Bản án số 25/2025/HNGĐ-ST ngày 27/05/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Hà Nội, TP. Hà Nội về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 25/2025/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 25/2025/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 25/2025/HNGĐ-ST
Tên Bản án: | Bản án số 25/2025/HNGĐ-ST ngày 27/05/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Hà Nội, TP. Hà Nội về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
Tòa án xét xử: | Tòa án nhân dân khu vực 6 - Hà Nội, TP. Hà Nội |
Số hiệu: | 25/2025/HNGĐ-ST |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 27/05/2025 |
Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ/việc: | Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị C với anh Đặng Ngọc Đ. Chị Nguyễn Thị C được ly hôn với anh Đặng Ngọc Đ |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH OAI
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Bản án số: 25/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 27/5/2025
Về việc: Tranh chấp ly hôn.
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH OAI
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Đồng Trưng
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Quang Ngọc
2. Bà Nguyễn Thị Nguyệt
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Lê Thị Thu Hà- Cán bộ Toà án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Oai: Ông Nguyễn Thọ Thuận-
Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 5 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Oai
mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số
22/2025/TLST-HNGĐ
ngày 11 tháng 02 năm 2025 về việc: “Ly hôn”, theo Quyết
định đưa vụ án ra xét xử số 21/2025/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2025, giữa:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1985.
HTKK và trú tại: Số nhà B ngõ C Thôn H, xã H, huyện T, Thành phố Hà Nội(có
mặt)
B đơn: Anh Đặng Ngọc Đ, sinh năm 1984.
HKTT và trú tại: Số nhà D ngõ G thôn K, xã C, huyện T, TP .(có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và lời trình bày của chị Nguyễn Thị C tại Tòa án như sau:
+ Về tình cảm: Chị C và anh Đ kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng
ký kết hôn ngày 24/11/2008 tại UBND xã C, huyện T, TP .. Sau khi kết hôn anh, chị
chung sống tại gia đình nhà anh Đ, nhưng do vợ chồng khó có con nên cả hai vợ chồng
vào M để thụ tinh ống nghiệm và sinh được hai con, sau đó vợ chồng về nhà anh Đ
tiếp tục sinh sống. Trong cuộc sống vợ chồng luôn bất đồng quan điểm, lý do anh Đ
có nhắn tin với người phụ nữa khác, không quan tâm gì đến gia đình vợ con, vợ chồng
bất đồng quan điểm về kinh tế, có lần anh Đ còn dùng vũ lực với chị C. Cho đến năm
2016 chị C ra ngoài ở riêng và có làm đơn xin ly hôn, khi được Tòa án hòa giải chị đã
tha thứ và cho anh Đ cơ hội, vợ chồng lại về chung sống với nhau. Từ tháng 9 năm
2024 anh Đ lại có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, chị có nói thì anh đánh
chị, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Nay chị C xác định tình cảm vợ chồng không
còn, chị đề nghị được ly hôn với anh Đ.
- Về con chung: Chị C, anh Đ có hai con chung là Đặng Gia H, sinh ngày
12/01/2014 và Đặng Gia B, sinh ngày 12/01/2014, hiện hai cháu đang ở với chị, sau
ly hôn chị xin nuôi cháu Đặng Gia B, anh Đ nuôi cháu Đặng Gia H. Không ai phải
đóng góp nuôi con cho ai.
- Về tài sản chung: Chị C không yêu cầu Tòa án giải quyết
- Công nợ : Chị C khai vợ chồng không nợ ai
- Các yêu cầu khác : Không.
* Anh Đặng Ngọc Đ trình bày:
Về tình cảm: Anh Đ, chị C có tìm hiểu có đăng ký kết hôn như chị C trình bày
là đúng. Sau khi kết hôn, anh chị về chung sống cùng với bố mẹ anh Đ nhưng do vợ
chồng phải vào M để hỗ trợ sinh con sau đó thì vợ chồng về nhà anh và sống hạnh
phúc được một thời gian. Trong cuộc sống vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, nguyên
nhân bất đồng quan điểm sống do anh vô tâm không quan tâm đến vợ, nhưng anh
không chơi bời, anh đi làm cũng vì gia đình vợ con. Do áp lực có lần anh đánh chị.
Trước đây chị C đã làm đơn ly hôn sau đó anh chị lại về chung sống với nhau. Đến
năm 2024, do anh Đ uống rượu rồi có đi hát cùng bạn bè, về nhà vợ chồng xảy ra mâu
thuẫn. Nay chị C cương quyết xin ly hôn anh đồng ý.
- Về con chung: Anh chị có hai con chung là Đặng Gia H, sinh ngày 12/01/2014
và Đặng Gia B, sinh ngày 12/01/2014, hiện hai cháu đang ở với chị C. Sau ly hôn chị
C nuôi cháu Đặng Gia B, anh Đ nuôi cháu Đặng Gia H. Không ai phải đóng góp nuôi
con cho ai.
- Về tài san chung: Vợ chồng có 01 ngôi nhà 3 tầng 01 tum trên tổng diện tích
là 34 m
2
, địa chỉ số nhà B A ngõ C Thôn H- xã H, huyện T, TP ., đã có giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất mang tên Nguyễn Thị C. Anh Đ đề nghị chia đôi và chị C ở
lại nhà thì thanh toán cho anh Đ ½ giá trị nhà và đất. Ngoài ra không còn tài sản nào
khác.
- Công nợ: Anh Đ khai vợ chồng không có công nợ.
- Các yêu cầu khác : Không có.
Quá trình giải quyết vụ án, ngày 31/3/2025 anh Đ có Đơn đề nghị Tòa án xác
định ngôi nhà 3 tầng 01 tum trên tổng diện tích là 34 m
2
địa chỉ số nhà B ngõ C Thôn
H - xã H, huyện T, TP . là tài sản chung vợ chồng trị giá khoảng 3.500.000.000 đồng
và anh đề nghị Tòa án phân chia tài sản khi ly hôn. Cùng ngày 31/3/2025, Tòa án đã
giao Thông báo nộp tiền tạm ứng án phí chia tài sản chung cho anh Đ. Tuy nhiên đến
nay anh Đ chưa giao cho Tòa án Biên lai nộp tiền tạm ứng án phí chia tài sản chung.
Ngày 07/5/2025, Tòa án đã xác minh tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện
Thanh Oai. Theo Thông tin do chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Oai cung cấp:
Từ ngày 31/3/2025 đến ngày 06/5/2025, không có ai tên Đặng Ngọc Đ, sinh năm
1984, trú tại số nhà D ngõ G thôn K, xã C, huyện T, TP . đến nộp tiền tạm ứng án phí
chia tài sản chung theo Thông báo của Tòa án.
* Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn – Chị C vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn như đã trình bày.
Về con chung: Chị C, anh Đ có hai con chung là Đặng Gia H, sinh ngày
12/01/2014 và Đặng Gia B, sinh ngày 12/01/2014, sau ly hôn chị xin nuôi cháu Đặng
Gia B, anh Đ nuôi cháu Đặng Gia H. Không ai phải đóng góp nuôi con cho ai.
Về tài sản chung: Chị C không yêu cầu Tòa án giải quyết. Việc anh Đ cho rằng
ngôi nhà 3 tầng 01 tum trên tổng diện tích là 34 m
2
địa chỉ số nhà B ngõ C Thôn H -
xã H, huyện T, TP . là tài sản chung vợ chồng là không đúng. Đây là tài sản riêng của
chị vì chị được mẹ đẻ chị tặng riêng cho chị theo Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng
đất được lập tại phòng C1 ngày 16/8/2018 và ngày 05/9/2018 chị đã được Sở Tài
nguyên và môi trường thành phố H cấp Giấy chứng nhận đứng tên chị.
Về công nợ: Vợ chồng không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết
- Bị đơn- anh Đ có ý kiến: Anh vẫn giữ nguyên các ý kiến đã trình bày tại Tòa
án. Về tình cảm nếu chị C cương quyết ly hôn anh đồng ý.
Về con: Nếu ly hôn anh xin nuôi cháu Đặng Gia H, anh đồng ý để chị C nuôi
cháu Đặng Gia B. Không ai phải đóng góp nuôi con cho ai.
Về tài sản: Anh vẫn giữ ý kiến đề nghị Tòa án xác định ngôi nhà tại địa chỉ số
nhà B ngõ C Thôn H - xã H, huyện T, TP . là tài sản chung và đề nghị chia . Anh Đ
xác nhận đã nhận được Thông báo nộp tiền tạm ứng án phí của Tòa án nhưng hiện
anh chưa nộp.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu:
- Về Tố tụng: Việc thụ lý vụ án, xác định quan hệ pháp luật, thu thập chứng cứ,
tống đạt các văn bản tố tụng, thời hạn chuyển hồ sơ để Viện kiểm sát nghiên cứu là
đúng với quy định của pháp luật. Tại phiên toà, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên toà
thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị
Nguyễn Thị C với anh Đặng Ngọc Đ.
Về con: Anh chị có hai con chung là Đặng Gia H, sinh ngày 12/01/2014 và
Đặng Gia B, sinh ngày 12/01/2014. Sau ly hôn chị C và anh Đ đều thống nhất: Chị C
nuôi cháu Đặng Gia B, anh Đ nuôi cháu Đặng Gia H, không ai phải đóng góp nuôi
con cho ai nên đề nghị Tòa án ghi nhận.
Về tài sản chung: Chị C không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh Đ có đơn đề
nghị Tòa án xác định ngôi nhà 3 tầng 01 tum trên tổng diện tích là 34 m
2
địa chỉ số
nhà B ngõ C Thôn H - xã H, huyện T, TP . là tài sản chung vợ chồng và yêu cầu chia
tài sản chung. Tuy nhiên, Tòa án có Thông báo cho anh Đ nộp tạm ứng án phí nhưng
quá thời hạn anh Đ không nộp tạm ứng án phí nên không có cơ sở để Tòa án xem xét
giải quyết yêu cầu chia tài sản chung.
Về công nợ: Anh Đ, chị C đều khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết
nên không xem xét.
Các đương sự phải chịu án phí và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp
luật
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà
và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng
xét xử nhận định:
1. Về tố tụng.
Chị Nguyễn Thị C có đơn khởi kiện xin ly hôn với Đặng Ngọc Đ có HKTT và
ở tại: Số nhà D ngõ G thôn K, xã C, huyện T, TP .. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39
Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Thanh Oai thụ lý, giải quyết yêu cầu
khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị C là có căn cứ.
2. Về nội dung.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị C và anh Đặng Ngọc Đ kết hôn tự
nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện T, thành phố Hà Nội ngày
24/11/2008. Đây là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình giải quyết vụ án, Chị C và anh Đ đều xác định vợ chồng xảy ra mâu
thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thực tế vợ chồng đã sống ly thân từ
tháng 9/2024 đến nay. Chị C xác định tình cảm vợ chồng không còn và đề nghị ly
hôn, anh Đ đồng ý ly hôn với chị C.
Như vậy, mâu thuẫn giữa chị C và anh Đ đã kéo dài, tình cảm vợ chồng không
còn, cuộc sống chung vợ chồng không tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được.
Nếu kéo dài sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống của hai bên. Vì vậy, nên chấp nhận yêu cầu
xin ly hôn của chị C đối với anh Đ là phù hợp với Điều 56 luật Hôn nhân và gia đình
năm 2014.
- Về con chung: Anh, chị có hai con chung là Đặng Gia H và Đặng Gia B, cùng
sinh ngày 12/01/2014. Tại phiên tòa, chị C, anh Đ vẫn giữ nguyên ý kiến: Sau ly hôn
chị C và trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Đặng Gia B, anh Đ trực tiếp chăm sóc,
nuôi dưỡng cháu Đặng Gia H và không ai phải đóng góp nuôi con cho ai. Xét thấy ý
kiến của chị C tại phiên tòa phù hợp với ý kiến của anh Đ nên giao cháu Đặng Gia B
cho chị C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Giao cháu Đặng Gia H cho anh Đ trực tiếp
chăm sóc nuôi dưỡng sau ly hôn. Không ai phải đóng góp nuôi con cho ai cho đến khi
có sự thay đổi khác.
Chị C, anh Đ có quyền đi lại, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản.
- Về tài sản chung:
Chị Nguyễn Thị C không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Đặng Ngọc Đ có Đơn yêu cầu Tòa án xác định ngôi nhà 3 tầng 01 tum trên
tổng diện tích là 34 m
2
địa chỉ số nhà B ngõ C Thôn H - xã H, huyện T, TP .(Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên chị Nguyễn Thị C) là tài sản chung vợ chồng
và yêu cầu chia tài sản chung. Tuy nhiên, Tòa án có Thông báo cho anh Đ nộp tạm
ứng án phí nhưng quá thời hạn Tòa án yêu cầu anh Đ không nộp tạm ứng án phí. Mặt
khác, tại phiên tòa anh Đ xác nhận anh đã nhận được Thông báo nộp tiền tạm ứng án
phí nhưng anh chưa nộp, anh Đ cũng không cung cấp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ
chứng minh anh được miễn, giảm nộp tạm ứng án phí theo quy định của pháp luậth.
Do đó, không có cơ sở xem xét, giải quyết yêu cầu của anh Đ về việc chia tài sản
chung.
- Về công nợ: chị C, anh Đ khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết
nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị C phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo luật định.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của
pháp luật.
* Vì các lẽ trên!
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ:
- Các Điều 51; 56; điều 81, điều 82, điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình
năm 2014.
- Các Điều 28, 39, 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015.
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ
phí Tòa án;
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị C với anh Đặng Ngọc Đ
Chị Nguyễn Thị C được ly hôn với anh Đặng Ngọc Đ
2. Con chung: Anh chị có hai con chung là Đặng Gia H, sinh ngày 12/01/2014
và Đặng Gia B, sinh ngày 12/01/2014. Sau ly hôn giao cho Chị C trực tiếp chăm sóc,
nuôi dưỡng cháu Đặng Gia B, anh Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Đặng Gia
H. Không ai phải đóng góp nuôi con cho ai cho đến khi có sự thay đổi khác.
Chị C, anh Đ có quyền đi lại, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản.
3, Về tài sản chung, nhà ở chung: không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét
xử không xem xét giải quyết.
4. Về công nợ chung: Anh chị khai không có, không yêu cầu nên không xem
xét gải quyết.
5. Án phí, quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị C phải chịu 300.000đ án phí ly
hôn sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số
0021122 ngày 11/02/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Oai.
Chị C, anh Đ có mặt tại phiên toà, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ
ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND huyện Thanh Oai;
- Các đương sự;
- Lưu Hs, VP.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
(Đã ký)
Phạm Đồng Trưng
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 29/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 29/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 27/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 25/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 22/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 21/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 20/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 18/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 18/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 18/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 16/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 15/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 15/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 13/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 13/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 12/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 12/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 11/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 08/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 08/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm