Bản án số 24/2022/DS-PT ngày 25/02/2022 của TAND tỉnh Bắc Giang về tranh chấp lối đi qua bất động sản liền kề

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 24/2022/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 24/2022/DS-PT ngày 25/02/2022 của TAND tỉnh Bắc Giang về tranh chấp lối đi qua bất động sản liền kề
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Bắc Giang
Số hiệu: 24/2022/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 25/02/2022
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC GIANG
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 24/2022/DS - PT
Ngày 25 - 02 - 2022
V/v Tranh chấp lối đi qua bt động sn lin k
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Thạo;
Các Thẩm phán:Ông Nguyễn Văn Ngữ, bà Nguyễn Thị Hương Giang.
- Thư ghi biên bản phiên tòa: Nguyễn Ngọc Thương Hiền - Thư
ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà:
Bà Hà Thị Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 25/02/2022, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc
thẩm công khai vụ án dân sự thụ số 177/2021/DSPT ngày 25/11/2021 về việc
"Tranh chấp lối đi qua bất động sản liền kề".
Do bản án dân sự thẩm s
47/2021/DSST ngày 06/10/2021 của Tòa án
nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang có kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2022/QĐ- PT ngày 04/01/2022
giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trương Thị H, sinh năm 1974 (có mặt);
Địa ch: Tn T R, xã ĐH, huyn LN, tỉnh Bc Giang.
- Các đồng bị đơn:
1. Ông Trương Công B, sinh năm 1954 (có mặt);
2. Anh Trương Văn M, sinh năm 1981 (có mặt);
Đu trú tại: Thôn T R, ĐH, huyn LN, tỉnh Bc Giang.
- Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Trần Văn T, sinh năm 1973 (có mặt);
2. Anh Trần Văn Tr, sinh năm 1993 (vắng mặt);
3. Anh Trần Văn T1, sinh năm 1995 (vắng mặt);
4. Chị Đỗ Thị L, sinh năm 1997 (vắng mặt);
2
5. Bà Đỗ Thị V, sinh năm 1954 (vắng mặt);
6. Anh Trương Công Đ, sinh năm 1987 (vắng mặt);
7. Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1988 (vắng mặt);
8. Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1987 (có mặt);
Đu trú ti: Thôn T R, xã ĐH, huyn LN, tnh Bc Giang.
9. Ủy ban nhân n ĐH, huyện LN, tỉnh Bắc Giang - Do ông Nguyn
Tờng S Chủ tịch UBND xã đại din theo pp lut (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai tại phiên tòa,
nguyên đơn là chị Trương Thị H trình bày:
Năm 1994 gia đình chchuyển khẩu t xã HG, huyện LN, tỉnh Bc Giang về
Tn T R, ĐH, huyện LN, tỉnh Bắc Giang. Bố đchị ông Trương Văn P
cho vợ chồng chị 01 thửa đất tại thôn T R đở, hiện nay gia đình chị vẫn đang
sinh sống trên thửa đất này.
Thời điểm ông Trương n P cho vợ chồng chị thửa đất, khi đó đã
đường ra vào rất thuận tiện. Thửa đất tứ cận phía đông giáp vườn của ông
Trương Công B, phía y giáp vườn gia đình ông Trần Đức H, phía nam giáp
vườn gia đình ông Diệp Văn S, phía bắc giáp vườn ông Trương Công B.
Năm 2000, ông Ong Thế Ch (lúc đó cán bộ địa chính ĐH, hiện tại
ông Ch Phó Chủ tịch UBND Đông Hưng) thực hiện việc đo đạc để cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình chị. Địa chính để con
đường đi rộng 4m, dài trên 57m, phía đông lối đi giáp vườn ông Trương Công B
(lúc đó anh Trương Văn M chưa ra ở riêng như hiện nay).
Năm 2017, gia đình chị đổ đường bê tông để đi lại cho thuận tiện nhưng
gia đình ông Trương Công B, anh Trương Văn M không đồng ý cho đổ tông
rộng 4m mà chỉ cho đrộng 2m với do nếu đổ rộng 4m sẽ làm hỏng rễ cây
vải của gia đình ông B.
Sau khi m xong con đường ng rộng 2m thì việc đi lại rất khó khăn,
đây cũng là nguyên nhân gây mất đoàn kết giữa các gia đình với nhau. Nhiều lần
gia đình anh M ngăn cản không cho xe ô tô chở cám đi vào nhà chị.
Nay chị Trương Thị H yêu cầu gia đình ông Trương Công B, anh Trương
Văn M mở rộng lối đi thêm 1m nữa, cụ thể mở rộng thêm sang phần đất của anh
M 0,5m mở rộng thêm sang phần đất ông Trương Công B 0,5m. Chiều
dài chạy song song với lối đi đang sử dụng.
3
Bị đơn là ông Trương Công B trình bày:
Ông em trai của ông Trương Văn P (bố đẻ chị Trương Thị H). Nguồn
gốc diện tích đất gia đình ông đang sử dụng do khai hoang, vỡ hóa từ nhiều năm
về trước, đến năm 1990 thì tiến hành trồng cây ăn quả, m 2000 gia đình được
Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Khoảng năm 1994 1995 chị Trương Thị H chuyển khẩu từ HG,
huyện LN vđây sinh sống. Ông P cho vợ chồng chị H một thửa đất để ở,
thời điểm vợ chồng chị H về đây, Ông P có xin ông cho một lối đi qua vườn vải
để thuận tiện cho việc đi lại, vì tình cảm gia đình nên ông đã đồng ý cho gia đình
chị H được đi qua rãnh vải nhà ông.
Khoảng năm 2014 hoặc 2017 (không nhớ rõ), chị Trương Thị H xin
ông cho mrộng lối đi 2,3m đổ đường bê tông nhưng ông chỉ đồng ý cho đổ
đường tông rộng 2m, sau đó gia đình chị H đã làm đường tông rộng 2m
như hiện nay đang sử dụng.
Năm 2020, ông Trương Văn P chị Trương Thị H gặp ông để xin m
rộng thêm con đường rộng 4m đổ tông nhưng ông không đồng ý. Sau đó
chị H có gửi đơn đến các cơ quan có thẩm quyền để khiếu kiện ông.
Nay quan điểm của ông không đồng ý m rộng thêm lối đi cho chị
Trương Thị H việc mrộng thêm lối đi sẽ ảnh hưởng đến hàng y vải thiều
của gia đình ông.
Bị đơn anh Trương Văn M trình bày:
Anh em họ của chị Trương Thị H, diện tích đất anh đang sử dụng
nguồn gốc do gia đình anh (bố anh ông Trương Công B) khai hoang từ nhiều
m vtrước, gia đình sử dụng trồng cây từ năm 1990 đến năm 2000 thì được
Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyn sử dụng đất. Khoảng m 1994 1995
chị Trương Thị H chuyển khẩu về đây được bố đẻ ông Trương Văn P chia
cho một phần đất để ở. Để có đường đi vào nhà, Ông P có sang gia đình anh xin
mở một lối đi qua vườn vải thiều với chiều rộng đủ một chiếc xe trâu kéo đi vừa,
bố anh ông Trương Công B đồng ý cho gia đình chị H một lối đi rộng 2m.
Năm 2017, gia đình chH đã đổ tông lối đi y sử dụng đến ngày nay.
Nay chị H yêu cầu mở rộng lối đi thì anh không đồng ý phần sân đã y của
nhà anh đã nằm sát lối đi nên không thể mở rộng thêm vào phần đất của anh,
phần đất của bố anh là ông Trương Công B cũng không thể cho mở rộng thêm vì
làm ảnh hưởng đến hàng cây vải.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
4
Anh Trần n T trình y: Năm 1994 gia đình anh chuyển khẩu từ HG,
huyện LN về Thôn T R, xã ĐH, huyện LN. Khi đó bố vợ anh là Trương Văn P cho
vợ chồng anh một mảnh đất để ở và có đường đi lại rất thuận tiện. Lối đi khi đó
con đường rất rộng, phía đông giáp vườn ông Trương ng B, phía tây giáp ờn
bạch đàn (hiện nay đất anh Trương Văn M). Năm 2000, cán bộ địa cnh xã ĐH
ông Ong Thế Ch tiếnnh đo đạc để làm thủ tục cấp Giy chứng nhận quyn sử
dụng đất cho nhân n. Khi đó đã nhất trí để lối đi chung có chiều rộng 4m, chiều
i n 57m. Năm 2017, gia đình anh làm đường tông để đi lại cho thuận tiện
nhưng ông Trương ng B không đồng ý cho m đường rộng 4m, mà chcho đổ
ng rộng 2m với lý do ảnh ng đến rễ cây vải của gia đình ông B.
Quá trình sử dụng lối đi nhiều lần xảy ra to tiếng giữa hai gia đình ô
đi vào nhà anh có va chạm với một số cây vải của gia đình ông B.
Nay anh đồng ý với ý kiến của chị Trương Thị H, yêu cầu gia đình ông
Trương Công B, anh Trương Văn M mở rộng thêm lối đi 01m nữa để gia đình
anh đi lại được thuận tiện.
Anh Trần Văn Tr, Trn Văn T1, chị Đỗ Thị L trình bày:
Các anh, chị là con của ông Trần Văn T và bà Trương Thị H, là thành viên
hộ gia đình. Việc tranh chấp về lối đi giữa bố m anh, chị với gia đình ông
Trương ng B, anh Trương Văn M thì c anh, chđồng ý với các ý kiến của
ông Tư, bà Hai. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Anh Trương Văn Đ trình y: Anh con trai ông Trương Công B, em
trai của anh Trương Văn M. Hiện vợ chồng anh cùng hộ khẩu sinh sống với
bố mẹ. Quá trình giải quyết vụ án anh đã lời khai cung cấp cho Tòa án, nay
anh vẫn giữ nguyên những ý kiến đó. Tại phiên tòa hôm nay, anh đồng ý với các
ý kiến của ông B anh M đã trình bày. Gia đình anh không đồng ý mở rộng
thêm lối đi cho chị Trương Thị H.
Đỗ Thị V là vợ ông Trương Công B; chị Nguyễn Thị T chị Nguyễn
Thị N các con dâu của ông B: Đã được thông B về việc thụ vụ án nhưng
không gửi văn bản ghi ý kiến cho Tòa án.
Ủy ban nhân dân (UBND) ĐH do ông Nguyễn Trường S đại diện theo
pháp luật trình bày:
Gia đình chị Trương Thị H gia đình ông Trương Công B cùng trú tại
Thôn T R, xã ĐH, huyện LN, tỉnh Bắc Giang có quan hệ là chú cháu ruột. Lối đi
đang tranh chấp giữa hai gia đình chiều dài khoảng 59m, chiều rộng hiện tại
2m, đã đổ bê tông năm 2017. Lối đi này đất do Nhà ớc quản lý, không
5
nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ gia đình nào. Nguồn gốc
lối đi đã tmấy chục năm trước, khi người dân đến đây khai hoang, vỡ hóa,
trong đó có gia đình ông Trương Văn P và ông Trương Công B.
Về việc chị Trương Thị H, ông Trương Công B cho rằng năm 2000 địa
chính khi đo đạc để lối đi rộng 4m thì UBND ý kiến như sau: UBND
Đông Hưng không quy hoạch về chiều rộng đường ngõ tại thôn, xã, do
vậy không căn cứ để xác định lối đi này rộng 4m. Tại biên bản hòa giải ny
30/11/2020 của Hội đồng hòa giải về tranh chấp đất đai UBND xã Đông Hưng
có thể hiện nội dung “Thống nhất quy hoạch đường ngõ 4m”, nay UBND xã ĐH
đính chính là “Thời điểm năm 2000, địa phương không có quy hoạch đường ngõ
rộng 4m, đến nay cũng không văn bản nào quy định về chiều rộng đường
giao thông nông thôn trong xã”. Tại phiên a giải trên, địa phương muốn tạo
điều kiện cho các bên thỏa thuận, hòa giải với nhau nên đưa ra hướng mrộng
lối đi thành 4m chứ đây không phải quy định, không có trong quy hoạch nào cả.
Theo tài liệu địa chính tại địa phương, lối đi từ đường thôn vào nhà chị
Trương Thị H có chiều rộng 2m úng bằng chiều rộng đường tông hiện tại).
Không căn cứ để xác định gia đình ông Trương Công B, anh Trương Văn M
lấn chiếm vào lối đi này.
Về yêu cầu m rộng lối đi của chị Trương ThH: Gia đình chị H gia
đình ông B chú cháu ruột, mấy chục năm qua không tranh chấp gì. Hiện tại
gia đình chị H hoạt động kinh tế ch yếu chăn nuôi chim, thường xuyên ô
chở thức ăn chăn nuôi ra vào. Diện tích đất gia đình chị H đang sử dụng
tương đối lớn (khoảng 5000m
2
), trồng nhiều cây ăn quả nên cần sử dụng
phương tiện cơ giới để chuyên chở nông sản ra ngoài tiêu thụ. Do vậy lối đi hiện
tại có chiều rộng 2m là chưa đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt của gia đình chị H,
khó khăn cho đi lại đây chính là nguyên nhân dẫn đến mất đoàn kết, kiện cáo
nhau va chạm vào hàng y vải thiều của gia đình ông B, anh M). Quan
điểm của địa phương về việc chị Trương Thị H yêu cầu mở rộng thêm lối đi
cở sở cần thiết, tuy vậy trường hợp các bên thỏa thuận, thống nhất được
với nhau là tốt hơn cả vì giữ lại được tình cảm gia đình.
Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Đỗ Thị V, chị Nguyễn Thị
T, chNguyễn Thị N: Đã được Tòa án thông B về việc thụ vụ án hợp lệ. Hết
thời hạn 15 ngày kể từ ngày được nhận thông B thụ vụ án nhưng Tòa án
không nhận được văn bản ghi ý kiến của những người này.
6
Ngày 01/7/2021 chị Trương Thị H có đơn đề nghị Tòa án thẩm định, định
giá xem xét, thẩm định tại chỗ đối với phần lối đi đang tranh chấp với ông
Trương Công B, anh Trương Văn M.
Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản:
Hiện trạng lối đi gia đình chị Trương Thị H đang sử dụng là đường bê
tông diện tích 122,7m
2
, phía bắc giáp đường liên thôn rộng 3,68m, phía đông
giáp đất ông Trương Công B dài 58,44m, phía nam giáp đất chị Trương Thị H
rộng 2,21m, phía y giáp đất anh Trương Văn M dài 57,82m. Trên lối đi y
không có rào chắn hay chướng ngại vật gì cản trở.
Lối đi chị Trương Thị H yêu cầu mở rộng thêm có đặc điểm như sau:
- Phần giáp đất ông Trương ng B: Rộng 01m, thuộc đất của h ông
Tơng Công B phía bắc giáp đường thôn rộng 01m; phía đông giáp đất ông
Tơng Công B i 58,44m; phía nam gp đất chTrương Th H rộng 01m; phía
tây giáp đường bê tông dài 58,44m (chạy song song với tông đang sử dụng).
- Phần giáp đất anh Trương Văn M: Rộng 01m, thuộc đất của hộ anh
Trương Văn M có phía bắc giáp đường thôn rộng 01m; phía đông giáp đường bê
tông dài 57,82m; phía nam giáp đất Trương Thị H rộng 01m; phía y giáp đất
anh Trương Văn M dài 57,82m.
Ngày 05/8/2021, Hội đồng định giá tài sản đã định giá đối với i sản
tranh chấp, kết quả định giá như sau:
- Lối đi theo hiện trạng diện tích 122,7m
2
x 277.777đồng/m
2
=
33.888.888đồng.
- Phần lối đi chị Trương Thị H yêu cầu mở rộng thêm có diện tích
122,7m
2
x 277.777đồng/m
2
= 33.888.888đồng.
- Trên phần lối đi yêu cầu mở rộng giáp đất ông Trương Công B ảnh
hưởng đến 09 cây vải thiều (đường kính tán từ 5,5m 6m) x giá 3.227.000
đồng/cây = 29.043.000đồng.
Tổng trị giá phần lối đi yêu cầu mở rộng thêm và tài sản trên lối đi mở
rộng thêm là: 33.888.888đồng + 29.043.000đồng = 62.931.888đồng.
Sau khi thông B kết quả định giá, phía nguyên đơn, bị đơn nhất trí, không
có ý kiến gì về kết quả định giá, không yêu cầu định giá lại.
Với nội dung vụ án như trên, bản án dân sự thẩm số 177/2021/DSPT
ngày 25/11/2021 của Tòa án nhân dân huyn LN đã quyết định:
Áp dụng Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 165; Điều 166; Điều
244; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 Điều 280 Bộ luật tố tụng dân
sự. Điều 245; Điều 254 Bộ luật dân sự; Điều 170 Điều 171 Luật đất đai m
7
2013; điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, Xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị H.
Buộc ông Trương Công B phải dành một phần đất diện tích 29,3m
2
để
mở rộng lối đi cho chị Trương Thị H. Lối đi được m rộng thêm tứ cận giáp
ranh như sau: Phía tây dài 58,44 m giáp đường tông; phía bắc chiều rộng
0,5m giáp đường thôn; phía đông dài 58,6 m giáp đất ông Trương Công B; phía
nam rộng 0,5m giáp đất chị Trương Thị H (có sơ đồ lối đi kèm theo bản án). Chị
Trương Thị H phải bồi thường cho ông Trương Công B số tiền 8.139.000đồng
(tám triệu một trăm ba mươi chín nghìn đồng). Ông Trương Công B có nghĩa vụ
sử dụng đất đúng ranh giới thửa đất, trường hợp rễ y, cành cây vượt quá ranh
giới thì phải xén rễ, cắt, tỉa cành để không làm ảnh hưởng đến lối đi chung.
2. Không chấp nhận yêu cầu của chị Trương Thị H về việc buộc anh
Trương Văn M dành một phần đất để mở rộng lối đi cho chị H.
Ngoài ra bản án còn tuyên về, nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm, nghĩa
vụ chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, chi phí định giá tài sản, quyền kháng
cáo của các đương sự.
Ngày 11/10/2021 chị Trương Thị H kháng cáo.
Nội dung chị H kháng cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản
án thẩm. Buộc ông Trương Công B phải giành phần đất chiều rộng 1,5m
dài 59m cho gia đình chị lối đi; việc bồi thường tiền i sản cho ông B, đề
nghị Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo quy định của pháp luật.
Ngày 19/10/2021, ông Trương Công B kháng cáo.
Nội dung ông B kháng cáo: Bản án sơ thẩm buộc ông phải mrộng lối đi
cho chị Trương Thị H, buộc ông phải chịu 2.500.000đồng tiền chi phí thẩm định
là không đúng.
Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án dân s thẩm số
177/2021/DSPT ngày 25/11/2021 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam.
Tại phiên tòa phúc thẩm, chị Trương Thị H không thay đổi, bổ sung rút
yêu cầu khởi kiện, không thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo; ông Trương Văn B
không thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được
với nhau về việc giải quyết vụ án.
Chị Trương Thị H trình bày: Do nhu cầu làm ăn, gia đình chị nhu cầu
mở rộng lối đi rộng khoảng 3,5m nhưng bản án thẩm chỉ buộc ông Trương
Công B mở rộng lối đi thêm 50cm không đủ đô tải vận chuyển hàng hóa
ra vào nhà chị. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm buộc ông Trương Công B
8
phải mở rộng lối đi thêm 1,5m. Số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, chi
phí định giá tài sản chị đồng ý chịu toàn bộ.
Ông Trương Công B trình bày: Gia đình chị H đã lối đi ra vào rộng
02m đđể đi lại phục vụ sinh hoạt nhưng bản án thẩm buộc gia đình ông m
rộng thêm 50cm cho gia đình chị H, buộc ông phải chịu 2.500.000đồng tiền chi
phí xem xét, thẩm định tại chỗ không đúng. Đề nghị Hội đồng xét xử không
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H, buộc chị H phải chịu toàn bộ chi phí
xem xét, thẩm định tại chỗ, chi phí định giá tài sản.
Anh Trần Văn T, anh Trần Văn T1 đồng ý với ý kiến trình y của chị
Trương Thị H, không thay đổi, bổ sung.
Anh Trương Văn M, anh Trương Công Đ, chị Nguyn Thị N đồng ý với ý
kiến của ông Trương Công B, không thay đổi, bổ sung.
Đại diện Vin kiểm sát nn n tỉnh Bắc Giang phát biểu ý kiến:
- Vviệc tn theo pháp luật của Thẩm pn: Thẩm phán đã chấp hành đúng
c quy định của B luật t tụng n sự (BLTTDS); thụ lý vụ án đúng thẩm quyền;
thực hiện việc tng B thlý ván cho Vin kiểm sát các đương stheo đúng
quy định tại Điều 285 BLTTDS; chấp nh đúng thời hạn chuẩn bị xét xử quy định
tại điểm c khoản 1 Điều 286 BLTTDS; thực hiện việc gửi hồ sơ vụ án, quyết định
đưa vụ án ra xét xử cho Viện kiểm t cùng cấp nghiên cứu tham gia phiêna; việc
gửi quyết đnh đưa vụ án ra t xcho người kng cáo, người liên quan đến việc
kháng o đúng thời hạn theo quy định tại khoản 2 Điều 290, Điều 292 BLTTDS.
- Về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Hội đồng xét xử đã thực
hiện đúng các quy định của BLTTDS về phiên tòa phúc thẩm: Xét xử đúng, đủ
thành phần theo quyết định đưa vụ án ra xét xử; trình tự thủ tục tại phiên tòa
đúng quy định tại các Điều 297, Điều 298, Điều 302, Điều 303, Điều 305, Điều
306 BLTTDS.
- Vviệc tuân theo pháp luật của thư ký phn tòa: T phn a đã phổ
biến nội quy phn tòa; kiểm tra sự mặt của những nời tham gia phiên tòa theo
giấy triệu tp của Tòa án và thực hin các vic kc theo đúng quy định tại Điều 237
BLTTDS.
Đối với đương sự:
Nguyên đơn: Thực hiện đúng các Điều 70, Điều 71 BLTTDS quy định về
quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn.
Bị đơn: Thực hiện đúng các Điều 70, Điều 72 BLTTDS quy định về quyền,
nghĩa vụ của bị đơn.
9
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Thực hiện đúng quy định tại Điều
70, Điều 73 của BLTTDS.
- Quan điểm v vic giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét x phúc thẩm T
án nn n tnh Bắc Giang áp dụng khoản 2 Điu 308 ca Bộ lut tố tụng dân s:
Chấp nhận mt phn kháng o ca ông Trương Công B.
Sa bản án dân sự thẩm số
47/2021/DSST ngày 06/10/2021 của Tòa án nhân
dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang
của Toà án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh
Bắc Giang. Buộc chị Trương Thị H phải chịu toàn bộ tiền chi phí xem xét, thẩm
định tại chỗ, chi phí định giá tài sản.
Các đương sự không phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.2] Việc vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa phúc thẩm,
một số người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng việc vắng mặt
của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết kháng cáo. Hội đồng xét xử tiến
hành xét xvắng mặt những người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy
định tại Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] t kháng o của ch Trương ThH yêu cầu ông Trương ng B m
rộng lối đi chiều rộng 3,5m, chiều dài 58m nh từ đường thôn đến nhà chH.
Hội đồng xét xử thấy:
Khoảng năm 1994 1995 vợ chồng chị H được ông Trương Văn Pchia
cho một thửa đất đã lối đi từ đường liên thôn vào nhà đường mòn đi qua
vườn trồng vải thiều của gia đình ông Trương Công B. Năm 2000 các hộ gia đình
được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông Trương Công B đồng ý để lối
đi này cho gia đình chị H sdụng làm lối đi chung, không cấp Giấy chứng nhận
quyền sdụng đất cho ai. Theo bản đồ địa chính Đông Hưng thì lối đi này
rộng 2m.
Kết quả thẩm định ngày 05/8/2021: Lối đi gia đình chị Trương Thị H đang
sử dụng một đường tông diện tích 122,7m
2
. Phía bắc giáp đường liên
thôn rộng 3,68m, phía đông giáp đất vườn gia đình ông Trương Công B có chiều
dài 58,44m, phía nam giáp đất chị Trương Thị H rộng 2,21m, phía y giáp đất
anh Trương Văn M có chiều dài 57,82m.
Chị Trương Thị H yêu cầu mở rộng lối đi từ 2m lên 3m với do lối đi
rộng 2m không đủ cho nhu cầu đi lại và sinh hoạt. Hội đồng xét xử xét thấy:
10
Tại đơn khởi kiện ngày 16/11/2020, chị H yêu cầu ông B, anh M mỗi
người phải m rộng lối đi thêm 01m để gia đình chị lối đi hiện trạng 2m
lên thành 4m, nhưng tại phiên tòa thẩm, chị H thay đổi yêu cầu, chỉ yêu cầu
ông B, anh M mỗi người phải mrộng lối đi thêm 50cm để chị H lối đi rộng
3m. Bản án sơ thẩm đã chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chH, buộc
ông B phải mrộng lối đi thêm 50cm không vượt quá yêu cầu khởi kiện ban
đầu của chị H, đúng quy định tại Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự. Chị H kháng
cáo yêu cầu ông B phải mở rộng lối đi thêm 1,5m vượt quá yêu cầu khởi kiện
ban đầu, không đúng quy định tại Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự: Tòa án chthụ
giải quyết vụ việc dân sự khi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự
chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó. Vì vậy, không có cơ
sở để chấp nhận kháng cáo của chị H.
[2.2] Xét kháng cáo của ông Trương Công B, không đồng ý m rộng lối
đi cho chị H, không đồng ý chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, chi phí định
giá tài sản. Hội đồng xét xử thấy:
Điều 254 của Bộ luật dân sự 2015 quy định:“Chủ s hữu bất động sản
bị y bọc bởic bất động sản của các chủ sở hữu khác mà kng hoặc không
đủ lối đi ra đường ng cộng, có quyền u cầu chsở hữu bất động sản vây bọc
dành cho mình một lối đi hợp trên phần đất của họ.
Lối đi được mở trên bất động sản liền kề nào mà được coi là thuận tiện
hợp nhất, tính đến đặc điểm cụ thể của địa điểm, lợi ích của bất động sản
bị vây bọc và thiệt hại gây ra là ít nhất cho bất động sản có mở lối đi.
Chủ sở hữu bất động sản hưởng quyền về lối đi qua phải đền cho chủ
sở hữu bất động sản chịu hưởng quyền, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”.
Theo quy định trên thì việc mở lối đi được xem xét trong trường hợp
“không có” lối đi hoặc có lối đi nhưng “không đủ”.
Qua xem xét, thẩm định tại chỗ, hiện trạng lối đi rộng 2m là không đủ để
phương tiện giới tô) đi lại được dễ dàng. Ủy ban nhân dân Đông Hưng
có ý kiến đề nghị Tòa án xem xét, mrộng lối đi cho gia đình chị Trương Thị H
lối đi này nhỏ hẹp, không còn phù hợp với nhu cầu đời sống hiện nay. Mở
rộng lối đi cho chị Trương Thị H về phía đất của ông Trương Công B, nhưng chỉ
mở rộng thêm 0,5m. Tính cả đường bê tông đang sử dụng thì lối đi rộng 2,5m là
đã đủ để gia đình chị H đi lại được thuận tiện và dễ dàng hơn. Do ranh giới lối đi
giáp với đất của anh M đã xây sân, tường, nhà ở kiên cố nên không thmở rộng
lối đi sang phía này được, bản án sơ thẩm mở rộng thêm lối đi diện tích
29,3m
2
tứ cận: Phía bắc giáp đường liên thôn rộng 0,5m, phía đông giáp đất
11
ông B dài 58,6m, phía nam giáp đất chTrương Thị H rộng 0,5m, phía y giáp
đường bê tông đang sử dụng dài 58,44m là phù hợp với nhu cầu sử dụng của gia
đình chị H buộc chị H phải bồi thường trị giá về đất cho ông B giá trị quyền
sử dụng đất 29,3m
2
x 277.777 đồng/m
2
= 8.139.000 đồng đúng quy định tại
Điều 254 Bộ luật dân sự.
Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, chi phí định giá tài sản số tiền
5.000.000đồng, bản án sơ thẩm buộc ông B, chị H mi người phải chịu
2.500.000đồng, ông B không chấp nhận, tại phiên tòa phúc thẩm, chị H tự
nguyện chịu cả 5.000.000đồng, đây thỏa thuận mới của các đương sự thủ
tục xét xử phúc thẩm, đúng quy định tại Điều 157, Điều 165 Bộ luật tố tụng dân
sự nên Hội đồng xét xử công nhận sự tự nguyện của chị H.
Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy: Không căn cứ để chấp nhận
kháng cáo của chị H; căn cứ để chấp nhận mt phần kháng cáo của ông B.
Sửa bản án dân sự thẩm số
47/2021/DSST
ngày 06/10/2021 của Tòa án nhân
dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang theo đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân
tỉnh Bắc Giang là có căn cứ.
[3] Án pdân sự phúc thẩm: Do sửa bản án thẩm nên các đương sự
không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, khoản 1 Điều 294, khoản 2, khoản 3 Điều 296,
Điều 148, khoản 6 Điều 313 của Bộ luật tố tụng dân sự; Không chấp nhận kháng
cáo của chị Trương Thị H;
Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Trương Công B.
Sửa bản án dân sự thẩm số 177/2021/DSPT ngày 25/11/2021 của Tòa
án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
Căn cứ vào Điều 245; Điều 254 Bộ luật dân sự; Điều 170 Điều 171
Luật đất đai năm 2013; Điều 157, Điều 165 Bộ luật tố tụng dân sự.
Xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị H. Buộc
ông Trương Công B phải dành một phần đất diện tích 29,3m
2
để mở rộng lối
đi cho chị Trương Thị H. Lối đi được mrộng thêm có tứ cận như sau: Phía tây
dài 58,44m giáp đường tông, phía bắc chiều rộng 0,5m giáp đường thôn,
phía đông dài 58,6 m giáp đất ông Trương Công B, phía nam rộng 0,5m giáp
đất chị Trương Thị H (đồ lối đi kèm theo bản án).Ông Trương ng B có
12
nghĩa vụ sử dụng đất đúng ranh giới thửa đất, trường hợp rễ cây, cành câyt q
ranh giới thì phải xén rễ, cắt, tỉanh để không làmnh ởng đến lối đi chung.
Chị Trương Thị H phải bồi thường cho ông Trương Công B số tiền
8.139.000đồng (tám triệu một trăm ba mươi chín nghìn đồng). Kể từ ngày
đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong
tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền
lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468
của Bộ luật dân sự.
2. Về chi p định giá tài sản, chi p xem xét, thẩm định tại ch: Chị Trương
Thị H phải chịu 5.000.000đồng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ định giá
tài sản, xác nhận chị H đã nộp đủ.
3. Án phí dân sự phúc thẩm: Các đương sự không phải chịu tiền án phí
dân sự phúc thẩm. Trả lại chị Trương Thị H 300.000đồng đã nộp tại biên lai số
0013309 ngày 12/10/2021 do Chi cục thi hành án dân sự huyn Lục Nam, tỉnh
Bắc Giang thu.
Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng o, kháng nghị
có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Án xử phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Bắc Giang;
- TAND huyện Lục Nam;
- Chi cục THADS huyện Lục Nam;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ.
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Xuân Thạo
Tải về
Bản án số 24/2022/DS-PT Bản án số 24/2022/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất