Bản án số 235/2023/DS-PT ngày 24-05-2023 của TAND TP. Hà Nội về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
235_2023_DS_PT_ HA NOI
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
235_2023_DS_PT_ HA NOI
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 235/2023/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 235/2023/DS-PT ngày 24-05-2023 của TAND TP. Hà Nội về tranh chấp quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TP. Hà Nội |
| Số hiệu: | 235/2023/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 24/05/2023 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Cụ Vũ Quang H và Ông Vũ Quang C tranh chấp quyền sử dụng đất |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Bản án số: 235/2023/DS-PT
Ngày: 24/05/2023
V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do- Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hồng.
Các Thẩm phán: 1. Ông Trương Chí Anh;
2. Ông Mai Tiến Dũng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Minh Đức - Thư ký Toà án nhân dân thành phố
Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa:
Bà Hoàng Vĩnh Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 05 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hà Nội
xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 576/2022/TLPT - DS ngày
09/12/2022 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 121/2022/DS-ST ngày 08/9/2022 của Tòa án
nhân nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 145/2023/QĐ-PT ngày
31/03/2023; Quyết định hoãn phiên tòa dân sự phúc thẩm số 159/2023/QĐHPT -
PT ngày 17/04/2023; Thông báo thay đổi lịch xét xử số 249/2023/TB-DS ngày
25/04/2023; Thông báo về việc mở lại phiên tòa số 267/2023/TB-DS ngày
04/05/2023 của Toà án nhân dân thành phố Hà Nội, giữa các đương sự:
1/ Nguyên đơn: Cụ Vũ Quang H, sinh năm 1930; địa chỉ: Thôn H, xã C,
huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội; Ngưi đại diện theo ủy quyền của Cụ Vũ
Quang H: Ông Vũ Quang T, sinh năm 1962, trú tại: Thôn H, xã C, huyện Gia Lâm,
thành phố Hà Nội (theo Hp đồng ủy quyền số 5706/2020/HĐUQ. Quyển số 01-
TP/CC-SCC/HĐUQ ngày 09/12/2020 tại Văn phòng công chứng Gia Lâm).
Ngưi bảo vệ quyền là li ích hp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Ngc
T - Lut sư thuộc công ty Lut TNHH Ngc T, Đoàn lut sư thành phố Hà Nội.

2
2/ Bị đơn: Ông Vũ Quang C, sinh năm 1954; địa chỉ: Thôn H, xã C, huyện
Gia Lâm, thành phố Hà Nội.
Ngưi bảo vệ quyền là li ích hp pháp của Ông Vũ Quang C: Bà Nguyễn
Thị M - Văn phòng lut sư Mỹ Đức, Đoàn lut sư thành phố Hà Nội.
3/ Ngưi c quyền li và nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Đinh Thị N, sinh năm 1931; trú tại: Thôn H, xã C, huyện Gia Lâm,
thành phố Hà Nội;
Ngưi đại diện theo ủy quyền của bà Nghị: Ông Vũ Quang T, sinh năm
1962 - trú tại: Thôn H, xã C, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội (theo Hp đồng ủy
quyền số 5705/2020/HĐUQ. Quyển số 01-TP/CC-SCC/HĐUQ ngày 09/12/2020
tại Văn phòng công chức Gia Lâm).
3.2. Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1958; trú tại: Thôn H, xã C, huyện Gia
Lâm, thành phố Hà Nội;
Ngưi bảo vệ quyền là li ích hp pháp của bà Nguyễn Thị T2: Bà Nguyễn
Thị M - Văn phòng lut sư Mỹ Đức, Đoàn lut sư thành phố Hà Nội.
3.3. Chị Vũ Thị Mai H, sinh năm 1989;
3.4. Chị Vũ Thị Hải Y, sinh năm 1982;
Cng trú tại: Thôn H, xã C, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội;
3.5. Ủy ban nhân dân huyên Gia Lâm, thnh ph H Nội; địa chỉ: số 01
phố Thun An, thị trấn Trâu Qu, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội; Ngưi đại
diện theo pháp lut: Bà Đng Thị H; Chức vụ: Chủ tịch UBND huyện; ngưi đại
diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đức H; Chức vụ: Ph Chủ tịch UBND huyện Gia
Lâm.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo bản án sơ thẩm, nội dung vụ án như sau:
Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn - Cụ Vũ Quang H trình bày:
Thửa đất đang tranh chấp c nguồn gốc là đất thổ cư cũ, của bố mẹ Cụ H để lại
cho Cụ H không c giấy t gì và cụ đã sử dụng thửa đất này từ khoảng năm 1945.
Năm 1950, Cụ H lấy v, làm nhà và ở ổn định trên thửa đất. Năm 1978, Ông Vũ
Quang C là con trai cụ lấy v và ở tại thửa đất khu Cửa Đình. Đến năm 1980, cụ
đã cho gia đình Ông C ở nh trên thửa đất này và không làm văn bản tng, cho,
chuyển nhưng, mua bán với Ông C. Từ năm 1980 đến nay, Cụ H ở tại thửa đất
thuộc khu Cửa Đình. Cụ H không thừa nhn c việc sử dụng chung thửa đất với cụ
H2 và không c việc cụ H2 tuyên bố cho Ông C một nửa thửa đất như Ông C trình
bày.

3
Năm 2004, Ông C làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhn quyền sử dụng đất
(sau đây gi tắt là GCNQSDĐ) nhưng không thông báo cho cụ biết, không hỏi xin
cụ mà c hành vi bất hiếu nên cụ đã c đơn đề nghị UBND xã C, UBND huyện
Gia Lâm không đưc cấp GCNQSDĐ cho Ông C.
Năm 2005, Cụ H làm đơn xin cấp GCNQSDĐ và Cụ H đã đưc cấp
GCNQSDĐ đối với 01 sào đất, 01 sào đất còn lại tại thửa đất này cụ chưa đồng ý
giao cho Ông C vì Ông C chưa cư xử đúng mực.
Từ năm 2004, Cụ H đã đòi Ông C trả lại cụ một phần thửa đất trên (01 sào
đất) nhưng Ông C không trả. Cụ H c làm đơn đề nghị UBND xã hòa giải nhưng
không thành. Do đ, Cụ H làm đơn gửi UBND huyện Gia Lâm để giải quyết tranh
chấp đất đai trên.
Đến nay, Cụ H thấy Ông C ngày càng bất hiếu, vô ơn, bạc đãi với cha mẹ,
bất hòa với anh em khiến v chồng cụ không thể dạy bảo và cũng không thể hòa
giải đưc. Do đ, Cụ H đã làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án: Buộc Ông Vũ Quang
C phải trả lại cho Cụ H phần diện tích đất 366m
2
tại thửa đất số 2x, t bản đồ số 7x
(nay là thửa đất số 3x, t bản đồ số 7x) ở Thôn H, xã C, huyện Gia Lâm, thành phố
Hà Nội.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn - Ông Vũ Quang C trình bày:
Phần diện tích đất hiện v chồng Ông C, bà Tứ đang ở c nguồn gốc của hai
chủ sử dụng là bố Ông C là Cụ Vũ Quang H và anh h của Cụ H là cụ Vũ Quang
Hu. Cụ H, cụ H2 ở chung thửa đất số 2x, diện tích 640m
2
. Trước khi Ông C lấy v
(không nhớ rõ thi điểm), cụ H2 đã tuyên bố bằng miệng cho Ông C đưc quyền
sử dụng hoàn toàn diện tích đất của cụ H2 là 320m
2
. Sau đ, gia đình cụ H2 chuyển
đi nơi khác ở thì phần đất của gia đình cụ H2 do gia đình Cụ H trông nom. Hiện cụ
H2 đã chết, các con của cụ H2 không còn sống ở địa phương.
Năm 1978, Ông C lấy v, v chồng ông ở tạm trên thửa đất của gia đình ở
khu Cửa Đình vài tháng, sau đ chuyển ra ở tại vị trí đất hiện nay. Khi đến ở tại
thửa đất này, v chồng Ông C đã cơi nới, san lấp một phần diện tích ao công liền
kề, không rõ diện tích. Từ khi Ông C sử dụng thửa đất này cho đến thi điểm phát
sinh tranh chấp (năm 2004), gia đình Cụ H không c ý kiến gì. Gia đình Ông C
thực hiện việc nộp thuế nhà đất hàng năm.
Về việc tranh chấp đất giữa Ông C, bà Tứ và Cụ H đã diễn ra từ lâu. Quá
trình giải quyết tranh chấp cho đến nay, UBND xã C, UBND huyện Gia Lâm,
UBND thành phố Hà Nội cũng đã ra nhiều văn bản trả li cho Cụ H cng với các
văn bản xác định quyền sử dụng đất cho gia đình Ông C, bà Tứ, cụ thể: Quyết định

4
số 235/QĐ-UBND ngày 09/02/2011 của UBND huyện Gia Lâm và Quyết định số
6997/QĐ-UBND ngày 19/11/2013 của UBND thành phố Hà Nội; Thông báo số
25/TB-UBND ngày 16/03/2017 của UBND xã C gửi cho Ông Vũ Quang C; Giấy
xác nhn đăng ký đất đai số 8410/GXN- VPĐKĐĐGL ngày 15/6/2017 của Văn
phòng đăng ký đất đai Hà Nội - Chi nhánh huyện Gia Lâm; Thông báo số 150/TB-
UBND ngày 09/6/2020 của UBND xã C về việc công khai hồ sơ cấp của gia đình
Ông C, bà Tứ; Biên bản kết thúc công khai về việc cấp GCNQSDĐ cho Ông Vũ
Quang C, bà Nguyễn Thị T2 ngày 25/6/2020 của UBND xã C.
Quá trình thu thập chứng cứ, các tài liệu, chứng cứ và các Quyết định của
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền:
Tài sản các bên tranh chấp là quyền sử dụng một phần diện tích đất tại thửa
đất số 2x, t bản đồ số 7x (nay là thửa đất số 3x, t bản đồ số 7x), c diện tích hiện
trạng 370,7m
2
tại Thôn H, xã C, huyện Gia Lâm, Thành phố Hà Nội; phần diện tích
đất trên chưa đưc cơ quan c thẩm quyền cấp GCNQSDĐ. Hiện phần đất trên do
gia đình Ông C, bà Tứ quản lý, sử dụng, trên đất c 01 nhà 03 tầng và các công
trình phụ, cây cối.
Theo hồ sơ địa chính hiện UBND xã C lưu giữ liên quan đến thửa đất đang
tranh chấp gồm:
Bản đồ ruộng đất Hp tác xã Thôn H lp năm 1973 và sổ kèm theo: thửa đất
tranh chấp thể hiện tại thửa đất số 2x, diện tích 640 m
2
, trên đất c thể hiện công
trình xây dựng. Sổ lp kèm theo thể hiện loại đất thổ cư, ghi tên “Vũ Quang H”.
Hồ sơ địa chính năm 1985-1986: Thửa đất tranh chấp đưc thể hiện là 02
thửa, ranh giới giữa 02 thửa là đưng nét đứt không rõ ràng, thể hiện thửa đất số
40A, diện tích 360m
2
, sổ lp kèm theo đứng tên Ông Vũ Quang C và thửa số 40B,
diện tích 200m
2
, sổ lp kèm theo ghi tên “Gián” (ông Gián là con trai Cụ H và là
em trai Ông C).
Bản đồ đo vẽ năm 1993-1994 và sổ lp kèm theo: thửa đất đưc thể hiện tại
thửa số 3, t bản đồ số 7x, diện tích 720m
2
, sổ kèm theo ghi tên chủ sử dụng là “Vũ
Quang Can”, loại đất thổ cư.
Từ năm 2004, gia đình Cụ Vũ Quang H và Ông Vũ Quang C xảy ra mâu
thuẫn, Cụ H đã đòi Ông C trả lại cụ một phần thửa đất trên (01 sào đất) nhưng Ông
C không trả. UBND xã C đã hòa giải nhiều lần nhưng không thành.
Năm 2005, Cụ Vũ Quang H làm đơn xin cấp GCNQSDĐ và Cụ H đã đưc cấp
GCNQSDĐ đối với 01 sào đất (trong tổng số 02 sào đất, diện tích 720m
2
tại thửa
số 3, t bản đồ số 7x).
5
Năm 2009, cụ Vũ Quang Hy c đơn đề nghị UBND huyện Gia Lâm giải
quyết tranh chấp quyền sử dụng đất giữa gia đình Cụ H với gia đình Ông Vũ
Quang C tại Thôn H, xã C.
Ngày 09/02/2011, UBND huyện Gia Lâm đã ban hành Quyết định số
235/QĐ-UBND giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất giữa gia đình Cụ Vũ
Quang H và gia đình Ông Vũ Quang C c nội dung kết lun: “Việc ông Vũ Quang
H đề nghị UBND huyện Gia Lâm giải quyết để gia đình anh Vũ Quang Can trả lại
đất cho gia đình ông là chưa đủ cơ sở để xem xét, giải quyết”.
Không đồng ý với quyết định của UBND huyện Gia Lâm, ông Vũ Quang
Tiếp (con trai Cụ Vũ Quang H, đưc Cụ H ủy quyền) đã c đơn gửi tới UBND
thành phố Hà Nội khiếu nại Quyết định số 235/QĐ-UBND nêu trên.
Ngày 19/11/2013, UBND thành phố Hà Nội đã ban hành Quyết định số
6997/QĐ-UBND - với nội dung đồng ý với Quyết định số 235/QĐ-UBND ngày
09/02/2011 của UBND huyện Gia Lâm.
Tại Điều 2 Quyết định số 6997/QĐ-UBND ngày 19/11/2013 của UBND thành
phố Hà Nội cũng nêu: “Nếu không đồng ý, ông Vũ Quang H có quyền khiếu nại tới
Bộ Tài nguyên và môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án theo quy định tại Điều 264
của Luật tố tụng hành chính ngày 24 tháng 11 năm 2010”.
Sau đ, ông Vũ Quang Tiếp (đưc Cụ Vũ Quang H ủy quyền) đã đến Bộ Tài
nguyên và Môi trưng khiếu nại Quyết định số 6997/QĐ-UBND ngày 19/11/2013
của UBND thành phố Hà Nội.
Ngày 22/12/2014, Thanh tra Bộ Tài nguyên và Môi trưng đã c Công văn
số 440/TTr-TDXLDT trả li đơn của ông Tiếp c nội dung:
“Nội dung tranh chấp quyền sử dụng đất giữa gia đình ông Vũ Quang H với
gia đình Ông Vũ Quang C đã được UBND huyện Gia Lâm giải quyết tại Quyết
định số 235/QĐ-UBND ngày 09 tháng 02 năm 2011. Ông không đồng ý, tiếp tục
khiếu nại, đã được UBND thành phố Hà Nội giải quyết tại Quyết định số
6997/QĐ-UBND ngày 19 tháng 11 năm 2013, đây là quyết định có hiệu lực thi
hành và theo quy định của pháp luật Bộ Tài nguyên và Môi trường không thụ lý
giải quyết...
Theo quy định của pháp luật, trường hợp ông không đồng ý với nội dung
giải quyết tại Quyết định số 6997/QĐ-UBND ngày 19 tháng 11 năm 2013 của
UBND thành phố Hà Nội thì có quyền khởi kiện đến cơ quan Tòa án để được xem
xét, giải quyết”.
6
Ngày 15/10/2020, Cụ Vũ Quang H làm đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân
huyện Gia Lâm đề nghị giải quyết việc tranh chấp quyền sử dụng đất giữa Cụ H và
Ông C. Ngày 02/12/2020, Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm đã thụ lý vụ án Dân sự
sơ thẩm về việc tranh chấp quyền sử dụng đất trên.
Công văn số 179/UBND-ĐC ngày 05/5/2021 của UBND xã C, huyện Gia Lâm
cung cấp:
Về hiện trạng sử dụng đất: Hiện trạng trên thửa đất số 03 t bản đồ số 07,
gia đình Ông C và bà Tứ sử dụng diện tích 370,7m
2
. Diện tích hiện trạng 370,7 m
2
:
tăng 10,7 m
2
so với Quyết định số 235/QĐ-UBND ngày 09/02/2011 và Quyết định
số 6997/QĐ-UBND ngày 19/11/2013 của UBND thành phố Hà Nội. Diện tích tăng
trên là do quá trình đo đạc chưa chính xác.
Công văn số 921/UBND-TNMT ngày 06/4/2022 của UBND huyện Gia Lâm
cung cấp:
Ngày 22/02/2021, UBND huyện đã ban hành Thông báo thu hồi đất để thực
hiện Dự án xây dựng tuyến đưng đê Hữu Đuống đoạn từ Dốc Li - Đng Xá đến
xã Lệ Chi, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội đối với hộ gia đình ông (bà) Vũ
Quang Can - Nguyễn Thị T2 với diện tích 132,6m
2
(đất ở). Với nguồn gốc và quá
trình sử dụng đất như trên, thửa đất của gia đình Ông Vũ Quang C đủ điều kiện cấp
GCNQSDĐ với diện tích còn lại sau giải phng mt bằng ph hp quy hoạch đất ở;
trưng hp không c tranh chấp thì đưc cấp GCNQSDĐ.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 121/2022/DS-ST ngày 08/9/2022 của Tòa án
nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội đã xử:
“1. Chấp nhn yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Quang H đối với Ông Vũ
Quang C.
2. Buộc Ông Vũ Quang C và bà Nguyễn Thị T2 phải trả lại cho ông Vũ
Quang H phần diện tích đất thuộc thửa đất số 2x, t bản đồ số 7x theo bản đồ đo vẽ
năm 1973-1974 (nay là thửa đất số 3x, t bản đồ số 7x) tại: Thôn H, xã C, huyện
Gia Lâm, Hà Nội c diện tích hiện trạng là 370,7m
2
.
3. Phân chia cụ thể như sau:
3.1. Tạo ngõ đi chung từ đưng làng vào phần diện tích đất hai bên đưc sử
dụng chung c diện tích 19,4m
2
.
3.2. Chia cho Ông Vũ Quang C và bà Nguyễn Thị Tú đưc quyền sử dung
113,6m² đất...
3.3. Chia cho ông Vũ Quang H đưc quyền sử dụng 105,1m’ đất...
7
3.4. Phần diện tích 132,6m đất... bị thu hồi để giải phng mt bằng thực hiện
dự án...
3.6. Buộc ông Vũ Quang H phải thanh toán cho Ông Vũ Quang C và bà
Nguyễn Thị T2 số tiền 16.663.225đ.”
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo.
Sau phiên tòa sơ thẩm, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội c Quyết
định kháng nghị số 21/QĐ-VKS-DS-P9 đề nghị huỷ toàn bộ bản án sơ thẩm, đình
chỉ giải quyết vụ án. Ông Vũ Quang C và bà Nguyễn Thị T2 c đơn kháng cáo
toàn bộ bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên toà phát
biểu ý kiến:
Về tố tụng: Hội đồng xét xử và các đương sự tuân thủ đầy đủ các quy định
của Bộ lut tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ lý vụ án đến phiên toà xét xử vụ án.
Về nội dung: Sau khi phân tích các tài liệu c trong hồ sơ vụ án và quá trình
diễn biến tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát
biểu quan điểm: Giữ nguyên quan điểm kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân
thành phố Hà Nội tại Quyết định kháng nghị số 21/QĐ-VKS-DS-P9 ngày
07/10/2022; đề nghị huỷ toàn bộ bản án sơ thẩm, đình chỉ giải quyết vụ án.
Căn cứ vào các tài liệu c trong hồ sơ vụ án đưc thẩm tra tại phiên toà và
căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhn định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục:
Ngày 08/09/2022, Toà án nhân dân huyện Gia Lâm xét xử vụ án; ngày
07/10/2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội c Quyết định kháng nghị
số 21/QĐ-VKS-DS-P9 đề nghị huỷ toàn bộ bản án sơ thẩm, đình chỉ giải quyết vụ
án. Ngày 15/09/2022, Tòa án sơ thẩm nhn đưc đơn kháng cáo đề ngày
13/09/2022 của Ông Vũ Quang C và bà Nguyễn Thị T2. Kháng cáo, kháng nghị
đảm bảo về chủ thể, nội dung, trong thi hạn theo quy định tại Điều 271, Điều 272,
Điều 273; Điều 278, Điều 279, Điều 280 của Bộ lut tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thnh ph H Nội v
kháng cáo của Ông Vũ Quang C và bà Nguyễn Thị T2:
Hội đồng xét xử nhn thấy,
8
Vụ việc tranh chấp quyền sử dụng đất giữa gia đình Cụ Vũ Quang H với gia
đình Ông Vũ Quang C xảy ra từ năm 2004, đến năm 2009 Cụ H đã gửi đơn khiếu
nại đến UBND huyện Gia Lâm và đưc UBND huyện Gia Lâm thụ lý, giải quyết.
Ngày 09/02/2011, UBND huyện Gia Lâm đã ban hành Quyết định số
235/QĐ-UBND giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất giữa gia đình Cụ Vũ
Quang H và gia đình Ông Vũ Quang C c nội dung kết lun:
“Việc ông Vũ Quang H đề nghị UBND huyện Gia Lâm giải quyết để gia đình
anh Vũ Quang Can trả lại đất cho gia đình ông là chưa đủ cơ sở để xem xét, giải
quyết vì:
Anh Vũ Quang Can đã sử dụng ở ổn định liên tục tại thửa đất này từ 1978-
1980 đến nay, trong quá trình sử dụng, gia đình anh Vũ Quang Can đã cơi nới san
lấp một phần diện tích ao công liền kề. - Anh Vũ Quang Can đã đăng ký kê khai sử
dụng đất và có tên trong hồ sơ địa chính năm 1985-1986; năm 1993-1994 và là
người thực hiện nghĩa vụ của người sử dụng đất (nộp thuế nhà đất).
Từ năm 1978-1980 đến thời điểm phát sinh tranh chấp (năm 2004), ông H
không có ý kiến gì đối với việc sử dụng đất của anh Can.
Hiện nay, ông H đang ở và sử dụng thửa đất số 26, tờ bản đồ số 11 thuộc
khu Cửa Đình, Thôn H, xã C, ông H đã được cấp GCNQSDĐ tại thửa đất này với
diện tích là 437m
2
”.
Cụ H không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại của UBND huyện
Gia Lâm nên tiếp tục khiếu nại.
Ngày 19/11/2013, UBND thành phố Hà Nội đã ra Quyết định số 6997/QĐ-
UBND (đây là quyết định giải quyết khiếu nại lần thứ hai), với nội dung: “Thống
nhất với Quyết định số 235/QĐ-UBND ngày 09/02/2011 của UBND huyện Gia
Lâm. Nếu không đồng ý, ông Vũ Quang H có quyền khiếu nại tới Bộ Tài nguyên và
môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án theo quy định tại Điều 264 của Luật tố tụng
hành chính ngày 24 tháng 11 năm 2010”.
Cụ H tiếp tục khiếu nại đến Bộ Tài nguyên và Môi trưng.
Ngày 22/12/2014, Thanh tra Bộ Tài nguyên và Môi trưng đã c Công văn
số 440/TTr-TDXLDT trả li đơn của Cụ H c nội dung: “Quyết định số 6997/QĐ-
UBND ngày 19/11/2013 của UBND thành phố Hà Nội là quyết định có hiệu lực thi
hành và theo quy định của pháp luật Bộ Tài nguyên và Môi trường không thụ lý
giải quyết”.
Hội đồng xét xử nhn thấy, tại Quyết định số 235/QĐ-UBND ngày
09/02/2011 của UBND huyện Gia Lâm c nội dung kết lun: Việc Cụ Vũ Quang H

9
đề nghị UBND huyện Gia Lâm giải quyết để gia đình Ông Vũ Quang C trả lại đất
cho gia đình Cụ H là chưa đủ cơ sở để xem xét, nhưng tại quyết định này đã liệt kê
các lý do để không xem xét gồm: Gia đình Ông C đã sử dụng ở ổn định liên tục tại
thửa đất này từ 1978-1980; đã cơi nới san lấp một phần diện tích ao công liền
kề; đã đăng ký kê khai sử dụng đất và c tên trong hồ sơ địa chính năm 1985-1986;
đã nộp thuế; ông H không c ý kiến gì để làm căn cứ cho kết lun của UBND
huyện Gia Lâm. Như vy, Quyết định số 235/QĐ-UBND ngày 09/02/2011 của
UBND huyện Gia Lâm đã kết lun về nội dung và không chấp nhn yêu cầu giải
quyết tranh chấp đất đai của Cụ Vũ Quang H.
Theo quy định tại Điều 203 Lut đất đai năm 2013: Tranh chấp đất đai đã
được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như
sau:
1. Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong
các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn
liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;
2. Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không
có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ
được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy
định sau đây:
a) Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm
quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này;
b) Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp
luật về tố tụng dân sự;
3. Trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân
dân cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như
sau:
a) Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với
nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với
quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng
hành chính;
b) Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo,
người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định
giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường

10
hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành
chính;
4. Người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tại khoản 3 Điều này
phải ra quyết định giải quyết tranh chấp. Quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu
lực thi hành phải được các bên tranh chấp nghiêm chỉnh chấp hành. Trường hợp
các bên không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành.”
Hội đồng xét xử nhn thấy, căn cứ quy định tại Điều 203 Lut Đất đai năm
2013; Điều 116 Lut tố tụng hành chính thì Cụ Vũ Quang H c quyền khởi kiện vụ
án hành chính tại Tòa án để yêu cầu Tòa án ra quyết định hủy các quyết định:
Quyết định số 235/QĐ-UBND ngày 09/02/2011 của UBND huyện Gia Lâm và
Quyết định số 6997/QĐ-UBND ngày 19/11/2013 của UBND thành phố Hà Nội.
Do Cụ H không khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án để hủy các Quyết định của
UBND huyện Gia Lâm và UBND thành phố Hà Nội nêu trên nên Quyết định số
6997/QĐ-UBND ngày 19/11/2013 của UBND thành phố Hà Nội c hiệu lực pháp
lut.
Do vy, việc Cụ H khởi kiện thuộc trưng hp sự việc đã đưc giải quyết
bằng quyết định đã c hiệu lực của cơ quan Nhà nước c thẩm quyền. Tòa án nhân
dân huyện Gia Lâm thụ lý vụ án và xét xử chấp nhn yêu cầu khởi kiện của Cụ Vũ
Quang H là vi phạm nghiêm trng thủ tục tố tụng quy định tại điểm c khoản 1 Điều
192 Bộ lut Tố tụng dân sự năm 2015.
Từ những nhn định trên, Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhn kháng nghị
của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội; áp dụng khoản 3 Điều 308 Bộ lut
tố tụng dân sự năm 2015 hủy bản án sơ thẩm, đình chỉ giải quyết vụ án.
[3] Về nghĩa vụ chịu án phí:
[3.1] Về án phí dân sự sơ thẩm: Cụ H đưc miễn án phí dân sự sơ thẩm.
[3.2] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do đưc chấp nhn yêu cầu kháng cáo
nên ngưi kháng cáo - Ông Vũ Quang C, bà Nguyễn Thị T2 không phải chịu án
phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ:
- Điều 203 Lut đất đai năm 2013;
- Điều 116 Lut tố tụng hành chính;
11
- Điểm c khoản 1 Điều 192, Điều 271, Điều 272, Điều 273; Điều 278, Điều
279, Điều 280; khoản 3 Điều 308 của Bộ lut Tố tụng dân sự năm 2015;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thưng
vụ Quốc Hội.
Xử:
Chấp nhn kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội; chấp
nhn kháng cáo của Ông Vũ Quang C và bà Nguyễn Thị T2; huỷ Bản án dân sự sơ
thẩm số 121/2022/DS-ST ngày 08/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm,
thành phố Hà Nội; đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày Tòa tuyên án.
Nơi nhận:
- VKS NDTP Hà Nội;
- TAND huyện Gia Lâm;
- Chi cục THADS huyện Gia Lâm;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thu Hồng
12
Nơi nhận:
- VKSND TP Hà Nội;
- TAND huyện Gia Lâm;
- Chi cục THA dân sự huyện huyện Gia Lâm;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thu Hồng
13
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 05/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 25/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 25/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 25/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 25/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 18/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 17/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 17/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 17/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm