Bản án số 270/2026/HS-ST ngày 26/09/2026 của TAND tỉnh Ninh Bình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 270/2026/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 270/2026/HS-ST ngày 26/09/2026 của TAND tỉnh Ninh Bình
Tội danh:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Ninh Bình
Số hiệu: 270/2026/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 26/09/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 31/03/2026, tại khu vực cầu Ô, thôn T, xã M, tỉnh Ninh Bình, do mâu thuẫn nhỏ nhặt trong sinh hoạt, Hoàng Văn T sử dụng dao dài 32,5cm, phần lưỡi dao dài 21cm phần rộng nhất của lưỡi là 6cm, phần cán bằng gỗ dài 11,5cm (Loại dao bầu có tính sát thương cao và thuộc danh mục vũ khí quân dụng), đâm 01 nhát vào vùng bả vai phải và 01 nhát vào ngực phải của anh Nguyễn Văn N. Hậu quả anh N bị gẫy xương sườn 3 bên phải một điểm, tổn thương màng phổi một bên không di chứng và để lại các sẹo vết thương tương ứng với các vị trí bị tổn thương; dẫn đến, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 12% .
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 270/2026/HS-ST Bản án số 270/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 270/2026/HS-ST Bản án số 270/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NINH BÌNH
Bản án số: 270/2026/HS-ST
Ngày 26 - 9 - 2026
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Thủy;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Tùng và bà Trần Thị Kim Dung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa:
Bà Bùi Thị Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình xét
xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 228/2026/TLST-HS ngày
08 tháng 9 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
259/2026/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 9 năm 2026, đối với bị cáo:
Hoàng Văn T, sinh năm 1985 tại Ninh Bình; nơi cư trú: Thôn T, xã M,
tỉnh Ninh Bình; số Căn cước công dân: ************; nghề nghiệp: Lao động
tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không;
quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Xuân T1 và bà Đinh Thị L; có vợ Phạm
Thị H và 03 con, lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2011; tiền án: Không, tiền
sự: Ngày 25/10/2023 bị Toà án nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định áp
dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 24
tháng đến ngày 31/10/2025 chấp hành xong; nhân thân: Ngày 20/05/2013 bị
UBND huyện T, tỉnh Nam Định đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc, với thời gian
12 tháng; ngày 27/11/2018 bị Toà án nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định
xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 17/9/2020 bị Toà án nhân
dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định xử phạt 15 tháng về tội “Trộm cắp tài
sản”; ngày 22/12/2021 bị Công an huyện T, tỉnh Nam Định xử phạt vi phạm
hành chính bằng hình thức “Cảnh cáo” về hành vi “Mua số lô, số đề”; ngày
25/08/2022 bị Toà án nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định xử phạt 12
tháng về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 04 tháng 4 năm
2026, chuyển tạm giam từ ngày 13 tháng 4 năm 2026 đến nay. Hiện đang bị tạm
giam tại Trại tạm giam số 3 - Công an tỉnh N; có mặt.
- Người bị hại: Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1981; nơi cư trú: Thôn T, xã
M, tỉnh Ninh Bình; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
2
- Người làm chứng: Ông Phạm Văn C, sinh năm 1958; anh Trần Văn T2,
sinh năm 1985; anh Trần Văn C1, sinh năm 1983; chị Vũ Thị H1, sinh năm
1984; chị Phạm Thị H, sinh năm 1984; anh Trần Văn T3, sinh năm 1992 và anh
Nguyễn Văn H2; đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 31/03/2026, nhóm các anh Nguyễn Văn N,
Trần Văn C1, Trần Văn T2 và Lưu Văn P đang uống rượu tại quán thịt chó của
anh Vũ Văn H3 ở thôn T, xã M, tỉnh Ninh Bình gặp nhóm của Hoàng Văn T
gồm các anh Hoàng Văn Đ, Vũ Xuân H4, Trần Văn P1 cũng uống rượu tại bàn
bên cạnh. Trong khi ăn uống, anh N sang bàn của T để mời rượu và vô tình làm
rơi vỡ cốc rượu trên bàn; T cho rằng anh N quậy phá nên xảy ra cãi chửi nhau và
được mọi người can ngăn, anh N đi về bàn còn T tiếp tục ngồi uống rượu với
bạn. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, cả hai nhóm uống rượu xong và ra ngoài
ngồi uống nước còn T đi đến chỗ anh N dùng tay phải đấm 02 phát vào người
anh N. Thấy vậy, mọi người can ngăn T và sự việc dừng lại tại đây. Sau đó,
nhóm của anh N đi về cầu Ô thuộc thôn T, xã M đứng chơi còn T điều khiển xe
máy nhãn hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát (BKS): 18L1-232.14 đi đến nhà
anh N để giải quyết mâu thuẫn nhưng không gặp nên điều khiển xe máy đi đến
cầu Ô thì gặp nhóm anh N. Thấy vậy, anh N chạy đuổi theo xe máy của T và
cầm tay T kéo lại nhưng không được. T điều khiển xe máy đi về nhà lấy 01 con
dao (dạng dao bầu, kích thước dài khoảng 32,5cm, phần lưỡi dao dài 21 cm, bản
rộng nhất khoảng 6cm, phần cán dao bằng gỗ dài 11,5cm) dắt vào cạp quần rồi
điều khiển xe mô tô quay lại khu vực cầu Ô, với mục đích để đánh anh N. Khi
đến cầu Ô, T điều khiển xe mô tô lao về phía anh N nhưng anh Nho tránh được.
T tiếp tục điều khiển xe đi qua cầu và dừng xe tại khu vực ngã ba đường dưới
chân cầu. T xuống xe, đi bộ đến đứng đối diện anh N và rút dao ra; anh N thách
thức “Mày có giỏi thì đâm tao đi”. Sau đó, T và anh N dùng tay xô đẩy nhau.
Anh N dùng tay đẩy vào ngực T, khi anh N đang trong tư thế người hơi lao về
phía trước, đầu hơi cúi về phía ngực T; T dùng tay phải rút dao ở phía sau lưng
ra, nắm chặt chuôi dao trong lòng bàn tay, phần chuôi cán dao hướng lên phía
ngón cái, toàn bộ phần lưỡi dao thò ra ngoài, hướng xuống dưới về phía ngón út.
T giơ dao lên cao đâm một phát từ trên xuống dưới trúng vào bả vai phải của
anh N. Theo phản xạ, anh N đứng thẳng người, quay đầu lại nhìn về vùng cơ thể
bị đâm. T tiếp tục cầm dao ở tay phải, đâm 01 phát vào vùng ngực phải của anh
N với tư thế, phương hướng tương tự như phát đâm đầu tiên. Sau khi bị đâm,
anh N đẩy T ra bỏ chạy và hô: “Thằng T nó đâm chết tôi rồi”. Thấy vậy, T đút
dao vào trong túi quần bên phải rồi chạy đuổi theo anh N khoảng 20m thì T
không đuổi nữa và quay lại khu vực để xe mô tô. Chị Vũ Thị H1 ở cùng thôn
với T nhìn thấy trong túi quần phải của T có 01 con dao bầu nên đã rút ra ném
xuống đất. Khi anh N chạy được khoảng 100m thì gặp Nguyễn Văn H2 (con
3
trai) điều khiển xe mô tô đi đến. Hiểu thấy anh bị thương đã đỡ anh N lên xe và
chở anh N đến nhà anh Phạm Văn C ở cùng thôn để sơ cứu còn T đi xe mô tô
theo sau. Tại nhà anh C, T tiếp tục chửi anh N và được mọi người can ngăn. Sau
khi gây án xong, T bỏ trốn khỏi địa phương đến ngày 04/04/2026 ra đầu thú.
Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã tiến hành khám nghiệm hiện trường;
tiến hành thu giữ 01 (một) con dao dài 32,5cm, phần lưỡi dao dài 21cm, phần
rộng nhất của lưỡi là 6cm, phần cán bằng gỗ dài 11,5cm, lưỡi dao có bám dính
chất màu nâu đỏ nghi là máu; 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Sirius màu đỏ
đen, BKS: 18L1-232.14, số khung FC30FY114494, số máy 1FC3114508.
Tại Kết luận giám định số 157/KLTTCT-KTHS của Trung tâm pháp y tỉnh
N kết luận: “Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28 tháng 8 năm 2019
của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định
pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể
của Nguyễn Văn N, tại thời điểm giám định là 05% (năm phần trăm), áp dụng
phương pháp cộng tại Thông tư. Cơ chế hình thành thương tích: Do vậy nhọn có
lưỡi sắc trực tiếp gây nên”.
Ngày 19/06/2026, Phòng K Công an tỉnh N đã ban hành Kết luận giám
định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 3173/KLTTCT-KTHS, kết
luận: “Đối chiếu bảng 1 - tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích ban
hành kèm theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định
tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định
pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của từng tổn
thương như sau: Sẹo vai phải kích thước trung bình: 2% (áp dụng nguyên tắc 1,
3, C, Mục I.2 Chương 8); Sẹo lồng ngực phải kích thước lớn: 3% (áp dụng
Nguyên tắc 1, 3 Chương 8, Mục I.3 Chương 8); S phía ngoài núm vú phải kích
thước nhỏ: 1% (áp dụng Nguyên tắc 1,3 Chương 8, Mục I.1 Chương 8); Gẫy
xương sườn 3 bên phải một điểm, can tốt: 2% (áp dụng Mục II.1 Chương 3);
Tổn thương màng phổi một bên không di chứng: 5% (áp dụng Mục III.1 Chương
3). Áp dụng phương pháp xác định tỷ lệ phần trăm cơ thể quy định tại Thông tư
số 22/2019/TT-BYT, ngày 28/8/2019 của Bộ Y, xác định tổng tỷ lệ phần trăm tổn
thương cơ thể của Nguyễn Văn N tại thời điểm giám định là 12% (mười hai
phần trăm). Cơ chế hình thành thương tích: Do vật nhọn có lưỡi sắc gây nên”.
Tại Kết luận giám định số 1657/KL-KTHS ngày 07/04/2026 của Phòng K
Công an tỉnh N kết luận: “Mẫu vật gửi giám định ký hiệu PS1 là dao có tính sát
thương cao, quy định tại Phụ lục 5 “Danh mục dao có tính sát thương cao”
Thông tư số 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ C2 quy định chi tiết một
số điều của Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ”.
Tại Kết luận giám định Pháp y về mẫu vật số 10/KLMV-TTPY ngày
10/4/2026 của Trung tâm Pháp y tỉnh N kết luận “Chất màu nâu đỏ bám dính
trên tăm bông thu trên con dao có ADN nhiễm sắc thể thường của Nguyễn Văn N”.
Ngày 25/6/2026 Cơ quan Cảnh sát điều tra ban hành Công văn số
2936/CSHS-Đ2 gửi Bệnh viện Đ1, đề nghị Bệnh viện cung cấp thông tin đối với
4
trường hợp bệnh nhân Nguyễn Văn N nếu không được cấp cứu, điều trị kịp thời
có nguy hiểm đến tính mạng không? Vết thương của bệnh nhân Nguyễn Văn N
có phải là vị trí nguy hiểm trên cơ thể con người không? Ngày 16/03/2026, Bệnh
viện Đ1 đã có Công văn số 1046/BVNĐ-KHTH trả lời như sau: “Đối với nội
dung Cơ quan Cảnh sát điều tra đề nghị cung cấp, Bệnh viện không đủ cơ sở
thông tin để trả lời các nội dung ngoài hồ sơ bệnh án của người bệnh”.
Tại Kết luận giám định 4447/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh N đã
Kết luận: “Không phát hiện dấu vết tẩy xóa, thay đổi sửa chữa, đóng đục lại số
khung, số máy của xe mô tô gửi giám định”.
Ngày 03/08/2026, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N phối hợp cùng
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình, Phòng K và Trại tạm giam số 3 - Công
an tỉnh N tiến hành thực nghiệm điều tra để yêu cầu Hoàng Văn T trình bày và
thực hiện lại hành vi phạm tội. Kết quả, Hoàng Văn T đã trình bày, thực hiện lại
toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với nội dung vụ án và tài liệu điều tra đã thu
thập được.
Về vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 (một) con
dao dài 32,5cm, phần lưỡi dao dài 21cm, phần rộng nhất của lưỡi là 6cm, phần
cán bằng gỗ dài 11,5cm, lưỡi dao có bám dính chất màu nâu đỏ (nghi máu) và là
hung khí trong vụ án; 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA sirius màu đỏ đen,
BKS: 18L1-232.14, số khung FC30FY114494, số máy 1FC3114508 là tài sản
hợp pháp của Hoàng Văn T.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại
số tiền 1.000.000 đồng và bị hại không có yêu cầu, đề nghị gì khác.
Tại Cáo trạng số 184/CTVKSNBH ngày 07 tháng 9 năm 2026 của Viện
kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình đã truy tố Hoàng Văn T về các tội “Cố ý gây
thương tích” và “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại điểm đ
khoản 2 Điều 134 và khoản 1 Điều 304 của Bộ luật Hình sự.
Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố
và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm các tội “Cố ý
gây thương tích” và “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”. Áp dụng điểm đ
khoản 2 Điều 134; khoản 1 Điều 304; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều
55 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Hoàng Văn T từ 36 tháng tù đến 42
tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” và 18 tháng tù đến 24 tháng tù về tội “Sử
dụng trái phép vũ khí quân dụng”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Hoàng Văn T
phải chấp hành chung của hai tội từ 04 năm 06 tháng tù đến 05 năm 06 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; trả lại bị cáo chiếc xe máy đã
thu giữ; tịch thu tiêu huỷ con dao mà bị cáo dùng để gây án và buộc bị cáo phải
chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với quan điểm của đại diện Viện kiểm
sát nhân dân tỉnh Ninh Bình.
5
Lời nói sau cùng của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử tạo điều kiện để bị cáo
được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an
tỉnh N, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình, Kiểm sát viên
trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ
tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên
tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng đều không có ý kiến hoặc khiếu nại
về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến
hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Đối với những người vắng mặt tại
phiên toà, đã được triệu tập hợp lệ một số có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, một
số vắng mặt không có lý do nhưng đã có lời khai trong hồ sơ vụ án; bị cáo và đại
diện Viện kiểm sát đều đề nghị xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử
theo thủ tục chung.
[2] Về tội danh, tính chất mức độ tội phạm
[2.1] Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Văn T khai nhận các tình tiết
ghi trong Cáo trạng đúng với diễn biến của vụ án, lời khai của bị cáo phù hợp
với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 31/03/2026, tại khu vực cầu Ô, thôn T, xã M, tỉnh
Ninh Bình, do mâu thuẫn nhỏ nhặt trong sinh hoạt, Hoàng Văn T sử dụng dao
dài 32,5cm, phần lưỡi dao dài 21cm phần rộng nhất của lưỡi là 6cm, phần cán
bằng gỗ dài 11,5cm (Loại dao bầu có tính sát thương cao và thuộc danh mục vũ
khí quân dụng), đâm 01 nhát vào vùng bả vai phải và 01 nhát vào ngực phải của
anh Nguyễn Văn N. Hậu quả anh N bị gẫy xương sườn 3 bên phải một điểm, tổn
thương màng phổi một bên không di chứng và để lại các sẹo vết thương tương
ứng với các vị trí bị tổn thương; dẫn đến, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 12% nên
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình không truy tố bị cáo về tội “Giết người”
là có căn cứ.
Hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện sự côn đồ và coi thường pháp luật;
việc bị cáo sử dụng dao (thuộc danh mục vũ khí quân dụng) để thực hiện hành vi
phạm tội là rất nguy hiểm cho xã hội; bản thân bị cáo có đủ năng lực trách
nhiệm hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình
truy tố bị cáo Hoàng Văn T về các tội “Cố ý Gây thương tích” và “Sử dụng trái
phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 và khoản 1
Điều 304 của Bộ luật Hình sự và Bản luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa có
căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.
6
[2.2] Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do
bị cáo gây ra: Hành vi của bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật, gây ảnh
hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; đồng thời, gây hoang mang, bất
bình trong quần chúng nhân dân và cùng một lúc bị cáo phạm hai tội, đều thuộc
tội phạm nghiêm trọng được quy định tại Điều 9 của Bộ luật Hình sự. Do vậy,
cần phải xử lý nghiêm và áp dụng một hình phạt tương xứng với tính chất, mức
độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, cũng như nhân thân, các tình tiết
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhằm cải tạo, giáo dục riêng và để bị cáo thấy đó
làm bài học cảnh tỉnh; đồng thời, phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
[3] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
[3.1] Về nhân thân: Bị cáo Hoàng Văn T có nhân thân rất xấu mới chấp
hành xong Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tháng 10 năm 2025, ba
lần bị Toà án nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định xử phạt tù về tội
“Trộm cắp tài sản”; ngoài ra còn bị Công an huyện N, tỉnh Nam Định xử phạt
hành chính về hành vi “Mua số lô, số đề”.
[3.2] Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách
nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
[3.3] Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành
khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại
và sau khi phạm tội bị cáo đã đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ
luật Hình sự.
[4] Về hình phạt: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội
cùng một lúc bị cáo phạm hai tội. Như vậy, thể hiện sự coi thường pháp luật nên
cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc và tổng hợp hình phạt của nhiều tội theo quy
định tại Điều 55 của Bộ luật Hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo cần phải cách
ly khỏi xã hội một thời gian như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát mới có tác
dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho toàn xã hội. Do bị cáo không có
nghề nghiệp ổn định và mới đi cai nghiện bắt buộc xong nên Hội đồng xét xử
không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Hoàng Văn T là phù hợp với
khoản 5 Điều 304 của Bộ luật Hình sự.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, Hoàng Văn T đã tác động gia
đình bồi thường cho bị hại (anh Nguyễn Văn N) số tiền 1.000.000 đồng. Nay,
anh N không yêu cầu T phải bồi thường thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra
xem xét.
[6] Đối với vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 con dao do
bị cáo dùng để đâm người bị hại là hung khí do Hoàng Văn T sử dụng để gây án
nên tịch thu tiêu huỷ là phù hợp với Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106
của Bộ luật Tố tụng hình sự. Riêng chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda YAMAHA
7
Sirius màu đỏ - đen mang BKS: 18L1-232.14 là tài sản hợp pháp của bị cáo
không liên quan đến hành vi phạm tội. Vì vậy, Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo
là phù hợp với Điều 48 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng
hình sự.
[7] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định
của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; khoản 1 Điều 304; điểm b, s khoản 1,
khoản 2 Điều 51; Điều 47; Điều 48; Điều 38 và Điều 55 của Bộ luật Hình sự.
Các Điều 106, 136, 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích” và tội
“Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”.
2. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 36 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”
và 18 tháng tù về tội “Sử dụng vũ khí quân dụng”. Tổng hợp hình phạt chung
của hai tội buộc Hoàng Văn T phải chấp hành hình phạt chung là 04 (bốn) năm
06 (sáu) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 04 tháng 4 năm 2026.
3. Về vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) con dao bầu dài 32,5cm (ký
hiệu PS1) được niêm phong có chữ ký và hình dấu tròn đỏ của Phòng K Công
an tỉnh N. Trả lại bị cáo Hoàng Văn T 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda
YAMAHA Sirius màu đỏ - đen, BKS: 18L1-232.14.
Tình trạng vật chứng như Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng
giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N và Kho vật chứng thuộc Phòng
Cảnh sát Thi hành án hình sự và Hỗ trợ tư pháp Công an tỉnh N ngày 26 tháng 5
năm 2026 và ngày 25 tháng 8 năm 2026.
4. Về án phí: Buộc bị cáo Hoàng Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm
nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn
15 ngày kể từ ngày tuyên án; người bị hại được quyền kháng cáo bản án trong
hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 4, 6 và 7 Luật Thi hành
8
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật
Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
- Toà Phúc thẩm TANDTC tại Hà Nội;
- Viện Công tố & KSXXPT tại Hà Nội;
- VKSND tỉnh Ninh Bình;
- Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Ninh Bình;
- THADS tỉnh Ninh Bình;
- Trại tạm giam số 3 tỉnh Ninh Bình;
- Phòng GĐKTTT & THA Tòa án tỉnh;
- Phòng HSNV Công an tỉnh Ninh Bình;
- UBND xã Minh Thái, tỉnh Ninh Bình;
- Bị cáo;
- Bị hại;
- Bộ phận HC-TP;
- Toà Hình sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
(đã ký)
Nguyễn Đức Thủy
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 270/2026/HS-ST Bản án số 270/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 270/2026/HS-ST Bản án số 270/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất