Bản án số 266/2024/DS-PT ngày 27/08/2024 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 266/2024/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 266/2024/DS-PT ngày 27/08/2024 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng tín dụng
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 266/2024/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 27/08/2024
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Thanh B. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 68/2024/DS – ST ngày 28/5/2024 của Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Sâm
Các Thẩm phán: Ông Văn Công Dần và bà Nguyễn Thị Thu Trang
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Việt – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk
Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Trần
Thị Xuân Linh Byă - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 8 năm 2024, tại trụ sTòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử
phúc thẩm công khai ván dân sự thụ số: 195/2024/TLPT- DS ngày 16 tháng 7
năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Do bản án dân ssơ thẩm số: 68/2024/DS - ST ngày 28/5/2024 của Toà án
nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 218/2024/QĐ- PT ngày 23
tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa dân sự phúc thẩm số 237/2024/QĐ
PT ngày 12 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng N1; địa chỉ: B L, Quận B, thành phố Hà Nội.
Đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Tiến N Chức vụ: Trưởng
phòng khách hàng hộ sản xuất nhân Ngân hàng N1 Chi nhánh tỉnh Đ, đơn
xin vắng mặt.
Địa chỉ: E N, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh B, có mặt và bà Cao Thị H, vắng mặt;
Địa chỉ: A B, đường Y, phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk
Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Thanh B.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Võ Tiến N trình bày:
Ông Nguyễn Thanh B đã ủy quyền cho vợ Cao Thị H vay vốn tại A Chi
nhánh tỉnh Đ Phòng G theo Giấy ủy quyền đã được Văn phòng C công chứng ngày
21/04/2020 có số công chứng: 000739, quyển số TP/CC-SCC/HĐGD.
Cao Thị H đã vay vốn tại A Chi nhánh tỉnh Đ Phòng G theo hai Hợp đồng
tín dụng sau:
- Hợp đồng tín dụng số 5200-LAV-202000980 ngày 22/4/2020: Ngày
22/04/2020, bà Cao Thị H đã vay vốn tại A Chi nhánh tỉnh Đ Phòng G với số tiền
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 266/2024/DS - PT
Ngày 27 8 2024
V/v tranh chấp hợp đồng tín
dụng
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
1.800.000.000 đồng; Thời hạn vay 12 tháng; Lãi suất tại thời điểm vay vốn
9%/năm; Mục đích sử dụng tiền vay: Bổ sung vốn kinh doanh mua bán quan tài,
dịch vụ mai táng.
+ Thực hiện hợp đồng: từ ngày vay đến nay, Cao Thị H chưa thanh toán
được tiền gốc đã thanh toán được 127.282.192 đồng tiền lãi(trả lãi hết ngày
13/02/2021).
Trong thời gian khách hàng vay vốn, để hỗ trợ phần nào khó khăn tài chính của
khách hàng tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng điều kiện thanh toán nợ
vay đúng hạn, Ngân hàng đã điều chỉnh giảm lãi suất tiền vay như sau: từ ngày
05/11/2020 lãi suất tiền vay đã được điều chỉnh giảm xuống còn 8%/năm.
Để thực hiện hợp đồng tín dụng, H và ông B đã thế chấp theo Hợp đồng thế
chấp quyền sử dụng đất số 240315778/TC/2019 ngày 18/04/2019 với bên nhận thế
chấp Ngân hàng N1 Chi nhánh tỉnh Đ - Phòng G. Hợp đồng thế chấp đã được
công chứng đúng theo quy định của pháp luật.
Tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất số BA 372258,
do UBND thành phố B cấp ngày 03/03/2010, được Văn phòng Đăng quyền sử
dụng đất Thành phố B cập nhật thông tin chủ sử dụng quyền sử dụng đất vào ngày
05/06/2010 đứng tên ông Nguyễn Thanh B Cao Thị H, đất diện tích đất
224,2 m
2
, thuộc thửa đất số 131; tờ bản đồ số 54; Nhà đất tọa lạc tại A Y, phường
E, Thành phố B, Tỉnh Đắk Lắk.
+ Nợ vay tính đến ngày 28/05/2024 là: 2.496.920.575 đồng; trong đó: Nợ gốc:
1.800.000.000 đồng; lãi trong hạn 473.424.685 đồng lãi quá 223.495.890
đồng. Ngân hàng đã đôn đốc nhiều lần nhưng ông B, H vẫn không trả nvay
đúng theo cam kết của hợp đồng. Cao Thị H, ông Nguyễn Thanh B đã vi phạm
hợp đồng tín dụng về việc trả nợ gốc và nợ lãi.
- Hợp đồng tín dụng số 5200-LAV-202002047 ngày 28/7/2020 Cao Thị H
đã vay vốn tại A Chi nhánh tỉnh Đ Phòng G với số tiền 200.000.000 đồng; Thời
hạn vay 12 tháng; Lãi suất tại thời điểm vay vốn 9%/năm; Mục đích sử dụng tiền
vay: Kinh doanh mua bán quan tài, dịch vụ mai táng.
+ Thực hiện hợp đồng: Từ ngày vay đến nay Cao Thị H ông Nguyễn
Thanh B chưa thanh toán được tiền gốc và cũng chưa thanh toán được tiền lãi.
Trong thời gian khách hàng vay vốn, để hỗ trợ phần nào khó khăn tài chính của
khách hàng tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng điều kiện thanh toán nợ
vay đúng hạn, Ngân hàng đã điều chỉnh giảm lãi suất tiền vay như sau: từ ngày
29/7/2020 lãi suất tiền vay đã được điều chỉnh giảm xuống còn 8%/năm.
+ Nợ vay tính đến ngày 28/05/2024 là: 284.126.027 đồng; trong đó: Nợ gốc:
200.000.000 đồng; tiền lãi, lãi trong hạn là: 61.419.178 đồng và lãi quá hạn tính đến
ngày 28/5/2024 là: 22.706.849 đồng. Ngân hàng đã đôn đốc nhiều lần nhưng ông B,
H vẫn không trả nợ vay đúng hạn. Cao Thị H đã vi phạm hợp đồng tín dụng
về việc trả nợ gốc và nợ lãi.
Để đảm bảo cho Ngân hàng thu hồi được nợ theo quy định của pháp luật, Ngân
hàng N1 kính đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tuyên xử:
- Buộc bà Cao Thị H và ông Nguyễn Thanh B phải thanh toán ngay toàn bộ nợ
vay cho Ngân hàng, trong đó gồm: 2.000.000.000 đồng gốc theo 02 hợp đồng tín
dụng, tiền lãi suất và lãi phạt theo 02 hợp đồng tín dụng đến ngày xét xử sơ thẩm.
3
Buộc H, ông B tiếp tục tính lãi phát sinh từ ngày 29/05/2024 cho đến khi trả
hết nợ gốc theo quy định tại hai Hợp đồng tín dụng: số 5200-LAV-202000980 ngày
22/4/2020 và hợp đồng số 5200-LAV-202002047 ngày 28/7/2020.
- Trường hợp bà Cao Thị H và ông Nguyễn Thanh B không thanh toán hết nợ
vay nói trên cho Ngân hàng N1 được quyền yêu cầu quan thi hành án dân sự
biên, cưỡng chế phát mãi toàn bộ tài sản thế chấp theo các Hợp đồng thế chấp đã
kết giữa các bên nói trên để thu hồi nợ vay cho Ngân hàng theo quy định của pháp
luật. Ngân hàng không đồng ý khoanh nợ vợ chồng H, ông B đã vi phạm nghĩa
vụ trả nợ trong thời gian đã lâu.
2. Bị đơn ông Nguyễn Thanh B trình bày:
Tôi thừa nhận vchồng tôi hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất ngày
18/4/2019 và sau đó tôi có y quyền cho vợ tôi bà Cao Thị H đi giao dịch vay vốn
tại Phòng G.
Vợ chồng tôi đã 02 hợp đồng tín dụng để vay: 2.000.000.000 đồng lãi
xuất: Tổng cộng là: 2.620.608.219 đồng tính đến ngày 27/9/2023.
Tài sản thế chấp là Quyền sdụng đất tài sản gắn liền với đất thuộc quyền
sử dụng, quyền sở hữu của ông Nguyễn Thanh B và bà Cao Thị H, diện tích đất
224,2 m
2
, thuộc thửa đất số 131; tờ bản đồ số 54; Địa chỉ thửa đất: tại A Y Phường
E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Nay, Ngân hàng khởi kiện thì do gia đình m ăn buôn bán khó khăn chưa
tiền trả cho Ngân hàng nên đang thông báo bán nhà để trả nợ cho Ngân hàng sớm
nhất.
Gia đình tôi từ chối đưa Cao Thị H đi giám định sức khỏe để tuyên bố
Cao Thị H mất năng lực hành vi dân sự theo quy định.
3. Đối với bà Cao Thị H đã được triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án
làm việc.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 68/2024/DS - ST ngày 28/5/2024 của Toà án
nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39,
khoản 1 Điều 147, Điều 161, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều
271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 463, Điều 466 BLDS năm 2015.
Căn cứ điểm đ, khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N1.
- Buộc Cao Thị H ông Nguyễn Thanh B phải thanh toán trả cho Ngân
hàng N1 số tiền: 2.496.920.548 đồng; trong đó: Nợ gốc: 1.800.000.000 đồng; lãi
trong hạn 473.424.658 đồng lãi quá hạn tính đến ngày 28/5/2024 là:
223.495.890 đồng. Đồng thời bà Cao Thị Hông Nguyễn Thanh B n phải tiếp
tục chịu lãi suất phát sinh trên số dư nợ gốc theo hợp đồng tín dụng số 5200-LAV-
202000980 ngày 22/04/2020, kể từ ngày 29/05/2024 cho đến khi trả xong nợ gốc.
- Buộc Cao Thị H ông Nguyễn Thanh B phải thanh toán trả cho Ngân
hàng N1 số tiền 284.126.027 đồng; trong đó: Ngốc: 200.000.000 đồng; tiền lãi, lãi
4
trong hạn là 61.419.178 đồng và lãi quá hạn tính đến ngày 28/5/2024 là 22.706.849
đồng. Đồng thời bà Cao Thị H ông Nguyễn Thanh B còn phải tiếp tục chịu lãi
suất phát sinh trên số nợ gốc theo hợp đồng tín dụng số 5200-LAV-202002047
ngày 28/07/2020, kể từ ngày 29/05/2024 cho đến khi trả xong nợ gốc.
- Ngân hàng N1 nghĩa vụ trả lại bản gốc Giấy chứng nhận Quyền sdụng
đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có số BA 372258 do UBND
thành phố B cấp ngày 03/03/2010, được Văn phòng Đăng quyền sdụng đất
Thành phố B cập nhật thông tin chủ sử dụng quyền sdụng đất vào ngày 05/06/2010
đứng tên ông Nguyễn Thanh B Cao Thị H, nhà đất diện tích đất 224,2
m
2
; thuộc thửa đất số 131; tờ bản đồ số 54; Địa chỉ thửa đất: tại A YWang, phường
E, Thành phố B, tỉnh Đắk Lắk cho bà H, ông B ngay khi bà H, ông B trả hết nợ cho
Ngân hàng N1.
- Trường hợp bà Cao Thị Hông Nguyễn Thanh B không trả được số nợ cho
Ngân hàng N1 thì tài sản thế chấp gồm: Quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với
đất số BA 372258 do UBND thành phố B cấp ngày 03/03/2010, được Văn phòng
Đăng quyền sử dụng đất thành phố B cập nhật thông tin chủ sử dụng quyền sử
dụng đất vào ngày 05/06/2010 đứng tên ông Nguyễn Thanh B Cao Thị H. Nhà
và đất có diện tích đất 224,2 m
2
, thuộc thửa đất số 131; tờ bản đồ số 54; Nhà và đất
tọa lạc tại A Y, phường E, Thành phố B, tỉnh Đắk Lắk được xử lý phát mại theo quy
định của pháp luật để đảm bảo việc thu hồi toàn bộ số nợ trên cho Ngân hàng N1.
Ngoài ra Bản án thẩm còn tuyên về chi phí ttụng, án phí quyền kháng
cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 14/6/2024, bị đơn ông Nguyễn Thanh B đơn kháng cáo toàn bộ bản
án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp sơ thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng:
+ Miễn toàn bộ lãi suất phát sinh trong hạn, quá hạn, phí phạt đối với Hợp đồng
tín dụng số 5200-LAV-202000980 ngày 22/4/2020 cho ông Nguyễn Thanh B,
Cao Thị H. Ông B, bà H chấp nhận trả cho Ngân hàng N1 số tiền gốc 1.800.000.000
đồng (Một tỷ tám trăm triệu đồng).
+ Miễn toàn bộ lãi suất phát sinh trong hạn, quá hạn, phí phạt đối với Hợp đồng
tín dụng số 5200-LAV-202002047 ngày 28/7/2020 cho ông Nguyễn Thanh B,
Cao Thị H. Ông B, H chấp nhận trả cho Ngân hàng N1 số tiền gốc 200.000.000
đồng (Hai trăm triệu đồng).
Tại phiên toà, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử
vắng mặt và vẫn giữ nguyên nội dung đơn khởi kiện, đồng thời không đồng ý miễn
giảm lãi cho Cao Thị H, ông Nguyễn Thanh B, đề nghị HĐXX ginguyên bản
án sơ thẩm. Bị đơn ông Nguyễn Thanh B vẫn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Trong quá trình thụ giải quyết vụ án thẩm phán, Hội đồng xét
xử, thư Tòa án, các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng
dân sự.
Về nội dung: Qua xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ vụ án ng như
trình bày của các đương sự tại phiên toà, xét thấy đơn kháng cáo của bị đơn không
có căn cứ để chấp nhận. Do đó, đề nghị HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố
tụng dân sự, không chấp nhận đơn kháng cáo của ông Nguyễn Thanh B, giữ nguyên
5
bản án dân sự thẩm số 68/2024/DS ST ngày 28 tháng 5 năm 2024 của Toà án
nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu được thu thập trong hồ vụ án, kết quả
tranh luận tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên,
Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1]. Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Thanh B làm trong thời
hạn luật định, ông Nguyễn Thanh B gia đình chính sách, đã có đơn xin miễn giảm
án phí nên hợp lệ.
[2]. Về nội dung:
Ông Nguyễn Thanh B thừa nhận việc ông Nguyễn Thanh B Cao Thị
H vay vốn tại A Chi nhánh tỉnh Đ Phòng G theo 02 hợp đồng tín dụng sau:
- Hợp đồng tín dụng số 5200-LAV-202000980 ngày 22/4/2020 với số tiền vay
1.800.000.000 đồng; Thời hạn vay 12 tháng; Lãi suất tại thời điểm vay vốn
9%/năm; Mục đích sử dụng tiền vay: Bổ sung vốn kinh doanh mua bán quan tài,
dịch vụ mai táng.
- Hợp đồng tín dụng số 5200-LAV-202002047 ngày 28/7/2020 với số tiền
200.000.000 đồng; Thời hạn vay 12 tháng; Lãi suất tại thời điểm vay vốn 9%/năm;
Mục đích sử dụng tiền vay: Kinh doanh mua bán quan tài, dịch vụ mai táng.
HĐXX xét thấy, việc các bên xác lập Hợp đồng tín dụng số 5200-LAV-
202000980 ngày 22/4/2020 Hợp đồng tín dụng số 5200-LAV-202002047 ngày
28/7/2020 hoàn toàn tự nguyện, nội dung của các hợp đồng không vi phạm điều
cấm của luật, không trái đạo đức hội. Do đó, việc Toà án cấp sơ thẩm buộc ông
Nguyễn Thanh B, Cao Thị H phải thanh toán cho Ngân hàng N1 toàn bộ số tiền
nợ gốc, lãi trong hạn lãi quá hạn theo các hợp đồng tín dụng căn cứ, đúng
pháp luật.
[3]. Xét kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Thanh B cho rằng do dịch Covid
kéo dài nên hoàn cảnh kinh tế khó khăn, mất khả năng trả nợ cho Ngân hàng, Cao
Thị H hiện bị bệnh ung thư và tai biến tỉ lệ thương tật 88%, do đó, ông B chỉ đồng ý
thanh toán nợ gốc cho Ngân hàng đề nghị miễn toàn bộ lãi suất phát sinh trong
hạn, quá hạn, phí phạt, HĐXX nhận định như sau:
Khoản 2 Điều 3 Bộ luật Dân sự quy định: nhân, pháp nhân xác lập, thực
hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên sở tự do, tự nguyện cam
kết, thỏa thuận. Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không
trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác
tôn trọng”.
Xét thấy, mức lãi suất thoả thuận giữa Ngân hàng với vợ chồng ông Nguyễn
Thanh B, Cao Thị H phù hợp với quy định của Luật Các tổ chức tín dụng
văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Luật Các tổ chức
tín dụng tại thời điểm xác lập hợp đồng, thời điểm tính lãi suất. Do đó, Toà án không
có quyền can thiệp o việc thỏa thuận về lãi suất giữa các bên. Quá trình giải quyết
vụ án, đại diện Ngân hàng không đồng ý miễn giảm lãi cho vợ chồng ông B, H
nên kháng cáo của ông Nguyễn Thanh B là không có căn cứ để chấp nhận.
6
[3]. Do không được chấp nhận kháng cáo nên Nguyễn Thanh B phải chịu án
phí dân sự phúc thẩm, tuy nhiên, ông B gia đình chính sách, được chính quyền địa
phương xác nhận nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Thanh B.
Giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số 68/2024/DS ST ngày 28/5/2024 của
Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
[2]. Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N1.
Buộc vợ chồng ông Nguyễn Thanh B, bà Cao Thị H nghĩa vụ trả cho Ngân
hàng N1 tổng số tiền gốc lãi tính đến ngày 28/5/2024 là 2.781.046.575 đồng (Hai
tỷ bảy trăm tám mươi mốt triệu không trăm bốn mươi sáu nghìn năm trăm bảy lăm
đồng), trong đó:
- Nợ gốc theo hợp đồng tín dụng số 5200-LAV-202000980 ngày 22/04/2020
là 1.800.000.000 đồng; lãi trong hạn là 473.424.658 đồng và lãi quá hạn là:
223.495.890 đồng.
- Nợ gốc theo hợp đồng tín dụng số 5200-LAV-202002047 ngày 28/07/2020
200.000.000 đồng; tiền lãi, lãi trong hạn 61.419.178 đồng lãi quá 22.706.849
đồng.
- Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử thẩm (ngày 28/5/2024) vợ chồng ông
Nguyễn Thanh B, Cao Thị H tiếp tục phải chịu tiền lãi phát sinh trên nợ gốc chưa
thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã
kết cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc cho Ngân hàng N1.
- Ngân hàng N1 nghĩa vụ trả lại bản gốc Giấy chứng nhận Quyền sdụng
đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có số BA 372258 do UBND
thành phố B cấp ngày 03/03/2010, được Văn phòng Đăng quyền sử dụng đất
Thành phố B cập nhật thông tin chủ sử dụng quyền sdụng đất vào ngày 05/06/2010
đứng tên ông Nguyễn Thanh B Cao Thị H, nhà đất diện tích đất 224,2
m
2
; thuộc thửa đất số 131; tờ bản đồ số 54; Địa chỉ thửa đất: tại A YWang, phường
E, Thành phố B, tỉnh Đắk Lắk cho bà H, ông B ngay khi bà H, ông B trả hết nợ cho
Ngân hàng N1.
- Trường hợp bà Cao Thị Hông Nguyễn Thanh B không trả được số nợ cho
Ngân hàng N1 thì tài sản thế chấp gồm: Quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với
đất số BA 372258 do UBND thành phố B cấp ngày 03/03/2010, được Văn phòng
Đăng quyền sử dụng đất thành phố B cập nhật thông tin chủ sử dụng quyền s
dụng đất vào ngày 05/06/2010 đứng tên ông Nguyễn Thanh B Cao Thị H. Nhà
và đất có diện tích đất 224,2 m
2
, thuộc thửa đất số 131; tờ bản đồ số 54; Nhà và đất
tọa lạc tại A Y, phường E, Thành phố B, tỉnh Đắk Lắk được xử lý phát mại theo quy
định của pháp luật để đảm bảo việc thu hồi toàn bộ số nợ trên cho Ngân hàng N1.
[3]. Về án phí và chi phí tố tụng:
[3.1]. Về án phí:
7
- Ngân hàng N1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được nhận lại số tiền
tạm ứng án phí 42.206.082 đồng do ông Hoàng Văn T đã nộp thay theo biên lai
số 0004745 ngày 12/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Buôn Ma
Thuột.
- Bị đơn bà Cao Thị H và ông Nguyễn Thanh B được miễn toàn bộ án phí dân
sự sơ thẩm. Ông Nguyễn Thanh B được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
[3.2]. Ông Nguyễn Thanh B, bà Cao Thị H phải chịu 2.000.000 đồng tiền chi
phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Hoàn trả lại cho Ngân hàng N1 số tiền 2.000.000
đồng tạm ứng chi phí đã nộp sau khi thu được từ ông Nguyễn Thanh B, bà Cao Thị
H
[4]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền
thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi nh án, tnguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân
sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án
dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TANDCC;
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- TAND tp BMT;
- Chi cục THADS tp BMT;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Ngọc Sâm
Tải về
Bản án số 266/2024/DS-PT Bản án số 266/2024/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 266/2024/DS-PT Bản án số 266/2024/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất