Bản án số 27/2018/HNGĐ-ST ngày 26/10/2018 của TAND huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 27/2018/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 27/2018/HNGĐ-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 27/2018/HNGĐ-ST ngày 26/10/2018 của TAND huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Lương Tài (TAND tỉnh Bắc Ninh) |
| Số hiệu: | 27/2018/HNGĐ-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 26/10/2018 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LƢƠNG TÀI
TỈNH BẮC NINH
Bản án số: 27/2018/HNGĐ-ST
Ngày 26/10/2018
V/v: Tranh chấp Hôn nhân
và gia đình
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƢƠNG TÀI, TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nam
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Quốc
Bà Nguyễn Thị Hằng
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Xuân Hà – Thư ký Toà án nhân dân huyện
Lương Tài – tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Tài tham gia phiên tòa:
Bà Phùng Lan Anh – Kiểm sát viên.
Ngày 26/10/2018 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Lương Tài xét xử sơ
thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số: 168/2018/TLST -
HNGĐ ngày 29/8/2018 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. Theo quyết định
đưa vụ án ra xét xử số: 24/2018/QĐXXST- HNGĐ ngày 08/10/2018 giữa các
đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Nh, sinh năm 1997 ( Có mặt tại phiên tòa).
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1992 ( Vắng mặt tại phiên tòa).
Đều cư trú: Thôn Đ, xã Tr, huyện L, tỉnh Bắc Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và các biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa,
nguyên đơn và bị đơn đều thống nhất trình bày:
Quan hệ về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Nh kết hôn cùng anh Nguyễn Văn B
vào ngày 24/9/2015 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Trung
Chính, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh. Sau ngày cưới chị Nh về chung sống cùng
anh B ngay, tình cảm ban đầu vợ chồng sống hoà thuận, hạnh phúc và có hai con
chung.
Mâu thuẫn vợ chồng theo chị Nh trình bày: Vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ
cuối năm 2016 nguyên nhân là do kinh tế khó khăn nên vợ chồng hay bất đồng về
2
quan điểm do vậy thường xuyên xảy ra cãi nhau nên chị đã bị anh B đuổi về nhà đẻ
nhiều lần, mâu thuẫn trên cứ kéo dài cho đến tháng 8/2018, do không chịu đựng được
nên chị đã bỏ về nhà đẻ ở và vợ chồng sống ly thân, chấm dứt mọi quan hệ ở từ đó
cho đến nay. Nay chị xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không có khả năng
đoàn tụ chung sống nên chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh
Nguyễn Văn B.
Theo anh B trình bày: Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ tháng 7/2017 nguyên
nhân là do anh thấy có nhiều người đến nhà đòi nợ chị Nh trong đó có cả dân xã hội
thì anh biết được chị Nh vay nợ và lừa đảo tài sản của nhiều người, anh nói thì chị Nh
chối không nhận nên anh và gia đình anh đã phải đến gia đình chị Nh để nói chuyện,
sau sự việc này anh đã tha thứ cho chị Nh nên vợ chồng lại chung sống hòa thuận.
Cho đến tháng 8/2018 thì vợ chồng lại phát sinh mâu thuẫn trầm trọng do anh phát
hiện chị Nh có ý định vay tiền trên trên mạng, anh nói thì chị Nh không nhận mà còn
cãi lại, do bực tức anh đã tát chị Nh một cái và chị Nh đã gọi người nhà đến đón chị
về nhà đẻ ở, sau một tuần chị Nh lại về chung sống cùng anh và gia đình nhưng chỉ
được 03 ngày thì chị Nh lại bỏ về nhà đẻ ở và vợ chồng sống ly thân chấm dứt mọi
quan hệ từ đó cho đến nay. Nay anh xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, nếu
về chung sống với nhau thì không có hạnh phúc, nhưng vì con nhỏ nên anh muốn chị
Nh về đoàn tụ chung sống, còn nếu chị Nh vẫn kiên quyết xin ly hôn thì anh cũng
đồng ý.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị Nh và anh Nguyễn Văn B đều trình bày vợ
chồng có 02 con chung là Nguyễn Hải V, sinh ngày 14/6/2016 và Nguyễn Ngọc B,
sinh ngày 02/02/2018. Hiện nay cháu V đang ở với anh B, còn cháu B đang ở với chị
Nh. Ly hôn anh B chị Nh đều đề nghị Toà án giữ nguyên hiện trạng nuôi con như
hiện nay và không yêu cầu Toà án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản, nợ chung, công sức và ruộng khoán tại địa phƣơng: Chị Nh và
anh B đều trình bày không có gì vướng mắc nên yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Tài tham
gia phiên toà phát biểu ý kiến: Về thủ tục tố tụng, Toà án tiến hành thụ lý, giải quyết
vụ án là đúng thẩm quyền và thời hạn theo quy định của pháp luật, việc ra các văn
bản tố tụng, cũng như các thủ tục tố tụng tại phiên toà đã tuân thủ đúng quy định của
Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn và bị đơn chấp hành đúng các quy định của pháp
luật, theo quy định tại các Điều 70, 71,72, của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 58,
Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147; Điều 228; Điều 235
Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án tuyên xử:
3
- Về quan hệ vợ chồng: Xử cho chị Nguyễn Thị Nh được ly hôn với anh Nguyễn
Văn B.
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hải V, sinh ngày 14/6/2016 cho anh
Nguyễn Văn B được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục và giao cháu Nguyễn Ngọc B,
sinh ngày 02/02/2018 cho chị Nguyễn Thị Nh được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục.
Anh B và chị Nh có quyền thăm nom con chung. Cấp dưỡng nuôi con không đặt ra
xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Nh phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định
của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà; sau khi nghe vị đại diện Viện kiểm
sát trình bày quan điểm của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự
của Toà án và về đường lối giải quyết vụ án; Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Nh có đơn xin ly hôn anh Nguyễn
Văn B đều có hộ khẩu thường trú tại xã Trung Chính, huyện Lương Tài. Tại phiên
tòa hôm nay chị Nh vẫn giữ nguyên quan điểm đề nghị Tòa án giải quyết cho chị
được ly hôn với anh B và giải quyết việc nuôi con chung khi ly hôn, về phần tài sản,
công nợ, công sức và ruộng khoán tại địa phương chị không đề nghị Tòa án giải
quyết. Phía anh B vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong biên bản ghi lời khai anh B
trình bày anh có nguyện vọng xin được vợ chồng về đoàn tụ, còn nếu chị Bắc vẫn
kiên quyết xin ly hôn thì anh cũng đồng ý, về con chung anh đề nghị giữ nguyên việc
nuôi con chung như hiện nay, về phần tài sản, công nợ, công sức và ruộng khoán tại
địa phương anh không đề nghị Tòa án giải quyết. Do vậy vụ án thuộc thẩm quyền
giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lương Tài theo quy định tại khoản 1 Điều 28;
điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên Tòa bị đơn là anh Nguyễn Văn B vắng mặt tại phiên tòa, nhưng anh
đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt anh theo quy định của pháp luật. Do vậy Hội đồng
xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh B theo quy định tại khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố
tụng dân sự là phù hợp.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Nh và anh Nguyễn Văn B kết hôn với
nhau vào ngày 24 tháng 9 năm 2015, trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại
UBND xã Trung Chính theo đúng quy định pháp luật nên xác định quan hệ hôn nhân
giữa chị Nh và anh B là hợp pháp.
Quá trình chung sống đã phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân chủ yếu là do làm
ăn kinh tế nên vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống hàng ngày, mâu thuẫn
4
này xảy ra từ tháng 8/2017 cho đến tháng 8 năm 2018 thì vợ chồng sống ly thân chấm
dứt mọi quan hệ tình cảm từ đó cho đến nay. Mâu thuẫn này chị Nh và anh B đều xác
định tình cảm vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, khả năng về đoàn tụ chung
sống với nhau sẽ không đảm bảo hạnh phúc nên phía chị Nh vẫn đề nghị xin được ly
hôn, còn phía anh B mong muốn vợ chồng về đoàn tụ để nuôi dạy con chung, nhưng
nếu chị Nh vẫn kiên quyết xin được ly hôn thì anh cũng đồng ý. Do vậy xác định
mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị Nh và anh Nguyễn Văn B đã xảy ra trầm
trọng, khả năng về đoàn tụ và chung sống cùng nhau là không còn, tuy nhiên tại
phiên tòa hôm nay anh B vắng mặt nên không thể công nhận sự thuận tình ly hôn
giữa chị Nguyễn Thị Nh và anh Nguyễn Văn B được nên cần chấp nhận đơn xin ly
hôn của chị Nh và xử cho chị Nguyễn Thị Nh được ly hôn anh Nguyễn Văn B là phù
hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Xác định chị Nguyễn Thị Nh và anh Nguyễn Văn B có 02 con
chung là Nguyễn Hải V, sinh ngày 14/6/2016 và Nguyễn Ngọc B, sinh ngày
02/02/2018, cả hai cháu đều khoẻ mạnh phát triển bình thường và hiện nay cháu V
đang do anh B chăm sóc, nuôi dưỡng, còn cháu B đang do chị Nh chăm sóc, nuôi
dưỡng. Khi ly hôn xét về nguyện vọng của chị Nh và anh B đều đề nghị giữ nguyên
việc nuôi con như hiện tại, nên cần giữ nguyên việc nuôi con như hiện tại là phù hợp
với Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, nhưng do tại phiên tòa hôm nay anh B vắng
mặt nên không thể ghi nhận sự thỏa thuận giữa chị Nguyễn Thị Nh và anh Nguyễn
Văn B được nên cần xử, giao con chung là cháu Nguyễn Hải V, sinh ngày 14/6/2016
cho anh Nguyễn Văn B trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục và giao cháu Nguyễn Ngọc B,
sinh ngày 02/02/2018 cho chị Nguyễn Thị Nh trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Đối với
việc cấp dưỡng nuôi con chung do các bên đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét
xử không đưa ra xem xét giải quyết.
Về tài sản, công nợ, công sức và ruộng khoán tại địa phương: Chị Nguyễn Thị
Nh và anh Nguyễn Văn B đều xác định không có gì vướng mắc cần giải quyết khi ly
hôn, cho nên anh, chị không đề nghị Toà án xem xét giải quyết. Do vậy Hội đồng xét
xử không đưa ra xem xét giải quyết.
Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Nh phải chịu án phí ly hôn theo quy
định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81: Điều 82 và Điều 83 Luật
Hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 4 Điều 147;
Khoản 1 Điều 227; Khoản 1 Điều 228; Điều 235 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ
Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:

5
1. Về quan hệ vợ chồng: Xử cho chị Nguyễn Thị Nh được ly hôn với anh
Nguyễn Văn B.
2. Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Hải V, sinh ngày
14/6/2016 cho anh Nguyễn Văn B trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục và giao cháu
Nguyễn Ngọc B, sinh ngày 02/02/2018 cho chị Nguyễn Thị Nh trực tiếp nuôi dưỡng,
giáo dục. Tiền cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét giải quyết. Chị Nguyễn Thị
Nh và anh Nguyễn Văn B được quyền thăm nom con chung.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Nh phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ
thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp theo biên lai thu
tiền số AA/2017/0001115 ngày 29/8/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện
Lương tài.
Án xử công khai sơ thẩm đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15
ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15
ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định
của pháp luật ./.
Nơi nhận:
- TAND Tỉnh Bắc Ninh;
- VKSND huyện LT;
- Chi cục THADS huyện LT
- Những người tham gia tố tụng;
- Lưu HSVA - VP.
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Nguyễn Văn Nam
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Bản án số 80/2026/KDTM-PT ngày 05/03/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về mua bán hàng hóa
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 04/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 03/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 02/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 28/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm