp Đ tại Vương Quốc Campuchia, đồng
thời bổ nhiệm ông Nguyễn Ngọc T làm Giám đốc Chi nhánh. Ngày
06/12/2012 Công ty D bãi miễn chức vụ Giám đốc Chi nhánh cùng ngày
06/12/2012 bổ nhiệm ông T làm Phó Phòng bán hàng - Marketing Công ty D
kiêm Giám đốc điều hành Chi nhánh tại Campuchia (CPC).
[2] Ngày 02/01/2013, Nguyễn Ngọc T trực tiếp tuyển dụng 02 nhân sự
gồm: Ông Phan Hoàng Tr làm Nhân viên kinh doanh (kiêm Thông dịch viên
theo Hợp đồng lao đồng số: 01/HĐLĐ) ông Phan Thanh V giữ chức vụ Kế
toán (Hợp đồng lao động số: 03/HĐLĐ). Ngày 12/6/2013, Giám đốc Công ty
D bổ nhiệm Phan Thanh V Kế toán trưởng Chi nhánh (Quyết định số
38/QĐ/DAS ngày 12/6/2013).
[3] Do sản phẩm thị trường mới, Giám đốc ng ty D cho phép Chi
nhánh bán gối đầu hoặc cho khách hàng nợ 40 ngày. Tính từ ngày Chi nhánh
đi vào hoạt động đến 9/2013 công nợ của Chi nhánh D CPC do ông Nguyễn
Ngọc T điều hành đã lên đến 1.620.232.000 đồng, nên Giám đốc Công ty D đã
quán triệt chủ trương tạm ngưng bán nợ cho khách hàng, tập trung thu hồi nợ
đề nghị Giám đốc Chi nhánh Nguyễn Ngọc T chỉ đạo nhân viên đối chiếu
công nợ thu hồi nợ tồn đọng, nhưng ông T các nhân viên Chi nhánh
Campuchia không thực hiện chỉ đạo của Lãnh đạo Công ty D cụ thể: Nhân
viên Chi nhánh tự ý lấy hàng bán ông T thống nhất bán trả chậm Nông
trường Dam Chanh S cho khách hàng Dam Sóc T số tiền 399.154.465
đồng.
9
[4] Công ty D khởi kiện yêu cầu buộc ông Nguyễn Ngọc T với tư cách là
Giám đốc Chi nhánh, chịu mọi trách nhiệm vhoạt động của Chi nhánh,
trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho Công ty D các khoản thiệt hại số tiền thất
thoát là 2.610.751.495 đồngtính bằng lãi suất theo quy định của Ngân hàng
tính từ ngày nộp đơn khởi kiện.
Ông T không đồng ý.
Án sơ thẩm xử buộc ông T bồi thường số tiền 399.154.465 đồng.
Ông T không đồng đơn kháng cáo, Viện trưởng Viện kiểm t nhân
dân huyện Tháp Mười có Quyết định kháng nghị.
[5] Xét kháng cáo của ông Nguyễn Ngọc T không đồng ý bồi thường số
tiền 399.154.465 đồng. Xét thấy, ông T hợp đồng lao động với Công ty D
không xác định thời hạn được Công ty D bổ nhiệm chức vụ Giám đốc Chi
nhánh tại Campuchia chịu trách nhiệm việc quản lý, điều hành Chi nhánh tại
Campuchia. Ông T thừa nhận tính đến cuối năm 2014 thì các khách hàng còn
nợ số tiền 2.610.751.495 đồng, trong đó 02 khách hàng ông Dam Chanh
S ông Dam Sóc T n nợ số tiền 399.154.465 đồng. Số tiền 399.154.465
đồng được xác định bán vào thời điểm ttháng 6-8 năm 2014, sau thời
điểm Giám đốc Công ty D chỉ đạo ngưng bán nợ (tháng 10 năm 2013).
[6] Theo các hóa đơn do Công ty D cung cấp, mặc dù không có bản chính,
nhưng ông T thừa nhận 02 khách hàng ông Dam Chanh S và ông Dam Sóc
T còn nợ số tiền 399.154.465 đồng. Theo các hóa đơn ông Tr trực tiếp bán
hàng Lãnh đạo Chi nhánh có ông T ký tên.
[7] Theo ttường trình ngày 27/01/2015, bản khai ngày 03/5/2017 (bút
lục 75, 160), ông T thừa nhận từ tháng 10/2013 Giám đốc Công ty D ch
đạo Chi nhánh chấm dứt bán nợ cho khách hàng theo kế hoạch số
12/KH.Cam ngày 29/4/2014, Giám đốc Công ty D duyệt là Chi nhánh bán tiền
mặt, không bán thiếu.
[8] Tại Biên bản cuộc họp ngày 17/12/2014 và ngày 25/12/2014 có thể hiện
c khon nợ Dam Chanh S Dam c T. Ông T, ông V ông Tr thống nhất
tên o biên bản chịu trách nhim về số nợ trên (Dam Chanh S Dam c
T).
[9] Theo khoản 2, Điều 3 của Hợp đồng lao động ngày 01/11/201 được
giữa Công ty D với ông T quy định: Nghĩa vụ quyền lợi của người lao
động:...
2. Nghĩa vụ:
10
Hoàn thành những công việc đã cam kết trong hợp đồng lao động. Chấp
hành lệnh điều hành sản xuất-kinh doanh, nội quy kỹ luật lao động, an toàn lao
động...bồi thường vi phạm vật chất: Tùy theo mức độ vi phạm thiệt hại
để đưa ra mức bồi thường tương ứng với quy định trong nội quy lao động.
Điều 21: Ni quy lao động của ng ty D năm 2008 quy định: Ngưi lao
động vi phạm chức trách, nhiệm vụ được giao do cố nh làm sai hoặc thiếu tinh
thn trách nhiệmy thiệt hại thì phải bồi thưng toàn bộ thiệt hại...
[10] Đối với việc ông T cho rằng đã thực hiện đúng theo chủ trương
sự chỉ đạo của Giám đốc Công ty D trong việc mua bán hàng hóa cho phép
Chi nhánh bán hàng hóa cho khách hàng chậm trả, số tiền nợ phát sinh do
khách hàng không thực hiện trả đúng hẹn, dẫn đến nợ. Đồng thời ông T
cung cấp xác nhận ngày 26/6/2020 của ông Hùng Nh - Phó Giám đốc
Công ty D để chứng minh Công ty D cho phép bán cho khách hàng chậm trả
tiền, nhưng theo nội dung giấy xác nhận ngày 26/8/2020 của ông Nh không
thể hiện là sau tháng 10 năm 2013, Lãnh đạo Công ty D cho phép Chi nhánh
bán hàng hóa cho khách hàng chậm trả tiền ông T không chứng cứ
chứng minh sau tháng 10 năm 2013, Lãnh đạo Công ty D cho phép Chi
nhánh bán hàng hóa cho khách hàng chậm trả tiền.
Như vậy, ông T là Giám đốc Chi nhánh quản lý, điều hành Chi nhánh mà
không thực hiện chỉ đạo của Giám đốc Công ty D không bán hàng hóa nợ
cho khách hàng, nhưng ông T vẫn bán hàng hóa cho khách hàng nợ, nên ông T
đã vi phạm Hợp đồng lao động Nội quy lao động, cho nên Công ty D yêu
cầu ông T bồi thường số tiền mà 02 khách hàng (Dam Chanh S và Dam Sóc T)
còn nợ 399.154.465 đồng. Án sơ thẩm buộc ông T bồi thường số tiền
399.154.465 đồng là có căn cứ, nên kháng cáo của ông T là không có căn cứ.
[11] Xét kháng nghị của Viện kiểm sát, cho rằng Tòa án cấp thẩm thu
thập chứng cứ chứng minh chưa được thực hiện đầy đủ, đồng thời tranh
chấp trong vụ án hiện liên quan đến đương sngười liên quan cùng với tài
sản Campuchia, nên không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân
dân huyện Tháp Mười. Xét thấy, Công ty D khởi kiện yêu cầu ông T với tư
cách người quản lý, điều hành Chi nhánh không thực hiện đúng sự chỉ đạo
của Lãnh đạo Công ty D phải bồi thường thiệt hại cho Công ty D tổng cộng là
2.610.751.495 đồng. Ông T, ông V thừa nhận khách hàng còn nợ
2.610.751.495 đồng (trong đó số tiền 399.154.465 đồng khách hàng
Dam Chanh S và Dam Sóc T còn nợ). Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng
không thu được nợ không phải hoàn toàn lỗi của ông T-Giám đốc Chi nhánh,
được sự cho phép của Giám đốc Công ty D cho phép bán hàng chậm trả
11
hoặc bán gối đầu...nên không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công
ty D đối với số tiền 2.221.597.030 đồng, Công ty D không kháng cáo. Ông T
thừa nhận 02 khách hàng Dam Chanh S và Dam Sóc T còn nợ 399.154.465
đồng, nên không cần thiết thu thập các chứng cứ khác.
Chi nhánh của Công ty D được thành lập hoạt động tại Campuchia
trực thuộc Công ty D. Theo Công D từ cuối năm 2014, thì Chi nhánh ngừng
hoạt động, ngày 30/6/2015 Chi nhánh bàn giao toàn bộ sổ sách cho Công ty D
có trụ sở chính tại Số 539A, Tổ 20, ấp An Định, xã An Bình, huyện Cao Lãnh,
tỉnh Đồng Tháp, ông T hiện đang sinh sống định tại ấp Lợi An, xã Thanh
Mỹ, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp, không còn Campuchia, Tòa án
nhân dân huyện Tháp Mười thụ giải quyết đúng thẩm quyền, nên Hội
đồng xét xử không chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện
Tháp Mười.
[12] Đối với ông Phan Hoàng Tr hợp đồng lao động với ông Nguyễn
Ngọc T người đại diện Chi nhánh Campuchia, hiện nay không xác định
được địa chỉ của ông Tr. Công ty D khởi kiện chỉ yêu cầu ông T bồi thường
thiệt hại với cách người quản lý, điều hành, trong trường hợp ông T
yêu cầu những người liên quan cùng chịu trách nhiệm hoàn trả lại stiền
ông T bồi thường cho Công ty D thì sẽ được giải quyết bằng vụ án dân sự
khác.
[13] Xét đề nghị của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông T
chấp nhận kháng cáo của ông T, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
Công ty D cũng như phần nhn định, Hội đồng xét xử không chấp nhận đề ngh
của Luật sư.
Xét, đ nghị hủy bn án thẩm ca Viện kiểm sát của Viện kim t nhân
dân tnh Đồng Tháp là kng có s, nên Hi đồng xét xử không chấp nhận.
Từ những sở trên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của
ông Nguyễn Ngọc T, không chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện
Kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Các phần còn lại của bản án thẩm không kháng cáo, kháng nghị
hiệu lực kể từ ngày hết hạn kháng cáo kháng nghị.
Do giữ nguyên bản án sơ thẩm, nên ông T phải chịu tiền án phí dân sư
phúc thẩm theo quy định tại khoản 1, Điều 148 Bộ Luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
12
Căn cứ Điều 26, 35, 39, 157, 244; Khoản 1, Điều 148; Khoản 1, Điều 308
Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 584, 585, 688 Bộ Luật Dân s năm 2015; Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án tuyên xử:
Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Ngọc T.
Không chấp nhận kháng nghị của của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân
dân huyện Tháp Mười.
Giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 41/2021/DS-ST ny 16 tháng 9 năm 2020
của Tòa án nn dân huyện Tháp ời đã tuyên xử:
1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH MTV Dịch
vụ phát triển nông nghiệp Đ nay Công ty cổ phần Dịch vụ phát triển nông
nghiệp Đ về yêu cầu tính lãi theo mức lãi suất ngân hàng kể từ ngày nộp đơn
khởi kiện đến ngày nhận đủ tiền bồi thường.
2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH
MTV Dịch vụ phát triển nông nghiệp Đ nay Công ty cổ phần Dịch vụ phát
triển nông nghiệp Đ đối với số tiền 2.221.597.030 đồng (Hai tỷ hai trăm hai
mươi mốt triệu năm trăm chín mươi bảy nghìn không trăm bao mươi đồng).
3. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH MTV Dịch
vụ phát triển nông nghiệp Đ nay Công ty cổ phần Dịch vụ phát triển nông
nghiệp Đ đối với số tiền 399.154.465 đồng (tính tròn 399.154.000 đồng, ba
trăm chín mươi chín triệu một trăm năm mươi bốn nghìn đồng).
Buộc ông Nguyễn Ngọc T bồi thường cho Công ty TNHH MTV Dịch vụ
phát triển nông nghiệp Đ nay Công ty cổ phần Dịch vụ phát triển nông
nghiệp Đ số tiền 399.154.465 đồng (tính tròn 399.154.000 đồng, ba trăm chín
mươi chín triệu một trăm năm mươi bốn nghìn đồng).
Kể tngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án mà
người phải thi hành án chưa thi hành án xong, thì hàng tháng người phải thi
hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất
quy định tại lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại
Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
3. Về án phí:
3.1 Công ty TNHH MTV Dịch vụ phát triển nông nghiệp Đ nay Công
ty cổ phần Dịch vụ phát triển nông nghiệp Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm
là 76.231.941 đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ
thẩm đã nộp 57.221.503 đồng theo biên lai thu số 02753 ngày 05/7/2016
của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười; Công ty TNHH MTV Dịch
13
vụ phát triển nông nghiệp Đ nay Công ty cổ phần Dịch vụ phát triển nông
nghiệp Đ còn phải nộp thêm 19.010.000 đồng (Mười chín triệu không trăm
mười nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
3.2 Ông Nguyễn Ngọc T phải chịu 19.958.000 đồng tiền án phí dân sự sơ
thẩm 300.000 đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm. Số tiền tạm ứng án phí
dân sự phúc thẩm của ông T theo biên lai thu số 0006460 ngày 29/9/2020
300.000 đồng, được khấu trừ vào tiền án phí. Ông T còn phải nộp19.958.000
đồng (Mười chín triệu chín trăm năm mươi tám nghìn đồng) tiền án phí dân
sự, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại
Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải
thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án,
tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các
Điều 6, 7, 7a, 7b Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án
được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND Tỉnh;
- TAND huyện Tháp Mười;
- CCTHADS huyện Tháp Mười;
- Phòng KTNV-THA TA Tỉnh;
- Các đương sự;
- Lưu: hồ sơ vụ án (T).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚCTHẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Tấn Tặng
Tải về
Bản án số 275/2021/DS-PT Bản án số 275/2021/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất