Bản án số 24/2023/DS-ST ngày 09/05/2023 của TAND huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 24/2023/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 24/2023/DS-ST ngày 09/05/2023 của TAND huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Bình Tân (TAND tỉnh Vĩnh Long)
Số hiệu: 24/2023/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 09/05/2023
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa lê Minh S và Lê Kim B
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN BÌNH TÂN Độc lập –Tự do - Hạnh Phúc
TỈNH VĨNH LONG
Bản án số: 24/2023/DS.ST
Ngày: 09 - 5 - 2023
“V/v tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH TÂN, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mười Hai
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trương Văn Ánh
2. Ông Trần Ngọc Đức
Thư ký phiên tòa: Trần Thị Định
- Thư ký Toà án nhân dân huyện Bình Tân.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long tham gia
phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bé Hà – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh
Long, xét xử thẩm công khai vụ án dân sự thụ số: 130/2022/TLST- DS ngày 20
tháng 7 năm 2023, về việc: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, theo
Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2023/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 4 năm 2023,
giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Lê Minh S, sinh năm 1978 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp T, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị đơn:Lê Kim B, sinh năm 1943 (xin vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp H, xã N, huyện B, tỉnh Vĩnh Long.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Chị Huỳnh Thị Hồng N, sinh m 1983 (xin vắng mặt)
Anh Đào Thanh N2, sinh năm 1983 (xin vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Ấp H, xã N, huyện B, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
- Theo đơn khởi kiện ngày 19/7/2022, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án
nguyên đơn anh Lê Minh S trình bày:
Vào ngày 01/6/2021 anh Kim B1 lập “Tờ hợp đồng mua đất” với nội
dung, bà B1 đồng ý chuyển nhượng cho anh diện tích 02 phần đất cụ thể như sau:
Phần đất diện tích khoảng 390m
2
(ngang khoảng 26m x dài khoảng 15m,
theo kết quả đo đạc thực tế bằng 317,4m
2
) thuộc một phần của thửa 54, tờ bản đồ số 3,
diện tích chung bằng 1.470m
2
, loại đất lúa, với giá chuyển nhượng
530.000.000đ. Sau khi chuyển nhượng, anh đã cất một căn nhà cấp 04 diện tích
33.4m
2
.
phần đất có diện tích khoảng 870m
2
(ngang khoảng 58m x dài khoảng 15m,
theo kết quả đo đạc thực tế bằng 1069,0m
2
) thuộc một phần của thửa 52, tờ bản đồ số
3, diện tích chung bằng 2.910m
2
, loại đất lúa, với giá chuyển nhượng
1.000.000.000đ; cả 02 thửa đất trên tọa lạc tại ấp H, xã N, huyện B do B1 đứng tên
quyền sử dụng. Anh đã trả đtiền nhưng B1 đến nay chưa thực hiện thủ tục cần
thiết để anh đứng tên quyền sử dụng. Trong phần đất 1069,0m
2
thì trước đây bà B1 đã
chuyển nhượng một phần cho vợ chồng chị Huỳnh Thị Hồng N, anh Đào Thanh N2
diện tích ngang 06 m x dài 11m (theo kết quả đo đạc thực tế bằng 99,4m
2
gồm tách
52-2 bằng 80m
2
+ tách 52-4 bằng 19,4m
2
) thì hiện nay anh đã thỏa thuận nhận chuyển
nhượng lại từ vợ chồng anh N1 phần đất này với giá 210.000.000đ, chị N, anh N1
không còn liên quan hay yêu cầu trong vụ án này, phần đất này anh sẽ giải quyết
với bà B1.
Anh Minh S khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Bình Tân giải quyết:
Buộc B1 thực hiện thủ tục tách thửa thực hiện thủ tục chuyển nhượng quyền sử
dụng đối với diện tích đã nhận chuyển nhượng nêu trên để anh đứng tên quyền sử
dụng (theo kết quả đo đạc thực tế của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh V).
- Tại biên bản hòa giải ngày 19/4/2023, bị đơn bà Lê Kim B1 trình bày:
chuyển nhượng 02 phần đất diện tích, số thửa như anh S trình bày
đã nhận tanh S số tiền nhận chuyển nhượng bằng 1.530.000.000đ đúng, đã giao
đất cho phía anh S quản lý: Sau khi chuyển nhượng việc đo đạc gặp khó khăn không
cấp đổi được giấy chứng nhận nên chưa tách được phần đất đã chuyển nhượng cho
anh S, đến nay không thực hiện được. Qua yêu cầu của anh S thì hiện nay con bà phản
đối, không đồng ý tiếp tục thực hiện việc chuyển nhượng nên bà không đồng ý tiếp tục
thực hiện hợp đồng để anh S đứng tên 02 phần đất theo Hợp đồng mua đất ngày
01/6/2021 (đã nêu trên). Tuy hiện nay không còn khả năng hoàn trả lại anh S số
tiền đã nhận 1.530.000.000đ đã chia cho các con số tiền trên để sử dụng. xin
vắng mặt khi Tòa án các cấp giải quyết vụ án.
- Tại bản khai ý kiến ngày 13/02/2023, người quyền lợi nghĩa vụ liên quan
chị Huỳnh Thị Hồng N, anh Đào Thanh N2 trình bày: Trước đây vợ chồng anh chị có
3
nhận chuyển nhượng phần đất của B1 diện tích ngang 06m x dài 11m do B1
đứng tên nhưng chưa thực hiện thủ tục sang tên. Hiên nay, phần đất B1 gần phần đất
vợ chồng anh nhận chuyển nhượng thì B1 đã chuyển nhượng cho anh S, do vậy vợ
chồng anh chị đã thỏa thuận chuyển nhượng phần đất trên cho anh S với giá
210.000.000đ, toàn bộ thủ tục và phần đất đã giao lại anh S toàn quyền quyết định. Anh S
B1 tranh chấp việc chuyển nhượng thì anh chị không ý kiến hay yêu cầu gì, để
anh S giải quyết tranh chấp với B1. Anh chị xin vắng mặt khi Tòa án các cấp giải
quyết vụ án.
Tại phiên tòa, anh Minh S vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xác định:
Trong phần đất anh nhận chuyển nhượng của B1 diện tích thuộc một phần thửa 54
theo kết quả đo đạc thực tế bằng 1069,0m
2
đã bao gồm phần đất anh nhận chuyển
nhượng lại từ vợ chồng chị N, anh N2; do khi chuyển nhượng không đo đạc thực tế
nên trong đơn khởi kiện chỉ nêu diện tích khoảng 870m
2
. Việc chuyển nhượng
quyền sử dụng đất giữa anh B1 thực hiện trước ngày Quyết định số
27/2021/QĐ.UBND ngày 01/11/2021 của UBND tỉnh V ban hành nên đề nghị Tòa án
xem xét công nhận hợp đồng đã chuyển nhượng. Theo nội dung văn bản số
288/UBND-NC ngày 30/3/2023 của UBND huyện B tanh sử dụng đúng mục đích
đối với diện tích 317,4m
2
đã nhận chuyển nhượng từ B1 theo sự quản của
quan thẩm quyền, chưa yêu cầu được chuyển mục đích sang đất ở, việc chuyển
nhượng này cũng không nhằm mục đích đầu tư phân lô để chuyển nhượng lại.
Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
- Từ khi thụ vụ án trong quá trình giải quyết vụ án thì Thẩm phán, Hội đồng
xét xử, thư Tòa án đã thực hiện đúng quy định của pháp luật vtố tụng. Việc chấp
hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ vụ án cho đến trước thời điểm
Hội đồng xét xử vào nghị án là đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Về những người
tham gia tố tụng thì nguyên đơn, bị đơn, người quyền lợi nghĩa vụ liên quan chấp
hành nghiêm chỉnh.
Về nội dung giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu
cầu khởi kiện của anh Minh S. Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất theo “Tờ hợp đồng mua bán đất” ngày 01/6/2021 giữa anh S B1; diện tích
theo kết quả đo đạc thực tế cụ thể: Tách 52-1 bằng 756,3m
2
tách 54-1 bằng 198,2m
2
đều thuộc tờ bản đồ số 09, loại đất trồng cây lâu năm, đất tọa lạc tại ấp H, xã N, huyện
B, tỉnh Vĩnh Long.
Riêng phần đất thuộc tách 52-3 diện tích 213,3m
2
và tách 54-4 diện tách 19,4m
2
thuộc đất cải tạo nâng cấp đường T, anh S sử dụng ổn định nên tạm giao cho anh S
tiếp tục quản lý, sử dụng phần đất này. Đối với công trình, tài sản trên tách thửa 54-2
buộc anh S phải trách nhiệm di dời, tháo dỡ khi quan thẩm quyền tiến hành
4
giải tỏa theo quy định. Anh S quyền liên hệ quan thẩm quyền để được cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần diện tích được công nhận.
Đối với phần đất anh S đã nhận chuyển nhượng của chị N anh N2 thuộc
Tách 52-2 diện tích 80m
2
và tách 52-4 diện tích 19,4m
2
(do anh N2 chị N đã nhận
chuyển nhượng từ B1 nhưng chưa được đứng n), do B1 chưa ý kiến thừa
nhận đồng ý chuyển nhượng cho chị N, anh N2 hay không, đồng ý thực
hiện thủ tục tách thửa sang tên cho anh S hay không, do đó chưa đủ sở đxem xét
giải quyết liên quan đến phần đất tại tách 52-2 và tách 52-4 cho anh S.
Về chí phí tố tụng: Buộc B1 phải nộp toàn bộ gồm chi phí đo đạc, định giá
bằng 5.961.480đ, do anh S đã nộp tạm ứng nên buộc bà B1 hoàn trả anh S số tiền này.
Về án phí: Buộc bà B1 phải nộp án phí 300.000đ nhưng B1 người cao tuổi
đơn xin miễn án phí nên miễn án phí cho bà B1 theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12
Nghị quyết 326. Hoàn trả anh S số tiền tạm ứng án phí đã nộp (việc phân tích, lập lập
căn cứ pháp lý có văn bản gửi lưu hồ sơ vụ án).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Xét nguyên đơn anh Minh S u cầu tiếp tục thực hiệp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất theo Tờ hợp đồng mua bán đất ngày 01/6/2021” giữa anh
Kim B1; đối tượng tranh chấp bất động sản thuộc huyện B nên tranh chấp
quan hệ pháp luật thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình
Tân, được quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều
39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Xét tại phiên tòa, anh S xác định: Anh nhận chuyển nhượng của B1 diện
tích thuộc một phần thửa 54 theo đo đạc thực tế bằng 1069,0m
2
đã bao gồm phần đất
anh nhận chuyển nhượng lại từ vợ chồng chị N, anh N2 (trước đó chị N, anh N2 đã
nhận chuyển nhượng từ B1 nhưng chưa thực hiện thủ tục sang tên); do khi chuyển
nhượng không đo đạc thực tế nên trong đơn khởi kiện chỉ nêu diện tích khoảng
870m
2
, B1 cũng không ý kiến tranh chấp đối với diện tích anh N2, chị N đã
chuyển nhượng, do vậy việc xem xét giải quyết yêu cầu khởi kiện đối với diện tích
thực tế đã đo đạc là không thuộc trường hợp vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu được
quy định tại khoản 1 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.3] Xét bị đơn bà Lê Kim B1, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là Hunh
Thị Hồng N, anh Đ văn bản đề nghị giải quyết vắng mặt nên Hội đồng xét xử giải
quyết vắng mặt là đảm bảo đúng quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dụng:
[2.1] Xét Tờ hợp đồng mua bán đất ngày 01/6/2021” do anh S cung cấp tuy chưa
được công chứng, chứng thực theo đúng quy định của pháp luật nhưng B1 thừa nhận
5
thỏa thuận chuyển nhượng, đã nhận đủ số tiền chuyển nhượng bằng 1.530.000.000đ,
đã giao đất cho cho anh S quản sử dụng. Theo kết qủa đo đạc, phần đất anh S nhận
chuyển nhượng của B1 diện tích như sau: 227,6m
2
(gồm tách 54-1 bằng 198,2m
2
,
tách 54-2 bằng 29,4m
2
) thuộc một phần của thửa 54, tờ bản đồ số 3, diện tích
chung bằng 1.470m
2
, loại đất lúa và 1069,0m
2
(gồm tách 52-1, 52-3, 52-2, 52-4) trong
đó có phần diện tích 80,0m
2
thuộc tách 52-2 19,4m
2
thuộc tách 52-4 anh S nhận
chuyển nhượng lại từ chị N, anh N2 (trước đây do B1 chuyển nhượng cho chị N,
anh N2 nhưng chưa tách bộ sang tên theo quy định của pháp luật) thuộc một phần của
thửa 52, tờ bản đồ số 3, diện tích chung bằng 2.910m
2
, loại đất lúa cùng tọa lạc tại
ấp H, xã N, huyện B do B1 đứng tên quyền sử dụng. Xét nội dụng thỏa thuận
chuyển nhượng giữa anh S, B1 đã thực hiện hoàn tất việc giao nhận đất tiền
theo quy định tại khoản 2 Điều 129 của Bộ luật dân sự 2015, việc chuyển nhượng
trước ngày Quyết định số 27/2021/QĐ.UBND ngày 01/11/2021 của UBND tỉnh V
hiệu lực pháp luật.
[2.2] Xét trong quá trình giải quyết vụ án, khi đo đạc thực tế ngày 08/9/2022,
lời trình bày của anh S tại biên bản hòa giải ngày 19/4/2023, lời khai của chị N, anh
N2, Biên nhận cọc và Biên nhận cùng ngày 07/4/2022, đã có căn cứ xác định việc anh
S nhận chuyển nhượng lại diện ch thuộc tách thuộc tách 52-2 19,4m
2
thuộc tách
52-4 là có thật, bà B1 đã biết và không có ý kiến phản đối nội dung thỏa thuận chuyển
nhượng này. Việc chuyển nhượng giữa anh S và vợ chồng anh N2 đã giao đất và nhận
tiền trên thực tế. Anh N2, chị N đã đồng ý giao lại anh S để giải quyết tranh chấp với
B1, do vậy việc giải quyết công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
giữa anh S, B1 vợ chồng anh N2 trong cùng một vụ án là căn cứ, đồng thời
nhằm giải quyết triệt để vụ án là phù hợp.
[2.3] Xét trong diện tích 227,6m
2
sau khi nhận chuyển nhượng, anh S chịu trách
nhiệm về quyền sử dụng đất đối với quan thẩm quyền trong quá trình quản sử
dụng đất không yêu cầu chuyển mục đích sang đất ở, không thuộc trường hợp đầu
phân bán nền theo Quyết định số 27/2021/QĐ.UBND ngày 01/11/2021 của
UBND tỉnh V. Do vậy, Hội dồng xét xử công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất theo Tờ hợp đồng mua bán đất ngày 01/6/2021” giữa anh S B1. Anh S
có quyền kê khai đăng ý quyền sử dụng đất được công nhận và tiếp tục sở hữu tài sản trên
đất là có căn cứ.
[3] Về chi phí tố tụng: Chi phí thẩm định tại chỗ, định giá tài sản: 5.612.000đ.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc B1 phải nộp nhưng B1 người cao tuổi
đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12
của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
[5] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa căn cứ một phần, được chấp
nhận như những nhận định trên.
6
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 của
Bộ luật tố tụng dân sự.
Khoản 2 Điều 129, Điều 502, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015;
Các điều 167, 168, 170, khoản 3 Điều 100 Luật đất đai 2013;
Điều 147, Điều 157, Điều 165 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Điểm b.3 tiểu mục 2.3 mục 2 phần II của Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày
10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Lê Minh S.
1.1. Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo Tờ hợp đồng
mua bán đất ngày 01/6/2021” giữa anh Lê Minh S và bà Lê Kim B1.
1.2. Công nhận cho anh Minh S được quyền sử dụng phần đất các tài sản
trên đất diện tích 227,6m
2
(gồm tách 54-1 bằng 198,2m
2
, tách 54-2 bằng 29,4m
2
)
thuộc một phần của thửa 54, tờ bản đồ số 3, có diện tích chung bằng 1.470m
2
, loại đất
lúa và 1069,0m
2
(gồm tách 52-1, 52-3, 52-2, 52-4) thuộc một phần của thửa 52, tờ bản
đồ số 3, diện tích chung bằng 2.910m
2
, loại đất lúa, cùng tọa lạc tại ấp H, N,
huyện B, tỉnh Vĩnh Long do bà Lê Kim B1 đứng tên quyền sử dụng (theo Trích đo bản
đồ địa chính khu đất ngày 14/12/2022 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh V).
Anh Minh S quyền liên hệ cơ quan thẩm quyền để đăng điều chỉnh
quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
1.3. Về chi phí tố tụng (chi phí thẩm định tại chỗ, định giá tài sản): 5.912.000đ.
Buộc Kim B1 phải nộp, do anh S đã nộp tạm ứng xong nên buộc B1 nộp
hoàn trả anh S số tiền 5.912.000đ (năm triệu chín trăm mười hai nghìn đồng).
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi
hành xong, tất cả các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án, hàng tháng bên phải
thi hành án phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy
định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm
2.1. Hoàn trả anh Minh S số tiền tạm ứng án phí đã nộp 26.000.000đ (hai mươi
sáu triệu đồng) theo biên lai thu số 0013751 ngày 20/7/2022 của Chị cục Thi hành án dân
sự huyện Bình Tân.
2.2. Miễn án phí cho là Lê Kim B1.
7
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự
thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi
hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án
theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án
được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Đương sự mặt tại phiên tòa quyền kháng cáo bản án y trong thời hạn 15
(mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt hoặc không mặt khi Tòa
tuyên án quyền kháng cáo bản án y trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày
bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Vĩnh Long (PKTNV và THA): 01;
- VKSND huyện Bình Tân: 01;
- CCTHADS huyện Bình Tân: 01;
- Các đương sự: 04;
- Lưu: 04
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Văn Mười Hai
Tải về
Bản án số 24/2023/DS-ST Bản án số 24/2023/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất