Bản án số 259/2026/HS-ST ngày 23/09/2026 của TAND tỉnh Ninh Bình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 259/2026/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 259/2026/HS-ST ngày 23/09/2026 của TAND tỉnh Ninh Bình
Tội danh:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Ninh Bình
Số hiệu: 259/2026/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 23/09/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Tối ngày 26 tháng 12 năm 2025, tại quán bar Q1, địa chỉ F đường L, phố T, phường H, tỉnh Ninh Bình (tại bàn B3 tầng 1); Đinh Thị Mỹ L có hành vi khởi xướng, bảo Lê Đức T mua 04 viên thuốc lắc để sử dụng, T liên hệ với Nguyễn Văn T7 và được Thể đồng ý; sau đó, T7 mang đến quán bar Q1 bán cho T với giá 2.200.000 đồng. Sau khi có thuốc lắc, Lê Đức T sử dụng ½ viên, đưa cho Đinh Thị Mỹ L 01 viên, Dương Thanh P2 01 viên, Phạm Thế L5 ½ viên. Cả nhóm sử dụng bằng hình thức uống với nước và bị phát hiện bắt quả tang.Ngoài ra, tại bàn C201 tầng 2 cũng tại quán bar Q2 cùng ngày Hoàng Ngọc N, Nguyễn Văn H1, Hoàng Văn H2 và Bùi Anh T4 cũng có hành vi cùng nhau nghe nhạc và sử dụng ma túy, mọi chi phí được thống nhất chia đều. Trên đường đi xe taxi đến quán, N có hành vi cung cấp ma túy thuốc lắc (MDMA) cho H1, T4, H2, cả nhóm sử dụng bằng hình thức uống với nước. H1 có hành vi cung cấp ma túy Ketamine, công cụ (ống hút, tờ tiền), cả nhóm lần lượt truyền tay nhau sử dụng bằng hình thức hít vào cơ thể. Khi đến quán bar H7 tiếp tục sử dụng Ketamine và cung cấp cho Bùi Anh T4, Phạm Thanh L4 sử dụng tại nhà vệ sinh của quán, cả nhóm đang ngồi nghe nhạc thì bị phát hiện bắt quả tang.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 259/2026/HS-ST Bản án số 259/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 259/2026/HS-ST Bản án số 259/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NINH BÌNH
Bản án số: 259/2026/HS-ST
Ngày 23 - 9 - 2026.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Thủy;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Văn Tu và bà Trần Thị Kim Dung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hải Yến - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Nga và bà Vũ Thị Thanh Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2026, tại sở Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình xét xử
sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 220/2026/TLST-HS ngày 03
tháng 9 năm 2026, theo định đưa vụ án ra xét xử số 247/2026/QĐXXST-HS
ngày 09 tháng 9 năm 2026 đối với các bị cáo:
1. Đinh Thị Mỹ L, sinh năm 1999 tại Ninh Bình; nơi thường trú: Số nhà H,
ngõ A, đường T, phố T, phường H, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Số C, đường Đ,
phố K, phường H, tỉnh Ninh Bình; số Căn cước công dân: ************; nghề
nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ;
tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Trường P và bà Phạm Thị
Kim P1; có chồng Dương Thanh P2 và có 01 con, sinh ngày 08 tháng 01 năm
2024; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 26/01/2021, Chủ tịch UBND
phường V, thành phố N, tỉnh Ninh Bình (cũ) áp dụng biện pháp giáo dục tại xã,
phường, thị trấn đã chấp hành xong; ngày 19/3/2021, Công an thành phố N, tỉnh
Ninh Bình (cũ) xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất
ma tuý, đã chấp hành xong. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 27 tháng 12 năm 2025
đến ngày 05 năm 01 năm 2026 được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi
nơi cư trú”; hiện đang tại ngoại; có mặt.
2. Lê Đức T, sinh năm 1986 tại Ninh Bình; nơi thường trú: Số nhà B,
đường T, phố P, phường H, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Số nhà A, ngõ F, đường
Đ, phố T, phường H, tỉnh Ninh Bình; số Căn cước công dân: ************;
nghề nghiệp: Lao động tự do; Đảng viên Đ1 đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng ngày
15 tháng 7 năm 2026; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam;
tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn K và bà Trần Thị P3; có
vợ Nguyễn Thị Thu T1 và 03 con, lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm
2
2023; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 27 tháng 12 năm
2025, chuyển tạm giam từ ngày 04 năm 01 năm 2026 đến nay. Hiện đang bị tạm
giam tại Trại tạm giam số 3 - Công an tỉnh N; có mặt.
3. Hoàng Ngọc N, sinh năm 2001 tại Ninh Bình; nơi cư trú: Thôn T, xã C,
tỉnh Ninh Bình; số Căn cước công dân: ************; nghề nghiệp: Lao động
tự do; Đảng viên Đ1 đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng ngày 17 tháng 7 năm 2026;
trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc
tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Quang T2 và bà Phạm Khánh H; có vợ Nguyễn
Thị T3 và 02 con, lớn sinh năm 2023, nhỏ sinh năm 2025; tiền án; tiền sự:
Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 27 tháng 12 năm 2025, chuyển tạm giam
từ ngày 05 năm 01 năm 2026 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam
số 3 - Công an tỉnh N; có mặt.
4. Nguyễn Văn H1, sinh năm 2001 tại Ninh Bình; nơi cư trú: Thôn H, xã
P, tỉnh Ninh Bình; số Căn cước công dân: ************; nghề nghiệp: Lao
động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo:
Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L1 (đã chết) và bà Bùi Thị
Đ; vợ con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 27
tháng 12 năm 2025, chuyển tạm giam từ ngày 05 năm 01 năm 2026 đến nay.
Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 3 - Công an tỉnh N; có mặt.
5. Bùi Anh T4, sinh năm 1997 tại Ninh Bình; nơi cư trú: Thôn N, xã C,
tỉnh Ninh Bình; số Căn cước công dân: ************; nghề nghiệp: Lao động
tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo:
Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Xuân N1 và bà Đinh Thị T5; vợ con:
Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 16/12/2013 bị Công an huyện
N, tỉnh Ninh Bình (cũ) xử phạt vi phạm hành chính 500.000 đồng về hành vi
trực tiếp xâm hại sức khoẻ người khác đã chấp hành; ngày 30/10/2019 bị Công
an thành phố T, tỉnh Ninh Bình (cũ) xử phạt vi phạm hành chính 1.000.000 đồng
về hành vi đánh bạc, đã chấp hành. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 27 tháng 12
năm 2025, chuyển tạm giam từ ngày 05 năm 01 năm 2026 đến nay. Hiện đang bị
tạm giam tại Trại tạm giam số 3 - Công an tỉnh N; có mặt.
6. Hoàng Văn H2, sinh năm 1999 tại Ninh Bình; nơi cư trú: Thôn T, xã C,
tỉnh Ninh Bình; số Căn cước công dân: ************; nghề nghiệp: Lao động
tự do; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo:
Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Hải N2 và bà Trần Thị Kim T6; có
vợ K1’ MyNa (đã ly thân) và chưa có con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt
tạm giữ từ ngày 27 tháng 12 năm 2025, chuyển tạm giam từ ngày 05 năm 01
năm 2026 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 3 - Công an tỉnh
N; có mặt.
7. Nguyễn Văn T7, sinh năm 1999 tại Ninh Bình; nơi cư trú: Thôn T, xã
Y, tỉnh Ninh Bình; số Căn cước công dân: ************; nghề nghiệp: Lao
động tự do; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo:
Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T8 và bà Hoàng Thị T9 (đã
3
chết); có vợ Lò Thị L2 và 01 con sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo
đầu thú và bị tạm giữ từ ngày 08 tháng 7 năm 2026, chuyển tạm giam từ ngày 11
năm 7 năm 2026 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 3 - Công
an tỉnh N; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Anh Trịnh Xuân T10, sinh năm 2001; nơi cư trú: Tổ E, phường T, tỉnh
Ninh Bình; vắng mặt.
+ Anh Vũ Văn N3, sinh năm 2001; nơi cư trú: Tổ dân phố R, phường Đ,
tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.
+ Anh Đặng Ngọc S, sinh năm 1995; nơi cư trú: Phố T, phường N, tỉnh
Ninh Bình; vắng mặt.
+ Chị Nông Thị Thanh T11, sinh năm 2003; nơi cư trú: Số C, ngõ B, đường
N, phường H, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.
+ Anh Trần Văn H3, sinh năm 2001; nơi cư trú: Số F, đường T, phường H,
tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.
+ Anh Phạm Ngọc T12, sinh năm 1991; nơi cư trú: Số A, đường X, phường
H, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.
+ Anh Bùi Đình V, sinh năm 2000; nơi cư trú: Xóm B, xã Q, tỉnh Ninh
Bình; có mặt.
+ Anh Phạm Văn T13, sinh năm 2002; nơi cư trú: Xóm A, xã Q, tỉnh Ninh
Bình; vắng mặt.
+ Chị Trần Thị H4, sinh năm 1998; nơi cư trú: Xóm B, xã Đ, tỉnh Ninh
Bình; vắng mặt.
+ Anh Nguyễn Trường L3, sinh năm 2000; nơi cư trú: Số C, đường X,
phường H, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.
+ Anh Mai Văn T14, sinh năm 1992; nơi cư trú: Số G, đường N, phường
H, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.
+ Anh Lã Văn Q, sinh năm 1970; nơi cư trú: Số A, ngõ H, đường T, phố T,
phường H, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.
+ Anh Vũ Duy T15, sinh năm 2002; nơi cư trú: Số D, đường P, phường N,
tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.
+ Anh Phạm Mạnh T16, sinh năm 1997; nơi cư trú: Số F, đường C, phố V,
phường H, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.
+ Anh Bùi Huy H5, sinh năm 1997; nơi cư trú: Xóm A, làng L, phường T,
tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.
+ Anh Phạm Xuân P4, sinh năm 1997; nơi cư trú: Số F, đường L, phường
H, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.
4
+ Anh Vũ Mạnh D, sinh năm 2004; nơi cư trú: Phố P, phường H, tỉnh Ninh
Bình; vắng mặt.
+ Anh Lê Minh T17, sinh năm 1994; nơi cư trú: Số F, ngõ H, đường N,
phường N, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.
+ Anh Dương Ngọc T18, sinh năm 1992; nơi cư trú: Xóm N, T, phường H,
tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.
+ Anh Phạm Đức T19, sinh năm 2004; nơi cư trú: Thôn H, xã N, tỉnh Ninh
Bình; vắng mặt.
+ Anh Phạm Thanh L4, sinh năm 2002; nơi cư trú: Thôn P, xã Y, tỉnh Ninh
Bình; vắng mặt.
+ Chị Phạm Thị C, sinh năm 1989; nơi cư trú: Số A, ngõ D, đường Đ,
phường H, tỉnh Ninh Bình; có mặt.
+ Anh Trần Văn S1, sinh năm 2002; nơi cư trú: Thôn T, xã C, tỉnh Ninh
Bình; vắng mặt.
+ Chị Nguyễn Tường V1, sinh năm 2007; nơi cư trú: Số A, ngõ D, đường
Đ, phường H, tỉnh Ninh Bình; có mặt.
+ Chị Nguyễn Thị Y, sinh năm 2001; nơi ĐKHKTT: Thôn L, xã N, tỉnh
Ninh Bình; nơi cư trú: Số E, ngõ C, đường N, phường C, Thành phố Hà Nội;
vắng mặt.
- Người làm chứng: Anh Dương Thanh P2, sinh năm 1985; có mặt. Anh
Phạm Thế L5, sinh năm 1988; vắng mặt.
- Người chứng kiến: Ông Phạm Minh N4, sinh năm 1960; nơi cư trú: Thôn
T, phường H, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 23 giờ 50 phút ngày 26/12/2025, tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra
tội phạm về ma túy Công an tỉnh N phối hợp với Phòng Cảnh sát cơ động,
Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an tỉnh N và Công an
phường H tiến hành kiểm tra hành chính quán Q1, tại số F đường L kéo dài, phố
T, phường H, tỉnh Ninh Bình. Quá trình kiểm tra phát hiện tại bàn B3 tầng 1 và
bàn C201 tầng hai của quán có khách đang tổ chức sử dụng trái phép chất ma
tuý. Cơ quan điều tra đã lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang,
thu giữ vật chứng và tiến hành điều tra, xác minh, làm rõ hành vi phạm tội của
các đối tượng trong từng bàn cụ thể:
Tại bàn B3 tầng 1 của quán có 06 người (03 nam, 03 nữ)
Khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 26/12/2025, Đinh Thị Mỹ L rủ Lê Đức T đến
quán bar Q1 để nghe nhạc. Lê Đức T đồng ý và điều khiển xe ô tô đến đón Đinh
5
Thị Mỹ L, Dương Thanh P2 (chồng L) và Phạm Thị C (bạn của L) cùng đến
quán bar. Sau khi đến quán, Đinh Thị Mỹ L bảo Lê Đức T mua 04 viên ma túy
tổng hợp để cả nhóm sử dụng, T đồng ý. T liên hệ qua điện thoại với Nguyễn
Văn T7 hỏi mua 04 viên thuốc lắc và T7 đồng ý bán; đồng thời, hẹn T khi nào
có ma túy Thể sẽ gọi lại. Sau khi hẹn bán ma túy cho T, T7 điều khiển xe ô tô
hãng taxi M đi đến khu vực đoạn đường vắng gần cổng chào T, phường H, tỉnh
Ninh Bình gặp một người đàn ông (không biết tên, tuổi, địa chỉ) hỏi mua bốn
viên ma tuý tổng hợp, người đàn ông bảo Thể giá 1.600.000 đồng, T7 đồng ý trả
bằng tiền mặt, người đàn ông đưa cho T7 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu
vàng, Thể kiểm tra bên trong bao thuốc lá có một gói giấy màu trắng, bên trong
gói giấy là bốn viên nén hình ngũ giác. Thể báo lại với T đã có ma túy, 4 viên
thuốc lắc Thể bán với giá 2.200.000 đồng, nếu đồng ý mua, chuyển tiền trước
cho T7, T đồng ý. Thể gửi số tài khoản 0982.784.546 mở tại Ngân hàng M1 của
T7 cho T. T sử dụng số tài khoản 101858618686 mở tại Ngân hàng V2, chủ tài
khoản mang tên Lê Đức T chuyển số tiền 2.200.000 đồng vào số tài khoản Ngân
hàng của T7. Sau khi nhận được tiền, đến khoảng 22 giờ 18 phút, T7 điều khiển
xe ô tô mang ma túy đến quán bar Q1. Khi T7 đến bàn B3, lúc đầu chỉ có P2,
Mỹ L, C ngồi, ít phút sau Trường quay lại bàn, ngồi cạnh T7, T7 lấy từ túi quần
bên phải đang mặc một vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, bên trong chứa
04 viên ma túy tổng hợp đặt xuống dưới rãnh bàn trước mặt T đang ngồi, T cầm
bao thuốc lá mở ra kiểm tra, xác định bên trong có 04 viên thuốc lắc đúng như
đã thỏa thuận mua nên nhận số ma túy trên. Sau khi giao ma túy, T7 ngồi uống
cùng nhóm một cốc bia rồi rời khỏi quán. Sau đó, T để 4 viên thuốc lắc trên mặt
bàn, lấy 01 viên thuốc lắc bẻ làm hai phần, bản thân sử dụng một nửa bằng hình
thức uống, nửa còn lại để trên mặt bàn, lấy 02 viên thuốc lắc đưa cho Dương
Thanh P2 và Đinh Thị Mỹ L, mỗi người 01 viên; P2 và Mỹ L nhận; đồng thời,
sử dụng bằng hình thức uống. Sau đó, Trường N7 rủ Phạm Thế L5 đến chơi
cùng, Mỹ L nhắn tin rủ Phạm Thế L5 đến bàn B3 quán bar. Khi Thế L5 đến, T
đưa nửa viên thuốc lắc cho Phạm Thế L5, Thế L5 sử dụng bằng hình thức uống.
01 viên ma túy còn lại T để trên mặt bàn để tiếp tục sử dụng. Một lúc sau có
Nguyễn Tường V1 (bạn của C) đến và ngồi nghe nhạc cùng, C và V1 không
tham gia sử dụng ma túy. Đến khoảng 23 giờ 50 phút, ngày 26/12/2025 khi sáu
người trên đang ngồi nghe nhạc thì bị Cơ quan Công an đến kiểm tra và lập biên
bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lê Đức T, Đinh Thị Mỹ L về hành vi tổ
chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Ngày 08/7/2026, Nguyễn Văn T7 đến Cơ
quan điều tra xin đầu thú và khai nhận hành vi bán trái phép 04 viên ma tuý tổng
hợp cho Lê Đức T.
Thu giữ trên mặt bàn 01 viên nén hình ngũ giác được niêm phong theo quy
định, ký hiệu T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax màu đen của
Lê Đức T; 01 xe ô tô Biển kiểm soát 35A-148.45 đã cũ, 01 điện thoại di động
màu vàng nhãn hiệu Iphone 12 Promax của Đinh Thị Mỹ L, 01 điện thoại di
động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu vàng hồng đã cũ của Dương Thanh P2,
01 điện thoại di động màu vàng nhãn hiệu Iphone 12 Promax của Phạm Thế L5,
6
01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 14 Promax màu tím của Phạm Thị C, 01 điện
thoại nhãn hiệu Iphone 16 Pro màu hồng của Nguyễn Tường V1.
Tại bản kết luận giám định số 327/KL-KTHS và 326/KL-KTHS ngày
03/01/2026 của Phòng K3 Công an tỉnh N kết luận: Mẫu gửi giám định niêm
phong ký hiệu T thu giữ của T tại bàn B3 là ma túy, loại MDMA, có khối lượng
0,442 gam; tìm thấy thành phần các chất gồm: MDMA trong 04 mẫu nước tiểu
của Lê Đức T, Đinh Thị Mỹ L, Dương Thanh P2, Phạm Thế L5 gửi giám định;
không tìm thấy thành phần các chất ma túy thường gặp theo danh mục các chất
ma túy do Chính phủ ban hành trong 02 mẫu nước tiểu của Phạm Thị C và
Nguyễn Tường V1.
Tại bàn C201 tầng 2 của quán có 06 người (05 nam, 01 nữ)
Khoảng 19 giờ ngày 26/12/2025, Hoàng Ngọc N nhắn tin, gọi điện rủ
Hoàng Văn H2, Trần Văn S1, Nguyễn Thị Y, Nguyễn Văn H1 và Bùi Anh T4
đến quán bar Q1 nghe nhạc và cùng sử dụng trái phép chất ma túy. N, H2, H1,
T4 đồng ý và thống nhất chi phí cuộc chơi sau này chia đều cho những người
tham gia; đồng thời, N bảo T4 gọi xe taxi để đón mọi người đi lên quán bar. Sau
đó, N đi ra giữa làng T, xã C, tỉnh Ninh Bình đợi T4 đón, N mang theo 02 viên
ma túy thuốc lắc đã mua ngày 25/12/2025 của người đàn ông (không rõ nhân
thân, lai lịch, giao nhận ma túy tại ngã ba khu đô thị X) với giá 200.000
đồng/viên. Trong lúc chờ T4 đón, N sử dụng 1/2 viên bằng hình thức uống với
nước, số còn lại cất giữ trong người. Sau đó, khi Hoàng Văn H2, Trần Văn S1
đến gặp N, Nam bẻ nửa viên còn lại thành hai phần, đưa H2 1/4 viên, H2 cất
phần ma túy N đưa vào túi quần, N tiếp tục sử dụng 1/4 viên bằng hình thức
uống; Sau khi T4 gọi được một xe taxi ở dọc đường (T4 và cả nhóm không ai
nhớ hãng taxi, biển số xe và không quen biết người lái xe), T4 đến đón N, H2,
S1, Y, H1 rồi cùng nhau đi đến quán Q1. Trên xe N và Y ngồi ghế phụ phía trên,
S1, T4, H2, H1 ngồi ở hàng ghế phía dưới. N đưa 01 viên ma tuý cho T4, T4
đưa viên ma túy này cho H1, H1 bẻ lấy một phần sử dụng bằng cách uống với
nước rồi đưa phần còn lại cho T4, T4 tiếp tục bẻ lấy một phần sử dụng; sau đó,
đưa phần còn lại cho H2, H2 chuyển cho S1 nhưng S1 không sử dụng mà vứt lại
trên xe taxi. H2 lấy 1/4 viên ma tuý N đưa trước đó ra sử dụng bằng hình thức
uống với nước; đồng thời, trên xe taxi, H1 lấy Ketamine đã mua ngày
25/12/2026 của người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch, giao nhận ma túy
tại bãi cỏ khu đô thị X) với giá 1.500.000 đồng mang theo để cả nhóm sử dụng.
Hiến đổ một phần Ketamine ra tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng, nghiền nhỏ, dùng
bật lửa hơ và lấy 01 ống hút nhựa màu cam đã chuẩn bị từ trước làm dụng cụ sử
dụng, phần Ketamine còn lại H1 để trong túi áo. H1 đưa K2 cùng ống hút cho
T4, T4 dùng ống hút hít Ketamine trên tờ tiền rồi đưa cho H2, H2 sử dụng bằng
hình thức hít; sau đó, H2 đưa lại tờ tiền và ống hút cho T4, T4 sử dụng thêm một
ít rồi chuyển cho N; N sử dụng xong đưa lại cho H1 sử dụng. Số Ketamine chưa
sử dụng hết, H1 gói lại để tiếp tục mang vào quán bar sử dụng. Đến khoảng 22
giờ 30 phút, N, H1, T4, H2, S1 và Y đến quán Q1, được nhân viên quán bố trí
ngồi tại bàn C201, tầng 2. Tại đây, H1 mang Ketamine và ống hút vào nhà vệ
7
sinh tầng 2, gặp Phạm Thanh L4 là nhân viên bảo vệ của quán, H1 rủ L4 cùng
sử dụng Ketamine, L4 đồng ý. Sau khi sử dụng xong, L4 trở lại làm việc, H1
quay về bàn C201. Một lúc sau, T4 nói muốn sử dụng tiếp nên H1 đưa tờ tiền có
Ketamine cùng ống hút cho T4; T4 mang vào nhà vệ sinh sử dụng hết số
Ketamine trên tờ tiền; sau đó, vứt bỏ tờ tiền, còn chiếc ống hút T4 mang ra để
trên mặt ghế nơi T4 và cả nhóm ngồi. Số Ketamine còn lại H1 để trên mặt bàn
để mọi người tiếp tục sử dụng. S1 và Y không tham gia sử dụng ma túy. Đến
khoảng 23 giờ 50 phút ngày 26/12/2025, Cơ quan Công an đến kiểm tra quán Q-
Lounge, khi thấy lực lượng Công an Hiến đã vội nhét số Ketamine để trên mặt
bàn vào túi áo khoác. Sau đó, Nguyễn Văn H1, Hoàng Ngọc N, Hoàng Văn H2
và Bùi Anh T4 bị lập biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi tổ chức
sử dụng trái phép chất ma tuý. Khám xét khẩn cấp chỗ ở đối với Hoàng Ngọc N
và Nguyễn Văn H1 không thu giữ gì.
Thu giữ tại bàn C201: 01 ống hút nhựa màu cam có bám dính chất tinh thể
màu trắng, được niêm phong theo quy định, ký hiệu C201-A; trong túi áo khoác
của H1 đang mặc 01 bật lửa ga màu đỏ đã qua sử dụng và 01 vỏ bao thuốc lá
Thăng L6, bên trong có 01 túi ni lon màu trắng kích thước khoảng (2x2) cm
trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng, được niêm phong theo quy định
ký hiệu C201-B; ngoài ra, còn thu giữ của Hoàng Ngọc N 01 điện thoại nhãn
hiệu Iphone 16 Promax màu trắng; Nguyễn Văn H1 01 điện thoại nhãn hiệu
OPPO; Hoàng Văn H2 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone XS Max; Bùi Anh T4 01
điện thoại Iphone nhãn hiệu 14 Promax và 834.000 đồng; Trần Văn S1 01 điện
thoại mặt sau màu vàng; Nguyễn Thị Y 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone.
Tại bản kết luận giám định số 324/KL-KTHS ngày 04/01/2026, 325/KL-
KTHS ngày 03/01/2026 của Phòng K3 Công an tỉnh N kết luận: Mẫu gửi giám
định niêm phong ký hiệu C201-B thu giữ của H1 tại bàn C201 là ma túy, loại
Ketamine, có khối lượng 0,403 gam; mẫu gửi giám định niêm phong ký hiệu
C201-A là ma túy, loại Ketamine, lượng mẫu bám dính ít nên không xác định
được khối lượng mẫu. Đều tìm thấy chất MDMA và chất D1, N5 là sản phẩm
chuyển hoá của chất ma tuý Ketamine trong bốn mẫu nước tiểu của Bùi Anh T4,
Hoàng Ngọc N, Hoàng Văn H2, Nguyễn Văn H1 gửi giám định. Không tìm thấy
thành phần các chất ma tuý thường gặp theo danh mục các chất ma tuý do Chính
phủ ban hành trong hai mẫu nước tiểu của Nguyễn Thị Y và Trần Văn S1.
Tiến hành khám xét khẩn cấp quán bar Q1 thu giữ 01 cây máy tính có chữ
“XIGMATEK” màu đen; 01 màn hình máy tính nhãn hiệu HP màu đen; 01 màn
hình máy tính nhãn hiệu DEL màu đen; 01 máy in hóa đơn có chữ
“XPRINTER” màu đen đã cũ qua sử dụng có kích thước (18,5x14x13cm; 01
đầu thu camera màu đen; 01 màn hình có chữ màu đen; 05 khối hình trụ tròn
bằng kim loại đều được nén khí, đều có đường kính 12cm, cao 26,5cm, hai đầu
bình đều có ốp nhựa màu đen, trên đầu bình đều có van xả khí, niêm phong ký
hiệu từ K6 đến K10, 22 điện thoại di động của chủ quán và nhân viên, 100 vỏ
bóng bay cao su màu đen; 100 vỏ bóng bay cao su màu trắng; tiền Việt Nam
8
đồng trong két sắt 44.000.000 đồng, tiền Việt Nam đồng tại quầy lễ tân
7.590.000 đồng.
Tại Bản kết luận giám định số 129/KL-KTHS ngày 20/01/2026 của V3, Bộ
C1 kết luận: Mẫu khí trong 04 bình kim loại hình trụ tròn ký hiệu K6, K7, K9,
K10 gửi giám định đều là khí dinitrogen monoxide (nitrous oxide, N20) hay còn
gọi là “khí cười”. Khối lượng khí của bình ký hiệu K6 là 0,4kg, bình ký hiệu K7
là 1,2kg, bình ký hiệu K9 là 2,0kg, bình ký hiệu K10 là 2,0kg, 01 bình kim loại
hình trụ tròn ký hiệu K8 đã hết khí nên không giám định.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 09/KL-HĐĐGTS ngày 22/7/2026 của
Hội đồng định giá tài sản thuộc Sở Công tỉnh N kết luận: 5,6 kg khí dinitrogen
monoxide (nitrous oxide, N20) bị thu giữ vào ngày 26/12/2025 có giá trị là
1.638.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: Đối với chiếc xe ô tô nhãn hiệu CRV Biển kiểm soát
35A-148.45 thu giữ của Lê Đức T; quá trình điều tra xác định chiếc xe không
phải là tang vật của vụ án và đứng tên ông Lê Văn K (bố bị cáo), ông K không
biết việc T vi phạm pháp luật, có đơn xin lại chiếc xe nên Cơ quan điều tra đã trả
lại cho ông K theo quy định. Các vật chứng còn lại của vụ án được tiếp tục bảo
quản tại kho vật chứng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N để phục
vụ quá trình xét xử, thi hành án.
Tại Cáo trạng số 172/CT-VKSNBH-P1 ngày 27 tháng 8 năm 2026 của
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình đã truy tố các bị cáo Đinh Thị Mỹ L, Lê
Đức T, Hoàng Ngọc N, Nguyễn Văn H1, Bùi Anh T4 và Hoàng Văn H2 về tội
“Tổ chức sử dụng phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255
của Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Văn T7 về tội “Mua bán trái phép chất ma
túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện sát nhân dân tỉnh Ninh Bình giữ nguyên nội
dung truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Đinh Thị Mỹ L, Lê
Đức T, Hoàng Ngọc N, Nguyễn Văn H1, Bùi Anh T4 và Hoàng Văn H2 phạm
tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; bị cáo Nguyễn Văn T7 phạm tội
“Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều
58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự (đối với L, T, N, H1, T4 và H2); điểm v khoản
1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự (đối với T); khoản 2 Điều 51 của Bộ
luật Hình sự (đối với L, N, H1). Khoản 1 và khoản 6 Điều 251; điểm s khoản 1,
khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự (đối với Nguyễn Văn T7). Điều
47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng sự.
Xử phạt các bị cáo: Đinh Thị Mỹ L từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù; Lê
Đức T bị cáo từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù; Hoàng Ngọc N, Nguyễn Văn
H1 và Hoàng Văn H2 mỗi bị cáo từ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 09 tháng tù;
Bùi Anh T4 từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù; Nguyễn Văn T7 từ 04 năm đến
9
04 năm 06 tháng tù và phạt bổ sung bị cáo T7 từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000
đồng nộp ngân sách Nhà nước.
Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma tuý hoàn lại sau giám định
và các đồ vật không còn giá trị sử dụng như bình trụ tròn bằng kim loại dạng
bình nén khí hai đầu bình đều có ốp nhựa màu đen, trên đầu bình có van xả khí
ký hiệu từ K6 đến K10; 200 vỏ bóng bay cao su.
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước các loại điện thoại của các bị cáo gồm Lê
Đức T, Đinh Thị Mỹ L, Hoàng Văn H2, Hoàng Ngọc N, Bùi Anh T4 và Nguyễn
Văn H1.
Trả lại anh Lã Văn Q (chủ quán Q-Lounge) toàn bộ tài sản mà Cơ quan
Cảnh sát điều tra đã thu giữ không liên quan đến hành vi phạm tội và số tiền
51.590.000 đồng.
Trả lại các anh Trịnh Xuân T10, Vũ Văn N3, Đặng Ngọc S, Trần Văn H3,
Phạm Ngọc T12, Bùi Đình V, Phạm Văn T13, Lã Văn Q, Nguyễn Trường L3,
Mai Văn T14, Vũ Duy T15, Phạm Mạnh T16, Bùi Huy H5, Phạm Xuân P4, Vũ
Mạnh D, Lê Minh T17, Dương Ngọc T18, Phạm Đức T19, Trần Văn S1, Phạm
Thanh L4 và các chị Nông Thị Thanh T11, Nguyễn Tường V1, Phạm Thị C,
Nguyễn Thị Y, Trần Thị H4 các loại điện thoại đã thu giữ và trả lại anh Bùi Anh
T4 số tiền 834.000 đồng nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Truy thu của Nguyễn Văn T7 số tiền 2.200.000 đồng do T7 bán ma tuý cho
Lê Đức T mà có. Về án phí hình sự sơ thẩm, các bị cáo phải chịu theo quy định.
Các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại
phiên toà đều không tranh luận với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân
dân tỉnh Ninh Bình.
Lời nói sau cùng của các bị cáo đều nhận thấy việc làm là sai trái và ân hận,
mong Hội đồng xét xử áp dụng mức hình phạt thấp nhất để các bị cáo sớm trở
về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N,
Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá
trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định
của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo;
những người tham gia tố tụng đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi,
quyết định của quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành
vi và quyết định tố tụng của quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã
thực hiện đều hợp pháp.
Đối với các đương sự vắng mặt tại phiên toà đã được triệu tập hợp lệ; một
số có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, một số vắng mặt không có lý do; tuy nhiên
10
đều có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án; các bị cáo, người tham gia tố tụng có
mặt tại phiên toà và đại diện Viện kiểm sát đều đề nghị xét xử. Căn cứ Điều 292
và Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ
án theo thủ tục chung.
[2] Về tội danh, tính chất mức độ phạm tội
[2.1] Về tội danh, tại phiên tòa các bị cáo khai nhận các tình tiết ghi trong
Cáo trạng đúng với diễn biến của vụ án, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai
của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu,
chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Tối ngày
ngày 26/12/2025, Nguyễn Văn T7 bán cho Lê Đức T 04 viên ma túy loại
MDMA với giá 2.200.000 đồng. Khi bị phát hiện bắt giữ, các đối tượng đã sử
dụng hết 03 viên, còn lại 01 viên, giám định có khối lượng 0,442 gam MDMA.
Như vậy, tổng khối lượng ma túy Nguyễn Văn T7 bán cho Lê Đức T là 0,442 x
4 = 1,768 gam MDMA.
Tối ngày 26 tháng 12 năm 2025, tại quán bar Q1, địa chỉ F đường L, phố T,
phường H, tỉnh Ninh Bình (tại bàn B3 tầng 1); Đinh Thị Mỹ L có hành vi khởi
xướng, bảo Lê Đức T mua 04 viên thuốc lắc để sử dụng, T liên hệ với Nguyễn
Văn T7 và được Thể đồng ý; sau đó, T7 mang đến quán bar Q1 bán cho T với
giá 2.200.000 đồng. Sau khi có thuốc lắc, Lê Đức T sử dụng ½ viên, đưa cho
Đinh Thị Mỹ L 01 viên, Dương Thanh P2 01 viên, Phạm Thế L5 ½ viên. Cả
nhóm sử dụng bằng hình thức uống với nước và bị phát hiện bắt quả tang.
Ngoài ra, tại bàn C201 tầng 2 cũng tại quán bar Q2 cùng ngày Hoàng Ngọc
N, Nguyễn Văn H1, Hoàng Văn H2 và Bùi Anh T4 cũng có hành vi cùng nhau
nghe nhạc và sử dụng ma túy, mọi chi phí được thống nhất chia đều. Trên
đường đi xe taxi đến quán, N có hành vi cung cấp ma túy thuốc lắc (MDMA)
cho H1, T4, H2, cả nhóm sử dụng bằng hình thức uống với nước. H1 có hành vi
cung cấp ma túy Ketamine, công cụ (ống hút, tờ tiền), cả nhóm lần lượt truyền
tay nhau sử dụng bằng hình thức hít vào cơ thể. Khi đến quán bar H7 tiếp tục sử
dụng Ketamine và cung cấp cho Bùi Anh T4, Phạm Thanh L4 sử dụng tại nhà
vệ sinh của quán, cả nhóm đang ngồi nghe nhạc thì bị phát hiện bắt quả tang.
Tất cả các bị cáo đều có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức
được việc làm của mình là vi phạm pháp luật. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân
tỉnh Ninh Bình truy tố các bị cáo các bị cáo Đinh Thị Mỹ L, Lê Đức T, Hoàng
Ngọc N, Nguyễn Văn H1, Bùi Anh T4 và Hoàng Văn H2 phạm tội “Tổ chức sử
dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ
luật Hình sự và bị cáo Nguyễn Văn T7 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma
túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng
người, đúng tội.
[2.2] Về tính chất, mức độ phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo là
nguy hiểm cho xã hội; trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý
của Nhà nước về các chất ma túy và gây mất an ninh trật tự tại địa phương, ảnh
hưởng xấu đến chuẩn mực đạo đức, lối sống và là tác nhân làm phát sinh nhiều
11
tệ nạn xã hội. Bản thân các bị cáo đều biết rõ tác hại của việc sử dụng các chất
ma túy nhưng vẫn cố tình thực hiện. Do vậy, cần phải xử lý hình sự mới đảm
bảo tính nghiêm minh của pháp luật.
[3] Về vị trí, vai trò của từng bị cáo trong vụ án: Đây là vụ án có hai nhóm
tách biệt (nhóm bàn B3 tầng 1) gồm Đinh Thị Mỹ L là người khởi xướng; Lê
Đức T trực tiếp mua ma tuý cho các đối tượng khác sử dụng nên vai trò của L và
T ngang nhau. Đối với (nhóm bàn C201 tầng 2) gồm Hoàng Ngọc N khởi
xướng, cung cấp ma tuý MDMA; Nguyễn Văn H1 cung cấp ma tuý Ketamine,
công cụ cho các đối tượng sử dụng nên N và H1 giữ vai trò thứ nhất; Bùi Anh
T4 rủ H1 và bảo H1 mang theo Ketamine đi nên giữ vai trò thứ hai; Hoàng Văn
H2 đưa ma tuý cho T4 sử dụng và góp tiền mua ma tuý nên giữ vai trò giúp sức.
Trong vụ án này các bị cáo tổ chức sử dụng trái pháp chất ma tuý đều thuộc
trường hợp đồng phạm giản đơn. Ngoài ra, Nguyễn Văn T7 phải chịu trách
nhiệm độc lập đối với hành vi bán trái phép chất ma túy MDMA cho Lê Đức T
với số lượng 1,768 gam ma túy loại MDMA nhằm mục đích để bán kiếm lời.
[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
[4.1] Về nhân thân: Các bị cáo Đinh Thị Mỹ L có nhân thân xấu đã bị áp
dụng biện pháp giáo dục tại xã phường (ngày 26/01/2021) và bị xử phạt vi phạm
hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý (ngày 19/3/2021); Bùi Anh
T4 có nhân thân xấu bị xử phạt hành chính về hành vi xâm phạm sức khoẻ người
khác (năm 2013) và hành vi đánh bạc (năm 2019). Các bị cáo khác đều có nhân
thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự và phạm tội lần đầu.
[4.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tất cả 07 bị cáo đều
không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều
52 của Bộ luật Hình sự.
[4.3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng
như tại phiên tòa, tất cả các bị cáo đều thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải; bị
cáo Đinh Thị Mỹ L hiện đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi; bị cáo Lê Đức T
được tặng thưởng Huy chương sĩ vẻ vang, bố, mẹ đẻ (ông Lê Văn K, bà Trần
Thị P3) được tặng thưởng H6, Huy chương, Bằng khen, Giấy khen và hiện đang
nuôi 03 con đều dưới 15 tuổi; Nguyễn Văn T7 đã đến Cơ quan điều tra xin đầu
thú; Hoàng Ngọc N, tham gia nghĩa vụ quân sự được tặng danh hiệu “Chiến sĩ
tiên tiến” và bố đẻ được tặng thưởng nhiều Bằng khen trong quá trình công tác.
Nguyễn Văn H1 tham gia nghĩa vụ quân sự được tặng Giấy khen và 02 lần được
tặng danh hiệu “Chiến sĩ tiên tiến”. Như vậy, các bị can Lê Đức T, Đinh Thị Mỹ
L, Nguyễn Văn T7, Hoàng Ngọc N, Nguyễn Văn H1, Hoàng Văn H2 và Bùi
Anh T4 được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s
khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Lê Đức T được hưởng thêm tình tiết giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự, quy định tại điểm v khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của
Bộ luật Hình sự. Đinh Thị Mỹ L, Nguyễn Văn T7, Hoàng Ngọc N, Nguyễn Văn
H1 được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quy định tại khoản
2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
12
[5] Về hình phạt
[5.1] Hình phạt chính: Hành vi mua bán trái phép chất ma tuý và tổ chức sử
dụng trái phép chất ma túy của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm
đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy và các
chất gây nghiện, gây mất trật tự trị an trong xã hội và bị xã hội lên án; đồng thời,
là nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác nên phải áp dụng hình phạt tương
xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà các
bị cáo đã thực hiện. Xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân
của các bị cáo cần phải cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác
dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và nâng cao hiệu quả công cuộc đấu tranh,
phòng chống tội phạm.
[5.2] Về hình phạt bổ sung: Nguyễn Văn T7 có hành vi “Mua bán trái phép
chất ma túy” mang tính chất vụ lợi từ hành vi phạm tội. Do vậy, cần áp dụng
khoản 6 Điều 251 của Bộ luật Hình sự để phạt tiền đối với Nguyễn Văn T7 như
đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ. Riêng hành vi “Tổ chức sử dụng trái
phép chất ma túy” của các bị cáo khác không mang tích chất vụ lợi nên không
áp dụng hình phạt bổ sung với các bị cáo là phù hợp pháp luật.
[6] Về xử lý vật chứng
[6.1] Đối với 01 (một) túi niêm phong mã số PS3 24269865, mẫu vật hoàn
trả sau giám định; 01 (một) túi niêm phong mã số PS3 24269862, mẫu vật hoàn
trả sau giám định; Bình trụ tròn bằng kim loại dạng bình nén khí hai đầu bình
đều có ốp nhựa màu đen, trên đầu bình đều có van xả khí ký hiệu từ K6 đến
K10; 100 vỏ bóng bay cao su màu đen; 100 vỏ bóng bay cao su màu trắng và 01
vỏ bật lửa ga màu đỏ không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.
[6.2] Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 điện thoại di động
của Lê Đức T được niêm phong ký hiệu B3ĐT4; 01 điện thoại di động của Đinh
Thị Mỹ L được niêm phong ký hiệu ML; 01 điện thoại di động của Hoàng Văn
H2 được niêm phong ký hiệu H; 01 điện thoại di động của Hoàng Ngọc N được
niêm phong ký hiệu C201Đ1; 01 điện thoại di động của Bùi Anh T4 được niêm
phong ký hiệu C201Đ2; 01 điện thoại di động của Nguyễn Văn H1 được niêm
phong ký hiệu C201Đ4. Đây là những chiếc điện thoại mà các bị cáo sử dụng để
thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu để đấu giá nộp ngân sách Nhà nước.
[6.3] Những tài sản Cơ quan điều tra thu giữ không liên quan đến hành vi
phạm tội, Hội đồng xét xử trả lại cho các chủ sở hữu hợp pháp cụ thể:
Trả lại cho Lã Văn Q: 01 màn hình máy tính nhãn hiệu HP màu đen được
niêm phong theo ký hiệu K2; 01 màn hình máy tính nhãn hiệu DEL màu đen
được niêm phong theo ký hiệu K3; 01 màn hình có chữ Sapo màu đen có chân
đế được dán giấy niêm phong ký hiệu K11; 01 Case máy tính có ghi chữ
“XIGMATEX” màu đen, bên trong lắp một ổ cứng nhãn hiệu Lexar màu xám
được dán giấy niêm phong có tên chữ ký của Đỗ Hải N6, Hoàng Trung D2 và
các hình dấu tròn đỏ của Phòng K3 Công an tỉnh N; 01 máy in hoá đơn có ghi
13
chữ “Xprinter” màu đen được niêm phong ký hiệu K4; 01 đầu thu camera màu
đen đã cũ qua sử dụng có ghi chữ “HIKVISION” được dán giấy niêm phong có
tên chữ ký của Đỗ Hải N6, Hoàng Trung D2 và các hình dấu tròn đỏ của Phòng
K3 Công an tỉnh N; 01 điện thoại di động thu giữ của Lã Văn Q được niêm
phong dán kín ký hiệu ĐT4 và số tiền 51.590.000 đồng.
Trả lại anh Trịnh Xuân T10 01 điện thoại di động được niêm phong ký hiệu
ĐT 10; trả lại anh Vũ Văn N3 01 điện thoại di động được niêm phong ký hiệu
ĐT7; trả lại anh Đặng Ngọc S 01 điện thoại di động được niêm phong ký hiệu
ĐT12; trả lại chị Nông Thị Thanh T11 01 điện thoại di động được niêm phong
ký hiệu ĐT19; trả lại anh Trần Văn H3 01 điện thoại di động được niêm phong
ký hiệu ĐT6; trả lại anh Phạm Ngọc T12 01 điện thoại di động được niêm phong
ký hiệu ĐT3; trả lại anh Bùi Đình V 01 điện thoại được niêm phong ký hiệu
ĐT15; trả lại anh Phạm Văn T13 01 điện thoại di động được niêm phong ký hiệu
ĐT5; trả lại chị Trần Thị H4 01 điện thoại di động được niêm phong ký hiệu
ĐT13; trả lại anh Nguyễn Trường L3 01 điện thoại di động được niêm phong ký
hiệu ĐT11; trả lại anh Mai Văn T14 01 điện thoại di động được niêm phong ký
hiệu ĐT14; trả lại anh Vũ Duy T15 01 điện thoại di động được niêm phong ký
hiệu ĐT8; trả lại anh Phạm Mạnh T16 01 điện thoại di động được niêm phong
ký hiệu PMT; trả lại anh Bùi Huy H5 01 điện thoại di động được niêm phong ký
hiệu ĐT2; trả lại anh Phạm Xuân P4 01 điện thoại di động được niêm phong ký
hiệu ĐT9; trả lại anh Vũ Mạnh D 01 điện thoại di động được niêm phong ký
hiệu ĐT17; trả lại anh Lê Minh T17 01 điện thoại di động được niêm phong ký
hiệu ĐT18; trả lại anh Dương Ngọc T18 01 điện thoại di động được niêm phong
ký hiệu ĐT16; trả lại anh Phạm Đức T19 01 điện thoại di động được niêm
phong ký hiệu ĐT1; trả lại anh Phạm Thanh L4 01 điện thoại di động được niêm
phong ký hiệu ĐT20; trả lại chị Phạm Thị C 01 điện thoại di động được niêm
phong ký hiệu ĐT101; trả lại chị Nguyễn Tường V1 01 điện thoại di động được
niêm phong ký hiệu ĐT 202; trả lại chị Nguyễn Thị Y 01 điện thoại di động
được niêm phong ký hiệu C201Đ6; trả lại anh Trần Văn S1 01 điện thoại di
động được niêm phong ký hiệu C201Đ5; trả lại anh Bùi Anh T4 số tiền 834.000
đồng nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
[6.4] Đối với số tiền 2.200.000 đồng mà Nguyễn Văn T7 bán ma tuý cho
Lê Đức T là tiền thu lợi bất chính cần truy thu và buộc bị cáo Nguyễn Văn T7
nộp lại vào ngân sách Nhà nước.
[7] Quá trình điều tra xác định Nguyễn Văn T7 có vợ là Lò Thị L2, sinh
ngày 19/5/2002 và con gái Nguyễn Thị Phương T20, sinh ngày 09/11/2018, T7
khai nhận hai người phát sinh quan hệ tình dục vào đầu năm 2018. Hành vi của
Nguyễn Văn T7 có dấu hiệu của tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới
16 tuổi”. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã tách hành vi này của
Nguyễn Văn T7 ra để tiếp tục xác minh, điều tra xử lý sau là phù hợp pháp luật.
[8] Đối với người đàn ông bán ma tuý cho Nguyễn Văn T7, Nguyễn Văn
H1, Hoàng Ngọc N; do T7, H1, N không biết rõ họ tên, tuổi, nhân thân lai lịch
nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ. Riêng số ma túy thu
14
giữ (gồm 0,403 gam Ketamine và 0,442 gam MDMA) các đối tượng đều khai
nhận nếu không bị phát hiện bắt quả tang sẽ sử dụng hết. Do vậy, không xem xét
xử lý các đối tượng về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là có căn cứ.
[9] Đối với Dương Thanh P2, Phạm Thế L5 có hành vi sử dụng trái phép
chất ma túy, hiện đang là quân nhân công tác tại Khu vực phòng thủ 2 T, thuộc
Bộ Chỉ huy sự tỉnh Ninh Bình. Ngày 27/12/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra
Công an tỉnh N đã bàn giao Dương Thanh P2, Phạm Thế L5 và các đồ vật tài
liệu có liên quan đến hành phạm của P2 và L5 đến Khu vực phòng thủ 2 T,
thuộc Bộ Chỉ huy sự tỉnh N để tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý theo quy định.
Riêng Phạm Văn T13, Phạm Văn L7 có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý
vào ngày 21/12/2025 và ngày 26/12/2025; qua xác minh, xác định T13, L7
không thuộc diện đối tượng bị xử lý hình sự theo quy định tại Điều 256a của Bộ
luật Hình sự. Ngày 07/7/2026, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công
an tỉnh N đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T13, L7 về hành
vi sử dụng trái phép chất ma tuý theo quy định.
[10] Đối với Lã Văn Q, chủ cơ sở kinh doanh quán bar Q1, Lê Minh T17
(quản lý chung), Phạm Mạnh T16 (thu ngân) có hành vi bán khí Nitrous oxide,
N2O hay còn gọi là bóng cười cho khách, không có hoá đơn mua bán bóng cười
cho khách nên không có cơ sở xác định được số tiền thu lợi bất chính từ việc
bán bóng cười. Ngoài ra, còn cất giữ 5,6 kg khí Nitrous oxide, N2O vào ngày
26/12/2025 có giá trị là 1.638.000 đồng, mục đích để bán cho khách, dưới mức
tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Buôn bán hàng cấm”; bản thân
Lã Văn Q, Lê Minh T17, Phạm Mạnh T16 chưa có tiền án, tiền sự. Vì vậy,
Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh N ra quyết định xử
phạt vi phạm hành chính đối với Lã Văn Q, Lê Minh T17, Phạm Mạnh T16 về
hành vi “Buôn bán khí cười, bóng cười” theo quy định tại điểm d, khoản 1, Điều
8 Nghị định 98/2020/NĐ-CP ngày 26/8/2020 của Chính phủ, với mức phạt tiền
1.500.000 đồng. Ngoài ra, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an
tỉnh N đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Lã Văn Q số tiền
30.000.000 đồng về việc để khách sử dụng trái phép chất ma tuý tại quán hát
theo quy định.
[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định
của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều
58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự (đối với L5, T, N, H1, T17 và H3); điểm v
khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự (đối với T); khoản 2 Điều 51 của
Bộ luật Hình sự (đối với L5, N, H1). Khoản 1 và khoản 6 Điều 251; điểm s
khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự (đối với Nguyễn Văn
T7). Điều 47 của Bộ luật Hình sự. Các Điều 106; 136; 292; 293; 331; 333 của
Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng
15
12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố các bị cáo Đinh Thị Mỹ L, Lê Đức T, Hoàng Ngọc N, Nguyễn
Văn H1, Bùi Anh T4 và Hoàng Văn H2 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép
chất ma túy”; Nguyễn Văn T7 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Xử phạt các bị cáo:
2.1. Đinh Thị Mỹ L 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày
bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 27 tháng 12 năm 2025 đến
ngày 05 tháng 01 năm 2026.
2.2. Lê Đức T 07 (bẩy) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày 27 tháng 12 năm
2025.
2.3. Hoàng Ngọc N 07 (bẩy) năm 03 (ba) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày
27 tháng 12 năm 2025.
2.4. Nguyễn Văn H1 07 (bẩy) năm 03 (ba) tháng tù; thời hạn tù tính từ
ngày 27 tháng 12 năm 2025.
2.5. Bùi Anh T4 07 (bẩy) năm 09 (chín) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày
27 tháng 12 năm 2025.
2.6. Hoàng Văn H2 07 (bẩy) năm 03 (ba) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày
27 tháng 12 năm 2025.
2.7. Nguyễn Văn T7 04 (bốn) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày 08 tháng 7
năm 2026.
Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Văn T7 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) nộp
ngân sách Nhà nước.
3. Xử lý vật chứng:
3.1. Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) túi niêm phong mã số PS3 24269865, mẫu
vật hoàn trả sau giám định; 01 (một) túi niêm phong mã số PS3 24269862, mẫu
vật hoàn trả sau giám định; Bình trụ tròn bằng kim loại dạng bình nén khí hai
đầu bình đều có ốp nhựa màu đen, trên đầu bình đều có van xả khí ký hiệu từ K6
đến K10; 100 vỏ bóng bay cao su màu đen; 100 vỏ bóng bay cao su màu trắng
và 01 vỏ bật lửa ga màu đỏ.
3.2. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động của Lê Đức T
được niêm phong ký hiệu B3ĐT4; 01 điện thoại di động của Đinh Thị Mỹ L
được niêm phong ký hiệu ML; 01 điện thoại di động của Hoàng Văn H2 được
niêm phong ký hiệu H; 01 điện thoại di động của Hoàng Ngọc N được niêm
phong ký hiệu C201Đ1; 01 điện thoại di động của Bùi Anh T4 được niêm phong
ký hiệu C201Đ2; 01 điện thoại di động của Nguyễn Văn H1 được niêm phong
ký hiệu C201Đ4.
3.3. Trả lại cho các chủ sở hữu hợp pháp các tài sản cụ thể như sau:
16
- Lã Văn Q 01 màn hình máy tính nhãn hiệu HP màu đen được niêm phong
theo ký hiệu K2; 01 màn hình máy tính nhãn hiệu DEL màu đen được niêm
phong theo ký hiệu K3; 01 màn hình có chữ Sapo màu đen có chân đế được dán
giấy niêm phong ký hiệu K11; 01 Case máy tính có ghi chữ “XIGMATEX” màu
đen, có dán mã vạch: XEN47567X1141900306, bên trong lắp một ổ cứng nhãn
hiệu Lexar màu xám, S/N: QFQ647R0044350S340 được dán giấy niêm phong
có tên chữ ký của Đỗ Hải N6, Hoàng Trung D2 và các hình dấu tròn đỏ của
Phòng K3 Công an tỉnh N; 01 máy in hoá đơn có ghi chữ “Xprinter” màu đen
được niêm phong ký hiệu K4; 01 đầu thu Camera màu đen ghi chữ
“HIKVISION”, model: DS-7632NI-K2, mã Sn: K89045112 được dán giấy niêm
phong có tên chữ ký của Đỗ Hải N6, Hoàng Trung D2 và các hình dấu tròn đỏ
của Phòng K3 Công an tỉnh N; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15
Promax được niêm phong dán kín ký hiệu ĐT4; 01 điện thoại di động Iphone
màu đen lắp sim số 0981588135 là số hotell của quán được niêm phong dán kín
ký hiệu K12 và số tiền 51.590.000 đồng (năm mươi mốt triệu năm trăm chín
mươi nghìn đồng).
- Trịnh Xuân T10 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 16 được niêm
phong dán kín ký hiệu ĐT10; Vũ Văn N3 01 điện thoại di động Iphone 12
Promax được niêm phong dán kín ký hiệu ĐT7; Đặng Ngọc S 01 điện thoại di
động Iphone 12 Promax được niêm phong dán kín ký hiệu ĐT12; Nông Thị
Thanh T11 01 điện thoại di động Iphone 15 Promax được niêm phong dán kín
ký hiệu ĐT19; Trần Văn H3 01 điện thoại di động Iphone 14 Promax được niêm
phong dán kín ký hiệu ĐT6; Phạm Ngọc T12 01 điện thoại di động Iphone 15
Promax được niêm phong dán kín ký hiệu ĐT3; Bùi Đình V 01 điện thoại di
động nhãn hiệu Iphone 11 Promax được niêm phong ký hiệu ĐT15; Phạm Văn
T13 01 điện thoại di động Redmi được niêm phong dán kín ký hiệu ĐT5; Trần
Thị H4 01 điện thoại di động Iphone 15 Promax được niêm phong dán kín ký
hiệu ĐT13; Nguyễn Trường L3 01 điện thoại Iphone 12 Promax được niêm
phong dán kín ký hiệu ĐT11; Mai Văn T14 01 điện thoại di động Iphone 17
Promax được niêm phong dán kín ký hiệu ĐT14; Vũ Duy T15 01 điện thoại di
động Iphone 15 Promax được niêm phong dán kín ký hiệu ĐT8; Phạm Mạnh
T16 01 điện thoại di động Iphone 17 Promax được niêm phong dán kín ký hiệu
PMT; Bùi Huy H5 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax được niêm phong
dán kín ký hiệu ĐT2; Phạm Xuân P4 01 điện thoại di động Iphone 16 Promax
được niêm phong dán kín ký hiệu ĐT9; Vũ Mạnh D 01 điện thoại di động
Iphone 12 Pro được niêm phong dán kín ký hiệu ĐT17; Lê Minh T17 01 điện
thoại di động S2 được niêm phong dán kín ký hiệu ĐT18; Dương Ngọc T18 01
điện thoại di động HUAWEI Mate 30 Pro 5G được niêm phong dán kín ký hiệu
ĐT16; Phạm Đức T19 01 điện thoại di động Iphone 11 được niêm phong dán
kín ký hiệu ĐT1; Phạm Thanh L4 01 điện thoại di động được niêm phong dán
kín ký hiệu ĐT20; Nguyễn Tường V1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 16
Pro được niêm phong ký hiệu ĐT202; Phạm Thị C 01 điện thoại di động nhãn
hiệu Iphone 14 Promax được niêm phong ký hiệu ĐT101; Trần Văn S1 01 điện
thoại di động được niêm phong ký hiệu C201Đ5; Nguyễn Thị Y 01 điện thoại di
17
động mặt sau màu hồng đã cũ được niêm phong ký hiệu C201Đ6 và Bùi Anh T4
số tiền 834.000 đồng (tám trăm ba mươi tư nghìn đồng) nhưng tiếp tục tạm giữ
để đảm bảo thi hành án.
Tình trạng vật chứng như các Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật
chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N với Kho vật chứng thuộc
Phòng Cảnh sát Thi hành án và Hỗ trợ tư pháp Công an tỉnh N ngày 12/02/2026,
ngày 02/7/2026, ngày 21/7/2026 và Giấy nộp tiền số N
0
11998775 ngày
26/02/2026 tại Ngân hàng TMCP C2 vào số tài khoản có 39490904400700000
của Công an tỉnh N.
3.4. Truy thu và buộc Nguyễn Văn T7 nộp lại số tiền 2.200.000 đồng (hai
triệu hai trăm nghìn đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.
4. Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo Đinh Thị Mỹ L, Lê Đức T,
Hoàng Ngọc N, Nguyễn Văn H1, Bùi Anh T4, Hoàng Văn H2 và Nguyễn Văn
T7 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự
sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15
ngày kể từ ngày tuyên án; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ
án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ
ngày nhận được bản án hoặc kể từ bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 4, 6 và 7 Luật Thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật
Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
- Toà Phúc thẩm TANDTC tại Hà Nội;
- Viện Công tố & KSXXPT tại Hà Nội;
- VKSND tỉnh Ninh Bình;
- Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Ninh Bình;
- THADS tỉnh Ninh Bình;
- Trại tạm giam số 3 tỉnh Ninh Bình;
- Phòng GĐKTTT & THA Tòa án tỉnh;
- UBND xã phường nơi cư trú của bị cáo;
- Các bị cáo;
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan đến vụ án;
- Bộ phận HC-TP;
- Toà Hình sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
(đã ký)
Nguyễn Đức Thủy
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 259/2026/HS-ST Bản án số 259/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 259/2026/HS-ST Bản án số 259/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất