Bản án số 24/2018/DS-PT ngày 10/01/2018 của TAND TP. Hồ Chí Minh

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 24/2018/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 24/2018/DS-PT ngày 10/01/2018 của TAND TP. Hồ Chí Minh
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 24/2018/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 10/01/2018
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Phần đất bên hông nhà bà có diện tích sân khoảng 6,2 m2, bà đã sử dụng ổn định từ năm 1995 để đặt cống thoát nước và đồng hồ nước. Năm 2009, bà T sửa chữa nhà có mượn của bà phần đất này để chứa đồ đạc nhưng sau đó bà T chiếm đoạt luôn và không trả lại, đồng thời xây nhà vệ sinh trái phép trên phần đất này. Bà đã nhiều lần yêu cầu bà T trả lại nhưng bà T không trả. Bà đã làm đơn yêu cầu và được Ủy ban nhân dân Phường S, quận B hoà giải nhưng không thành
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 24/2018/DS-PT
Ngày: 10/01/2018
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Mai
Các Thẩm phán: Võ Thị Sang
Ông Hồ Minh Cường
- Thư phiên tòa: Đỗ Ngọc Phương Thảo Thư Tòa án nhân
dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa: Ông Phan Văn Kiền – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 15, 22 tháng 12 năm 2017 và ngày 10 tháng 01 năm 2018
tại trụ sở Tòa án nn dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai
vụ án thụ số 535/2017/TLPT-DS ngày 26 tháng 10 m 2017 về việc tranh
chấp quyền sử dụng đất.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 1923/2017/DS-ST ngày 08 tháng 9 năm 2017
của Tòa án nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2679/2017/QĐ-PT
ngày 16 tháng 11 năm 2017, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Hồng C, sinh năm 1957. (Có mặt)
Địa chỉ: 49/30/6 đưng N, Png S, quận B, Tnh phHC Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn:
Ông Phi Quyết C2, sinh năm 1953. (Có mặt)
(Theo Văn bản ủy quyền số công chứng 01616 ngày 23/01/2015, lập tại
Văn phòng công chứng Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh).
- Bị đơn: Trần Ánh T, sinh năm 1962. (Có mặt)
Địa chỉ: 49/30/8 đường N, Png S, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn:
Luật Trần Thị Tuyết M Công ty Luật Hợp danh C, Đoàn Luật
Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)
Địa chỉ: 502/23/4 đường H, phường I, Quận Y, Tnh phHồ Chí Minh.
2
- Người kháng cáo: Trần Ánh T – Bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 19/01/2015 và trong quá trình tố tụng, nguyên
đơn - bà Phạm Thị Hồng C có ông Phi Quyết C2 đại diện ủy quyền trình bày:
Tháng 12/1994, Phạm Thị Hồng C thuê nhà của Thị L tại số
49/50 (số cũ) đường N, Phường S, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Tháng
01/1995, C mua căn nhà đã thuê của L bằng giấy tay. Diện tích căn nhà
khoảng 26,4m
2
(bên hông nhà diện tích thông thoáng khoảng 6,2 m
2
).
Trần Ánh T (con gái L) được L cho phần đất diện tích khoảng 18,56
m
2
. Năm 2007, L được Ủy ban nhân dân quận B cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất với diện ch 236,6 m
2
, trong đó phần diện tích nhà đất mà
L đã bán cho bà. Do diện tích căn nhà quá nhỏ nên L đã đề nghị đứng
tên chung với Trần Ánh T (con gái L) để L tách thửa Hợp đồng
chuyển nhượng cho bà và bà T.
Ngày 02/8/2013, Ủy ban nhân dân quận B đã cấp Giấy chứng nhận quyền
sdụng đất, quyền sở hu nhà và i sản kc gắn liền với đất cho bà và T đng
shữu căn nhà số 49/30/6 đường N, Phường S, qun B, Thành ph HC Minh.
Phần đất bên hông nhà diện tích sân khoảng 6,2 m
2
, đã sdụng
ổn định từ năm 1995 đđặt cống thoát nước đồng hnước. Năm 2009, T
sửa chữa nhà mượn của phần đất này để chứa đồ đạc nhưng sau đó T
chiếm đoạt luôn không trlại, đồng thời xây nhà vệ sinh trái phép trên phần
đất này. đã nhiều lần yêu cầu bà T trả lại nhưng bà T không trả. đã làm đơn
yêu cầu được Ủy ban nhân n Pờng S, quận B hoà giải nhưng không thành.
Nay, khởi kiện T yêu cầu chia đều phần diện tích sân khoảng 6,2 m
2
cho mỗi bên được sử dụng 3,1 m
2
. Phần đất này, nếu bị đơn có nhu cầu sử dụng,
xin nhượng lại theo giá đất Hội đồng định giá đã định o ngày 26/5/2015
33.000.000 đồng/m
2
x 3,1m
2
= 102.300.000 đồng. Ngoài ra, C còn yêu cầu
T tháo bỏ phần gác đã xây dựng trái phép trên lối đi chung.
Trong quá trình tố tụng, bị đơn - bà Trần Ánh T trình bày:
T c nhận vnguồn gốc căn nhà theo lời trình bày của Phạm Thị
Hồng C. xác nhận ngày 02/8/2013 bà C đã được Ủy ban nhân nhân
quận B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản
khác gắn liền với đất đồng sở hữu căn nhà số 49/30/6 đường N, Phường S, quận
B, Thành phố Hồ Chí Minh, cụ thể: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền
sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số B0 800804 số vào sổ cấp GCN
số CH00704 cấp cho Trần Ánh T Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số B0 800805 số vào sổ cấp
GCN số CH00705 cấp cho bà Phạm Thị Hồng C.
3
n cứ vào hai Giấy chứng nhận trên, bà kng đồng ý với yêu cầu của
C vì việc s hữu nhà đất này thuộc quyền sdụng và sở hữu chung của
bà C.
Mặt khác, hiện tại bốn phía ncủa bà đang bị vây bọc bởi c hộ liền kề,
không có lối đio khác ngoài lối đi thuộc phần đất C đang tranh chấp.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Nguyên đơn xin thay đổi yêu cầu: Phần diện tích sân khoảng 6,2 m
2
đang
tranh chấp lối đi chung giữa 02 nhà, C yêu cầu được sử dụng chung,
được quyền mở cửa ra lối đi chung này.
Ngoài ra, trước đây bà C có yêu cầu bà T tháo bỏ phần xây dựng trái phép
trên lối đi chung đang tranh chấp. Nay tại tòa không yêu cầu thảo bỏ, nhưng
T phải giữ nguyên hiện trạng, không được xây sửa mới. C không tranh
chấp phần xây dựng trên lối đi chung.
Bị đơn xin thay đổi ý kiến: Không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn.
T xin xác định lối đi chung hiện tại diện tích sân khoảng 6,2m
2
lối đi
riêng của bà.
Đại diện Viện Kiểm sát phát biểu: Được thể hiện trong bài phát biểu số:
160/PB-DS ngày 08/9/2016.
Tại Bản án dân sự thẩm số 1923/2017/DS-ST ngày 08 tháng 9 năm
2017 của Tòa án nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo đã
Quyết định:
Áp dụng,
Căn cứ Điều 214; Điều 215; Điều 217 Bộ luật dân sự 2005;
Căn cứ Pháp lệnh số 10/2009/PL-UBTVQH12 ngày 27/02/2009 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự 2008.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - bà Phạm Thị Hồng C về
việc yêu cầu xác định phần diện tích sân khoảng 6,2 m
2
tại số nhà 49/30/6
đường N, Phường S, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh quyền sử dụng đất
chung của 02 nhà.
Buộc Trần Ánh T để cho Phạm ThHồng C được sử dụng lối đi
chung hiện hữu với diện tích sân khoảng 6,2 m
2
tại số nhà 49/30/6 Đường N,
Phường S, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ghi nhận sự tự nguyện của C không yêu cầu tranh chấp phần mái che
trên phần đất tranh chấp đối với bà T.
2. Án phí dân sự sơ thẩm: 10.230.000 đồng, bị đơn phải đóng.
4
Hoàn tiền tạm ứng đã nộp 1.550.000 đồng theo Biên lai thu số 0000562
ngày 19/01/2015 của Chi cục Thi hành án dân sự quận B.
Ngoài ra, án thẩm còn tuyên quyền kháng cáo quy định về thi hành
án của các đương sự.
Ngày 14/9/2017, bị đơn Trần Ánh T nộp đơn kháng cáo toàn bộ bản
án sơ thẩm, bà cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết không khách quan đã làm
ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn
bộ vụ án.
Nguyên đơn Phạm Thị Hồng C ông Phi Quyết C2 đại diện ủy
quyền trình bày không kháng cáo đối với bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp
phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bđơn bà Trần Ánh T ginguyên yêu cầu kng cáo toàn b bản
án thm cho rằng hiện trạng nhà đất bà đang s dụng là của ThL
(mẹ ) ch ra cho tm 2013. Tại thời điểm đó, nhà của C xuống
cấp nhưng kng đủ cơ spháp lý đxin pp sửa chữa n nên C đề ngh
mẹ của bà cho được nhập chung với nhà đất của đđủ diện tích mới được
đăng quyền sdụng đất, quyền s hu n tài sản gắn liền với đất.
Mẹ bà đã ra Công chứng ký hợp đồng chuyển nhượng n đất cho bà và bà C
nhằm mục đích tách thửa đất cho bà và Châu đăng ký quyền s dụng đất,
quyền shữu nhà và nhà đt ca nhười nào t nời đó sử dụng. Thực tế,
không có việc chuyển nhượng nhà đất. Nay, không đồng ý yêu cầu khởi
kiện của bà C vviệc c định phần diện tích sân khong 6,2 m
2
tại số n
49/30/6 Đường N, Phường S, quận B, Thành ph HChí Minh quyền s
dụng đất chung của 02 nhà, bà không đồng ý cho C được sdụng lối đi
hiện hữu với diện tích sân khoảng 6,2 m
2
tại số nhà 49/30/6 Đường N,
Phường S, qun B, Thành phố Hồ C Minh. Yêu cầu Tòa án cấp pc thẩm
sửa bản án sơ thm, bácu cầu khởi kiện của bà C.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn Luật Trần Thị
Tuyết M cho rằng:
Nguồn gốc nhà của C nhận chuyển nhượng ttháng 05/12/1995, diện
ch căn nhà được ghi rõ ngang 3,5 m x dài 4,2 m = 14,7 m
2
nằm trên phần đất của
mông U - Thị L. Như vậy, việc nhận chuyển nhượng nhà của C ghi
trong đơn khởi kiện và lời khai của bà C không đúng thực tế khách quan.
Căn cứ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H 09832 ngày 29/3/2007 cấp
bà Lê Thị L thể hiện giữa căn nhà bà C và bà T là phần đất trống hình chữ L liên
thông với nhau mặt lớn 4,84 m tiếp giáp với con đường mặt nhỏ đối diện
nằm kẹp giữa hai nhà ngang 60 cm thuộc quyền sử dụng đất của L. Giữa
nhà C vàT đều qua lại dể dàng không có bất kỳ ngăn cách nào. Bà L khai
khi được cấp chủ quyền, đã chia phần đất nằm gihai căn nhà T C
5
thành hai phần, một phần cho T một phần cho C. Việc phân chia này
thể hiện qua hành vi L cho xây tường ngăn riêng biệt hai căn nhà, có cổng đi
riêng hướng ra đường, hai căn nhà này hoàn toàn độc lập nhau từ năm 2008 đến
thời điểm đăng ký chủ quyền chung 02/8/2013 là 5 năm.
Việc tranh chấp 6,2 m
2
với sự thay đổi yêu cầu liên tục của C thể hiện
sự bất nhất, mâu thuẫn trong lời khai của bà, lúc đầu bà C xác định phần đất 6,2
m
2
do T chiếm của đến cuối cùng xác định lối đi chung, yêu cầu được mở
cửa đi chung. Lời khai của C quá nhiều mâu thuẫn, bất hợp với các chứng
cứ sự thật khách quan, yêu cầu của bà C đưa ra không sở pháp để
xem xét.
Bản án sơ thẩm chỉ dựa vào chủ quyền đồng sở hữu hai căn nhà để xác
định phần đất 6,2 m
2
lối đi chung, chấp nhận cho C trổ cửa qua phần đất
này đsử dụng chung không thấu tình đạt cả hai mặt ý chí chủ quan
thực tế khách quan đã chứng minh ý chí của hai đều muốn nhà mình độc lập
với nhà kia, không ai được qua lại sử dụng nhà đất của họ, chỉ đơn thuần đống ý
đứng tên chung trên chủ quyền đtiện việc sửa nhà, cho thuê, bán sau này. Do
đó việc C đòi mở cửa sử dụng chung phần đất 6,2 m
2
bên nhà T đã vi
phạm ý chí ban đầu của hai bên cũng như những do C đưa ra để được
quyền sử dụng chung không sở pháp lý. Bản thân C cũng không
đồng ý cho T đập tường sử dụng chung phần đất trước nhà C như trong
chủ quyền chung thì tại sao buộc bà T phải cho bà C sử dụng chung phần đất 6,2
m
2
bên nhà bà T.
Đề nghị Hội đồng xét xử xem t lại toàn bộ bản án thẩm, ý chí của
các bên và thực tế khách quan của vụ án.
Kiểm sát viên Đại diện Viện Kiểm t nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh phát biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án
ở giai đoạn phúc thẩm:
Về tố tụng: Từ khi thụ vụ án đến khi xét xử, Thẩm phán Chủ tọa, Hội
đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định tại các Điều 270, khoản 1 Điều 285,
khoản 1, 2 Điều 286, Điều 290 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015: Tống đạt
các quyết định cho các bên đương sự đầy đủ, thụ vụ án theo thủ tục phúc
thẩm đúng thẩm quyền, đưa vụ án ra xét xử đúng quy định về thời hạn chuẩn bị
xét xử, thời hạn mở phiên a phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thm, Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của Bộ
luật tố tụng dân sự năm 2015 về thủ tục xét xử phúc thẩm, phần tranh tụng tại
phiên tòa phúc thẩm.
Ni tham gia tố tụng đã chấp hành đúng v quyn, nghĩa vcủa mình được
quy định tại Điều 70, 71, 72, 73, 86, 234 của Bluật ttụng dân sm 2015.
Về nội dung:
Căn cứ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà số B0
800804 do Ủy ban nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho Trần
6
Ánh T Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà số B0 800805
do Ủy ban nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà Phạm Thị
Hồng C với nội dung cùng sử dụng thửa đất và cùng shữu tài sản với một
người khác đối với diện tích đất 44,6 m
2
, diện tích xây dựng 39,1 m
2
, diện tích
sàn 59,1 m
2
. Như vậy, không phân định diện tích nhà đất thực tế thuộc quyền sử
dụng của bà C và bà T
C trình bày chuyển nhượng nđất của ông U bằng giấy tay, diện
tích 3,5m x 4,2 m = 14,70 m
2
, theo C bao gồm phần diện tích hiên nhà nằm
phía trước. Tại tòa phúc thẩm, bà C trình bày L đã cho bà phần diện ch
đất đang tranh chấp nên bà C đã cám ơn bà L bằng cách đưa cho bà L
45.000.000 đồng vì cháu n không lập giấy tờ, việc này chưa đối chất
giữa bà C với L để làm việc bà L nhận tiền của bà C để từ đó L cho
C sdụng đường cống thoát nước trên phần đất tranh chấp. Theo nội dung
cam kết của C ngày 20/02/2016, bà C sdụng phần đất tranh chấp điều
kiện tạm thời C sử dụng chung đường cống thoát nước, khi bán nhà
cho người khác strả lại. Bản án thẩm tuyên ng nhận quyền sdụng đất
chung của C đối với phần đất tranh chấpchưa xem xét đến thỏa thuận của
c bên tại tcam kết ngày 20/02/2016, chưa đảm bảo quyền lợi ích hơp
pháp của T, chưa xem xét toàn diện các chứng ckhách quan của vụ án.
Nên cần thiết xác minh về hồ t cấp giấy chứng nhận quyền sdụng đất
cho bà C T tại Ủy ban nhân dân quận B và đưa bà L vào tham gia tố tụng
để làm rõ những nội dung đã phân ch đtđó giải quyết tranh chấp khách
quan, chính xác, đảm bảo quyền lợi cho các đương sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của T, căn cứ
khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 hủy Bản án dân sự
thẩm số 1923/2017/DS - ST ngày 08/9/2017 của Tòa án nhân dân quận B để
giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Phạm Thị Hồng C khởi kiện Trần Ánh T yêu cầu xác định phần
diện tích sân khoảng 6,2 m
2
tại số nhà 49/30/6 Đường N, Phường S, quận B,
Thành phố Hồ Chí Minh quyền sử dụng đất chung của 02 nhà, yêu cầu T
cho bà C được sử dụng lối đi hiện hữu với diện tích sân khoảng 6,2 m
2
tại số nhà
49/30/6 Đường N, Phường S, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trong quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa hôm nay, C khai nguồn
gốc nhà đất bà đang sử dụng tại số 49/30/6 Đường N, Phường S, quận B, Thành
phố Hồ Chí Minh là do bà chuyển nhượng của bà L năm 1995.
Xét thấy, nguồn gốc đất của căn nhà số 49/30/6 Đường N, Phường S,
quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, trước đây thuộc quyền sử dụng của Thị
7
L, bà L cho vợ chồng con gái là bà Thủy và ông Nguyễn n U(chồng bà Thủy)
cất nhà ở.
Ngày 22/02/1994, ông Nguyễn Văn U giấy tay cho ông Nguyễn Vĩnh
A (chồng bà Phạm Thị Hồng C) thuê nhà trong thời hạn 03 tháng. Ngày
15/5/1994, bà Thủy vông U nhận thêm 06 tháng tiền thuê nhà tính từ tháng 5
đến 22/11/1994 nhưng cả hai bên không xác định cho thuê căn nhà nào. Căn
cứ lời khai của C thì ông Nguyễn Vĩnh A thuê căn nhà số 49/30/6 Đường N,
Phường S, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh của ông U. Ngày 18/8/1994, ông U
đồng ý bán nhà với giá 7 lượng 5 chỉ vàng 9T6 nhưng không ghi rõ bán căn nhà
cho ai. Ông U lấy trước một lượng vàng bằng tiền mặt, còn lại 6 lượng 5 chỉ
vàng sẽ trả hết vào cuối năm.
Ngày 05/12/1995, ông Nguyễn Văn U giấy tay chuyển cho vợ chồng
Phạm Thị Hồng C ông Ngô Vĩnh A căn nhà diện tích (3,5m x 4,2m)
nằm trong phạm vi đất của mẹ vợ với số tiền 37.500.000 đồng, tương đương
75 chỉ vàng 9T6. Nếu sau này C không nữa thì giao căn nhà lại cho ông U,
ông U shoàn đủ số tiền nói trên, C không được sang nhượng cho ai khác.
Theo giấy tay chuyn nhượng, nhà không thể hiện địa chỉ cũng như vị trí căn
nhà đâu. Tuy nhiên, theo lời khai của C sự thừa nhận của T, L thì
đó là căn nhà số 49/30/6 Đường N, Phường S, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Từ khi chuyển nhượng nhà, gia đình bà C sử dụng nhà liên tục cho đến nay.
Ngày 20/02/2006, C làm tờ cam kết không lấn chiếm đường ống cống
của nhng hộ gia đình của i (tức L) các em i, nội dung tờ cam kết
thể hiện: Gia đình tôi tại nhà 49/30/6, nay tôi m tờ cam kết với tôi
Nguyễn Thị Loan các em như sau: đường cống thoát nước t vách nhà
đường thoát nước chung của hộ gia đình tôi, các em i gia đình tôi. Tôi
cam kết sau này sửa nhà thì gia đình tôi không lấn chiếm đường cống này.
Nếu bán nhà cho chủ khác sẽ trả lại đường cống này, đường cống rộng 50cm,
dài ra tới đường cng lớn.
Theo nguyên đơn bị đơn khai, đường cống thoát nước sát vách nhà
C đường cống thoát nầm dưới phần sân 6,2 m
2
nguyên đơn, bị đơn đang
tranh chấp.
Căn cứ tờ cam kết ngày 20/02/2006 của C nêu trên, sở xác định
đến m 2006, phần sân 6,2 m
2
nguyên đơn đang tranh chấp với bị đơn vẫn
thuộc quyền sử dụng đất của L, không sở xác định phần sân 6,2 m
2
thuộc quyền sử dụng đất của bà C. Bà C chỉ sử dụng nhờ đường cống thoát nước
của gia đình bà L.
Căn cứ biên bản hòa giải ngày 04/9/2014 của Ủy ban nhân dân Phường S,
quận B, T khai, phần đất tranh chấp, C để đồng hồ nước nhưng vẫn
thuộc quyền sử dụng đất của mẹ bà, trước đây đường cống thoát nước của 05
hộ dân. Sau này cha mẹ cho bà sử dụng, bà đã xây tường sử dụng riêng. Cũng tại
biên bản này C khai, phần đất con hẻm này sử dụng từ trước tới giờ. Năm
8
1999 2000 khi khai nhà đất thì L đều đi khai không cho đi. L
có nói nếu bà có trả lại phần hẻm thì bà L mới cho bà làm giấy tờ nhà.
Từ các tài liệu chứng cnêu trên, lời khai, sthừa nhận của các đương
sự, sở xác định C xác lập quyền s dụng đất và nhà trên s
chuyển nợng của Thy ông U là con gái và con rcủa L, diện ch
nhà đất 3,5m x 4,2 m = 14,70 m
2
. Sau này, bà L đồng ý cho C hợp thức hóa
quyền sdụng đất, quyền shữu nhà tn cơ s nhập chung với phần nhà đất
L đã cho con gái là bà T đ đủ diện tích tách tha đăng quyền s
dụng đt, mỗi nời s dụng phần đt riêng của mình. Đến thời điểm y,
không sở nào đ xác định phần sân tranh chấp 6,2 m
2
thuộc quyền s
dụng đất của bà C.
Ngày 29/3/2007, Ủy ban nhân dân quận B cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số AI 755529, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H 09832
chứng nhận Thị L được quyền sử dụng thửa đất số 402, tờ bản đồ s9,
diện tích sử dụng riêng 236,6 m
2
đất đô thị, địa chỉ thửa đất 49/30/8 Đường N,
Phường S, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. i sản gắn liền với đất nhà ở 185
m
2
. (Trong phần đất này có nhà của vợ chng bà Thủy, ông U là con i và con rễ
của L đã giấy tay chuyển nhượng cho vợ chồng C ông Ngô Vĩnh Ao
m 1995 n đã nêu trên, ngoài ra còn nhà của bà T - con bà L).
Như đã phân tích trên, do diện tích nhà đất của C diện tích nhà đất
của bà T quá nhỏ, không đủ điều kiện để bà L tách thửa cho từng người đứng tên
quyền sử dụng đất nhà trên đất nên cả hai bên đã thống nhất cùng nhập hai
phần nhà đất của mỗi người đang sử dụng riêng biệt lại để đủ diện tích tách thửa
theo quy định. vậy, Thị L tách thửa bằng hình thức Hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho C bà T để C T tiến hành
hành thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn
liền với đất.
Ngày 13/3/2013, tại Phòng Công chứng số 6 Thành phHChí Minh, L
hợp đồng chuyn nhượng cho bà Trần Ánh T và bà Phạm Thị Hồng C quyền s
dụng đất diện tích 44,6 m
2
, thửa đất số 402, tờ bản đồ số 09 (diệnch trong giấy
phép 40,6 m
2
, diện tích ngi giấy phép 1,71m
2
), diện tích y dựng 40,9 m
2
, theo
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 755529 u trên.
Căn cứ lời khai của bà T và lời trình bày của bà L tại bản tường trình ngày
28/7/2015, nội dung thể hiện: Việc L hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất cho bà C và bà T nhằm mục đích để bà C, bà T nhập phần đất của mình
đang sử dụng riêng để đủ diện tích đăng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà của hai bên. Thực tế, không việc chuyển nhượng đất giữa L với C
và bà T.
Nay, C tranh chấp với T 6,2 m
2
phần sân theo hai giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất nêu trên. T cho rằng phần đất 6,2 m
2
quyền sử
dụng đất riêng của trên sở L mẹ của cho, đó lối đi duy nhất từ
9
nhà của ra đường hẻm. C cho rằng được sử dụng chung phần đất 6,2 trên
cơ sở bà đã đền ơn cho bà L bằng số tiền 45.000.000 đồng.
Theo L trình bày, chủ thửa đất số 42, đã cho con Trần Ánh
T cháu Thị Ngọc (tức Phạm Thị Hồng C) cả hai mở cửa riêng biệt
hướng ra mặt tiền đường. C đề nghị T xác nhập hai phần đất lại để đủ
diện tích đất ra công chứng làm giấy tờ cho hợp lệ để C xin sửa chữa nhà
nhưng con gái của T không đồng ý, do khuyên nên T đã đồng ý
tiến hành thủ tục xác lập sở hữu, sử dụng nhà đất với C. L cho rằng C
không nên khởi kiện tranh chấp với con gái bà.
Bà C cũng không xuất trình được tài liệu chứng cứ để chứng minh thực tế
chuyển nhượng của L phần đất diện tích 6,2 m
2
bà đang tranh
chấp với bà T. Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay bà C khai, L cho bà sử dụng
chung phần đất diện ch 6,2 m
2
, đền ơn L 45.000.000 đồng. Lời
khai này của C không tài liệu chứng cứ chứng minh, đây tình tiết mới
phát sinh tại phiên tòa phúc thẩm, chưa được đối chất giữa bà L với bà C để làm
rõ có sự thừa nhận của bà L về việc cho bà C sử dụng chung phần đất 6,2 nên bà
C đã đền ơn bà L bằng số tiền 45.000.000 đồng.
Căn cứ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà số B0
800804 do Ủy ban nhân dân quận B cấp cho Trần Ánh T o ngày
02/08/2013, nội dung thể hiện cùng sử dụng thửa đất cùng sở hữu tài sản với
một người khác đối với diện tích đất 44,6 m
2
, diện tích xây dựng 39,1 m
2
, diện
tích sàn 59,1 m
2
, không phân định quyền sử dụng đất quyền sở hữu tài sản
của bà C và bà T.
Căn cứ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà số B0
800805 do Ủy ban nhân dân quận B cấp cho Phạm Thị Hồng C vào ngày
02/08/2013, nội dung thể hiện cùng sử dụng thửa đất cùng sở hữu tài sản với
một người khác đối với diện tích đất 44,6 m
2
, diện tích xây dựng 39,1 m
2
, diện
tích sàn 59,1 m
2
, không phân định quyền sử dụng đất quyền sở hữu tài sản
của bà C và bà T.
Từ các tài liệu chứng cứ đã phân tích trên, chưa đủ svững chắc để
xác định phần diện tích sân khoảng 6,2 m
2
tại số nhà 49/30/6 Đường N, Phường
S, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh quyền sử dụng đất chung của 02 nhà. Do
tình tiết mới phát sinh, Hội đồng xét xử xét thấy cần đưa Thị L vào
tham gia tố tụng để đối chất với Phạm Thị Hồng C làm lời khai của C
về việc đưa cho L 45.000.000 đồng để C được sử dụng chung phần đất
tranh chấp 6,2 m
2
với bà T không. Ngoài ra, cần thu thập thêm tài liệu, chứng cứ
tại cơ quan cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà để làm
việc khi C, T đăng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà phân định
diện tích sử dụng riêng của từng người không. Ngày 02/8/2013, Ủy ban nhân
dân quận B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà số B0
800804 cho Trần Ánh T Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở
hữu nhà số B0 800805 cho bà Phạm Thị Hồng C với nội dung cùng sử dụng
10
thửa đất và cùng sở hữu tài sản với một người khác đối với diện tích đất 44,6 m
2
,
diện tích xây dựng 39,1 m
2
, diện tích sàn 59,1 m
2
, không phân định quyền
sử dụng đất quyền sở hữu tài sản của C và T, như vậy cấp chồng lấn
diện tích sử dụng không.
Hội đồng xét xxét chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của Trần
Ánh T, hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 1923/2017/DS ST ngày 08/9/2017 của
Tòa án nhân dân quận B để giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm như đề nghị
của Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là có căn cứ.
Vì các lẽ trên,
n cứ khoản 3 Điều 148; Điều 308, 310 Bộ luật tố tụngn sự năm 2015;
QUYẾT ĐỊNH:
Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bà Trần Ánh T.
1. Hủy Bản án dân sự sơ thẩm s1923/2017/DS ST ngày 08/9/2017
của Tòa án nhân dân quận B và chuyển hồ sơ vụ án tranh chấp quyền sdụng
đất giữa nguyên đơn Phạm ThHồng C với bị đơn - Trần Ánh T cho
Tòa án nhân dân quận B giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
2. Về án phí phúc thẩm: Trần Ánh T không phải chịu. Hoàn trả
Trần Ánh T số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn
đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002904 ngày 15/9/2017 của Chi
cục Thi hành án dân sự quận B.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Tòa án nhân dân tối cao;
- Tòa án nhân dân cấp cao tại TP.HCM;
- Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại TP.HCM;
- Viện Kiểm sát nhân dân TP.HCM;
- Cục Thi hành án dân sự TP.HCM;
- Tòa án nhân dân quận B;
- Chi cục Thi hành án dân sự quận B;
- Các đương sự (để thi hành);
- Lưu.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Thanh Mai
Tải về
Bản án số 24/2018/DS-PT Bản án số 24/2018/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất