Bản án số 22/2026/HNGĐ-ST ngày 15/07/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 22/2026/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 22/2026/HNGĐ-ST ngày 15/07/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 6 - Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang
Số hiệu: 22/2026/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 15/07/2026
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: 1. Nguyên đơn
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 22/2026/HNGĐ-ST Bản án số 22/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 22/2026/HNGĐ-ST Bản án số 22/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Khánh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lù Xuân Việt;
2. Bà Triệu Thị Liên.
Thư ký phiên tòa: Ông Lò Là Cáo – Thư ký viên Tòa án nhân dân Khu
vực 6 - Tuyên Quang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 - Tuyên Quang tham gia
phiên toà: Ông Nguyễn Trần Kha - Kiểm sát viên.
Ngày 15/07/2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Tuyên Quang xét
xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 27/2026/TLST-HNGĐ ngày
05/03/2026 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ
án ra xét xử số: 22/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 09/6/2026, Quyết định hoãn
phiên toà số: 16/2026/QĐST-HNGĐ ngày 29/6/2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị Nh, sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn P, xã T, tỉnh
Tuyên Quang; Vắng mặt có lý do;
2. Bị đơn: Anh Hoàng Văn Ng, sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn P, xã T, tỉnh
Tuyên Quang; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 24/02/2026, bản tự khai ngày 15/03/2026 và quá
trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Hoàng Thị Nh trình bày:
Chị Hoàng Thị Nh và anh Hoàng Văn Ng tự nguyện tìm hiểu, yêu thương
nhau được bố mẹ hai bên đồng ý chấp nhận cho lấy nhau, vợ chồng chị Nh, anh
Ng đăng ký kết hôn ngày 10/08/2009 tại Uỷ ban nhân dân xã Th, huyện X, tỉnh
Hà Giang (Nay là Uỷ ban nhân dân xã T, tỉnh Tuyên Quang). Sau khi kết hôn vợ
chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn đến tháng 6/2014 thì anh
Ng bắt đầu có dấu hiệu bạo lực gia đình và hành hung chị Nh, cụ thể là dùng
chân đá vào người, bóp cổ và tát vào mặt chị. Trong khoảng thời gian một tuần
từ ngày 20/03/2022 thì chị Nh bị hành hung nhiều lần trong tuần, đến 30/04/2022
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6 – TUYÊN QUANG
Bản án số: 22/2026/HNGĐ-ST
Ngày 15/7/2026
V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
thì chị lại tiếp tục bị hành hung, bị anh Ng bóp cổ, giật tóc và đập đầu chị Nh
xuống đất với tần suất liên tục. Những hành động trên của anh Ng diễn ra nhiều
lần, tiếp diễn liên tục đến tháng 01/2025 anh Ng đe doạ dùng dao chém chị Nh
làm cho chị hoảng sợ và lo lắng. Đỉnh điểm là đến ngày 01/01/2026, anh Ng cầm
dao đuổi theo chị Nh và nói muốn giết chết chị. Trong thời gian chị Nh bị hành
hung, nhiều lần thôn xuống thực hiện hoà giải nhưng anh Ng vẫn không thay đổi
và mức độ hành hung ngày một nghiêm trọng. Vợ chồng chị Nh, anh Ng đã ly
thân được một thời gian dài và không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay chị Nh
cảm thấy cuộc sống hôn nhân không được hạnh phúc tình cảm vợ chồng không
còn, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy chị Nh đề nghị Toà án cho chị
Nh được ly hôn với anh Hoàng Văn Ng.
Về con chung: Chị Hoàng Thị Nh và anh Hoàng Văn Ng có 03 (Ba) con
chung:
+ Cháu Hoàng Thuý Ng1, sinh ngày 04/12/2011.
+ Cháu Hoàng Tiến Đ, sinh ngày 25/05/2017.
+ Cháu Hoàng Bích Ng2, sinh ngày 29/07/2023.
Vợ chồng ly hôn, chị Nh đề nghị giao hai cháu Hoàng Thuý Ng2, sinh ngày
04/12/2011 và cháu Hoàng Tiến Đ, sinh ngày 25/05/2017 cho anh Hoàng Văn Ng
là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu Ng2 và cháu Đ đủ 18
tuổi. Giao cháu Hoàng Bích Ng2, sinh ngày 29/07/2023 cho chị Hoàng Thị Nh là
người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu Ng2 đủ 18 tuổi. Các bên
không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, về công nợ chung, công sức đóng góp: Vợ chồng tự thỏa
thuận, không đề nghị Toà án giải quyết.
Do tính chất công việc nên chị không tham gia phiên tòa xét xử vụ án Hôn
nhân gia đình giữa chị và anh Hoàng Văn Ng được nên chị Nh có gửi đơn xin xét
xử vắng mặt đến Tòa án với nội dung như giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về quan
hệ hôn nhân, về con chung, về tài sản chung, về công nợ chung, công sức đóng
góp như đã trình bày.
* Đối với bị đơn anh Hoàng Văn Ng: Tại biên bản xác minh ngày
04/06/2026 tại Thôn P, xã T, tỉnh Tuyên Quang với ông Thèn Văn H – Trưởng
thôn, Thôn P, xã T, tỉnh Tuyên Quang và ông Hoàng Văn Ch, bà Sin Thị M là
bố mẹ đẻ của anh Ng thì được biết hiện nay anh Ng đang đi làm xa không ở nhà,
khi đi anh Ng không báo với gia đình của anh Ng là hiện nay anh đang ở đâu và
làm gì. Khi trao đổi với ông Hoàng Văn Ch, bà Sin Thị M, là bố mẹ đẻ của anh
Hoàng Văn Ng, ông bà đồng ý nhận thay các văn bản của Toà án gửi đến và cam
kết sẽ giao lại tận tay cho anh Ng và liên lạc với anh Ng ngay lập tức để anh Ng
kịp thời biết được và thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Còn việc anh Ng có
đến Toà án làm việc hay không thì ông bà không biết và anh Ng không nói gì với
ông bà. Biên bản làm việc giữa ông Hoàng Văn Ch, bà Sin Thị M với Tòa án có
sự chứng kiến của ông Thèn Văn H – Trưởng Thôn P, xã T, tỉnh Tuyên Quang.
3
Tại biên bản xác minh ngày 23/03/2026 với Công an xã T, tỉnh Tuyên
Quang và ông Thèn Văn H – Trưởng thôn, Thôn P, xã T, tỉnh Tuyên Quang xác
nhận hiện anh Hoàng Văn Ng vẫn còn hộ khẩu thường trú trên địa bàn Thôn P, xã
T, tỉnh Tuyên Quang, chưa thực hiện cắt, chuyển khẩu đi nơi khác và hiện nay
anh Ng đang đi làm ăn xa, không có mặt tại địa phương. Khi đi anh Ng không
khai báo với Công an xã và thôn nên Công an xã và thôn không nắm được hiện
anh Ng đang ở đâu và làm công việc gì. Anh H – Trưởng thôn cung cấp thêm
thông tin, trong quá trình hai vợ chồng chung sống với nhau có xảy ra nhiều mâu
thuẫn dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn, nguyên nhân chủ yếu là do đi làm
công ty, mỗi người một nơi dẫn đến tình cảm vợ chồng đi xuống và anh Ng nghi
ngờ chị Nh ngoại tình, có người đàn ông khác. Mâu thuẫn anh chị được chính
quyền thôn tiến hành hoà giải được năm đến sáu lần và có thành lập biên bản
nhưng do quá trình sắp xếp thôn và thay đổi trưởng thôn nên hiện nay các biên
bản đã bị thất lạc. Hiện anh Ng đi làm ăn xa nhà thường xuyên và có trở về nhà
để thăm mẹ và các con, còn chị Nh thì thi thoảng có đi làm ăn xa được một thời
gian lại quay trở về chăm sóc cho con cái. Mặc dù chị Nh vẫn sống ở nhà chồng
nhưng hai vợ chồng không còn quan tâm đến nhau nên tình cảm đã không còn.
Tại Biên bản xác minh với bà Sin Thị M là mẹ đẻ của anh Ng ngày
23/03/2026 thì bà cho biết anh Ng và chị Nh có đăng ký kết hôn vào ngày
10/08/2009 tại UBND xã Th, huyện X, tỉnh Hà Giang và được hai bên gia đình
tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán địa phương. Sau khi kết hôn, anh Ng
và chịu Nh về chung sống với ông Hoàng Văn Ch và bà Sin Thị M tại nhà riêng
ông bà ở Thôn P, xã T, tỉnh Tuyên Quang. Trong quá trình hai vợ chồng về
chung sống với nhau thời gian đầu cuộc sống hạnh phúc và hoà thuận được một
thời gian thì anh chị có đi làm ăn xa, trong quá trình đi làm ăn xa nhà hai vợ
chồng có nhiều xích mích dẫn đến mâu thuẫn, còn nguyên nhân do đâu thì bà M
không nắm được. Mâu thuẫn của anh chị nhiều lần được chính quyền thôn hoà
giải và lần gần đây nhất là ngày 04/02/2026, sau lần hoà giải đó anh Ng lại đi
làm ăn xa, được khoảng 01 tháng thì chị Nh có nói với ông Ch và bà M là anh
Ng có chửi mắng chị vẫn không thay đổi nên chị sẽ ly hôn với anh Ng. Anh Ng
và chị Nh vẫn chung sống với các con và bố mẹ chồng, dù sống chung một máy
nhà nhưng anh chị không có tiếp xúc, nói chuyện hay hỏi thăm nhau. Hiện tại
anh Ng có đi làm ăn xa nhà nhưng vẫn thường xuyên trở về nhà để thăm các con
và bố mẹ. Quá trình đi làm anh Ng thường xuyên gửi tiền về để ông bà chăm sóc
các cháu, gọi điện hỏi thăm ông bà và các cháu còn chị Nh thì không thấy anh
nhắc đến. Vì anh Ng đi làm ăn xa nhưng thường xuyên trở về địa phương nên
việc Toà án tống đạt, gửi các văn bản của Toà đến thì ông Ch và bà M đều thông
tin qua điện thoại để anh nắm được và giao lại trực tiếp cho anh Ng khi anh trở
về nhà, khi nhận văn bản trên của Toà án thì anh Ng không có ý kiến gì. Việc
anh có lên Toà làm việc hay không thì ông bà không nắm được.
Bà M thừa nhận anh chị có 03 con chung là cháu Hoàng Thuý Ng1, sinh
ngày 04/12/2011, cháu Hoàng Tiến Đ, sinh ngày 25/05/2017 và cháu Hoàng Bích
Ng2, sinh ngày 29/07/2023. Hiện cả 03 cháu đều đang ở với anh Ng và chị Nh tại
nhà ông Ch và bà M, chị Nh hiện vẫn đang ở nhà để trực tiếp chăm sóc các cháu,
4
trường hợp cả chị Nh và anh Ng đều đi làm thì ông bà hỗ trợ anh chị chăm sóc
các cháu, về việc chăm sóc các cháu giúp anh Ng và chị Nh là bà tự nguyện, nên
bà không có yêu cầu gì. Mặc dù anh Ng đi làm ăn xa nhưng vẫn thường xuyên
quay trở về nhà để thăm bố mẹ và các con.
Tại buổi làm việc, bà M nhất trí ký và điểm chỉ biên bản xác minh nêu
trên còn các văn bản khác thì bà M không nhất trí ký hoặc điểm chỉ. Vì đây là
vấn đề của anh Ng và chị Nh không có liên quan đến bà M. Bà cam kết nhận
thay các văn bản mà Toà gửi tới và thông báo lại cho anh Ng được biết.
Tại biên bản về việc ghi ý kiến nguyện vọng con chung ngày 11/05/2026
đối với cháu Hoàng Thuý Ng1, sinh ngày 04/12/2011 và cháu Hoàng Tiến Đ, sinh
ngày 25/05/2017 thì cháu Ng1 và cháu Đ cho biết trường hợp bố mẹ cháu ly hôn
thì các cháu mong muốn được ở bố cháu là anh Hoàng Văn Ng. Cháu Hoàng Bích
Ng2, sinh ngày 29/07/2023 hiện chưa đủ 36 tháng tuổi nên chưa thực hiện ghi ý
kiến nguyện vọng.
Tại biên bản xác minh ngày 04/06/2026 với thầy giáo chủ nhiệm của cháu
Hoàng Tiến Đạt, sinh ngày 25/05/2017, thầy cho biết hiện nay cháu Đạt học tại
trường PTDT Bán trú Tiểu học và THCS Thu Tà, xã T, tỉnh Tuyên Quang. Cháu
đi học đầy đủ và đúng giờ, không bỏ học tự do. Cháu ở bán trú từ thứ hai đến thứ
sáu hàng tuần nên cuối tuần cháu tự đi bộ về nhà. Sức khoẻ của cháu ổn định,
không có biểu hiện trầm cảm, tự ti. Thỉnh thoảng anh Ng vẫn liên lạc với các thầy
cô chủ nhiệm để hỏi thăm tình hình sức khoả và học tập của các cháu.
Tại biên bản xác minh ngày 23/04/2026 với bà Thèn Thị B là mẹ đẻ của chị
Nh thì bà cho biết anh Ng và chị Nh có đăng ký kết hôn vào ngày 10/08/2009 tại
UBND xã Th, huyện X, tỉnh Hà Giang và được hai bên gia đình tổ chức đám
cưới theo phong tục tập quán địa phương. Sau khi kết hôn, anh Ng và chị Nh về
chung sống tại nhà ông Hoàng Văn Ch và bà Lù Thị S là bố mẹ đẻ của anh Ng
tại nhà riêng ở Thôn P, xã T, tỉnh Tuyên Quang. Trong quá trình hai vợ chồng
về chung sống với nhau thì xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng
về quan điểm sống, không có tiếng nói chung trong cuộc sống, anh Ng hay nghi
ngờ chị Nh có người khác, nghi ngờ chị Nh ngoại tình dẫn đến việc anh Ng có
đánh chửi chị Nh rất nhiều lần. Mâu thuẫn của anh chị nhiều lần được chính
quyền thôn và hai bên gia đình thực hiện hoà giải, lần hoà giải gần đây nhất là
vào ngày 04/02/2026 nhưng anh Ng vẫn không thay đổi, vẫn mắng chửi chị Nh
và nhiều lần doạ chém chị Nh. Anh chị tuy vẫn còn ở với nhau tại nhà ông Ch
và bà M nhưng không còn tình cảm nữa. Hiện tại anh Ng đi làm ăn xa nhà, thi
thoảng mới về, còn anh làm ở đâu và làm gì thì bà B không biết được, còn chị
Nh thi thoảng vẫn đi làm ăn xa một thời gian rồi lại về nhà để chăm lo con cái
vì con út còn nhỏ. Quan điểm của ông bà về hôn nhân và con chung: Đồng ý cho
chị Nh và anh Ng ly hôn, về con chung thì tôn trọng ý kiến của chị Nh.
* Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 - Tuyên Quang
tham gia phiên tòa phát biểu về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử
(HĐXX), Thư ký Tòa án được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật về tố
tụng dân sự. Đề nghị HĐXX căn cứ khoản cứ Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35;
5
Điều 39; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53;
khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Điều 84; Luật Hôn nhân gia đình
năm 2014. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của UB Thường
vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án
phí, lệ phí Tòa án. Đề nghị Toà án tuyên xử: Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của chị Hoàng Thị Nh. Đề nghị xử cho chị Hoàng Thị Nh được ly hôn
với anh Hoàng Văn Ng. Về con chung: Giao cho anh Hoàng Văn Ng là người trực
tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục hai cháu Hoàng Thuý Ng1, sinh ngày
04/12/2011 và cháu Hoàng Tiến Đ, sinh ngày 25/05/2017 cho đến khi cháu Ng1
và cháu Đ đủ 18 tuổi. Giao cháu Hoàng Bích Ng2, sinh ngày 29/07/2023 cho chị
Hoàng Thị Nh là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu cho đến
khi cháu Ng2 đủ 18 tuổi. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chị Nh,
anh Ng có quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật. Về tài sản chung,
công nợ chung, công sức đóng góp: Không đề nghị giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: Chị Hoàng Thị Nh phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy
định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra
tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật: Nguyên đơn chị Hoàng Thị Nh có
đơn khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” với bị đơn anh Hoàng
Văn Ng, anh Ng có hộ khẩu thường trú tại thôn P, xã T, tỉnh Tuyên Quang, theo
quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố
tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 6 -
Tuyên Quang.
[2] Về việc vắng mặt của các đương sự tại phiên tòa: Nguyên đơn chị Hoàng
Thị Nh có đơn xin xét xử vắng mặt với lý do đang bận công việc không xin nghỉ
để về tham gia phiên tòa được, nên chị Nh có đơn xin được giải quyết vắng mặt.
[3] Bị đơn anh Hoàng Văn Ng được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai
nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Tòa án nhân dân Khu vực 6 – Tuyên
Quang đã tiến hành cấp, tống đạt, thông báo và thực hiện niêm yết các văn
bản tố tụng của Toà án theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự cho
các đương sự và tiến hành giải quyết, xét xử vụ án theo thủ tục chung. Căn cứ
vào khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt
nguyên đơn chị Hoàng Thị Nh và bị đơn anh Hoàng Văn Ng là có căn cứ.
[4] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án, lời khai
của nguyên đơn chị Hoàng Thị Nh, các biên bản xác minh với đại diện chính
quyền thôn, đại diện Công an xã T, tỉnh Tuyên Quang, người thân hai bên gia
đình chị Nh, anh Ng thấy rằng: Sau khi vợ chồng đăng ký kết hôn vào ngày
10/08/2009 tại UBND xã Th, huyện X, tỉnh Hà Giang (Nay là Uỷ ban nhân dân
xã T, tỉnh Tuyên Quang), có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương
và chung sống với nhau tại nhà bố mẹ đẻ của anh Ng là ông Hoàng Văn Ch và
6
bà Sin Thị M. Trong thời gian anh chị chung sống xảy ra nhiều mâu thuẫn dẫn
đến cãi vã, đánh chửi nhau. Hiện tại anh Ng không có mặt tại địa phương và đi
làm ăn xa, việc anh đi đâu, làm gì, ở đâu không báo lại với thôn để thôn nắm
được. Chị Nh cũng thi thoảng đi làm ăn xa, mặc dù hai vợ chồng đều đi làm ăn
xa nhưng lại không biết đối phương làm công việc gì và ở đâu, mỗi người một
nơi nên dẫn đến xa cách nhau về tình cảm và nghi ngờ lẫn nhau ngoại tình. Từ
đó mâu thuẫn giữa hai vợ chồng hình thành, thường xuyên xảy ra cãi vã, đánh
chửi nhau và đẩy mối quan hệ vợ chồng đi xuống mức trầm trọng không thể hằn
gắn, tình cảm vợ chồng bị xứt mẻ, không còn tình cảm với nhau nữa. Quá trình
đi làm ăn xa anh Ng không gọi điện về hỏi han gì về tình hình chị Nh, còn chị
Nh đi làm ăn xa hay ở nhà, cũng không có hỏi han hay quan tâm gì đến anh Ng.
Xét thấy vợ chồng chị Nh, anh Ng đã sống ly thân, mỗi người một nơi mà không
còn thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau; người nào biết bổn phận
của người đó, không có sự liên lạc, vun đắp, chia sẻ cùng nhau. Như vậy là cả
hai vợ chồng đều vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm cho
hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục
đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1
Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 3 Điều 4 Nghị quyết số
01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 hướng dẫn áp dụng một số quy định của
pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị Hoàng Thị Nh được ly hôn với anh
Hoàng Văn Ng là có cơ sở, được Hội đồng xét xử ghi nhận.
[5] Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng chị Nh, anh Ng có 03
(Ba) con chung là cháu Hoàng Thuý Ng1, sinh ngày 04/12/2011, cháu Hoàng Tiến
Đ, sinh ngày 25/05/2017 và cháu Hoàng Bích Ng2, sinh ngày 29/07/2023. Nguyên
đơn chị Hoàng Thị Nh có yêu cầu giao cháu Hoàng Thuý Ng1, sinh ngày
04/12/2011 và cháu Hoàng Tiến Đ, sinh ngày 25/05/2017 cho anh Hoàng Văn Ng
trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Ng1, cháu Đ đủ 18 tuổi. Chị Hoàng Thị Nh
được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Hoàng Bích Ng2, sinh ngày
29/07/2023 cho đến khi cháu Ng2 đủ 18 tuổi. Qua xác minh Trưởng thôn nơi chị
Nh, anh Ng đăng ký hộ khẩu thường trú, người thân hai gia đình chị Nh, anh Ng
và các thầy, cô giáo chủ nhiệm của các cháu thì hiện nay các cháu đang ở cùng
với ông bà nội, anh Ng và chị Nh. Cháu Hoàng Thuý Ng1, sinh ngày 04/12/2011
và cháu Hoàng Tiến Đ, sinh ngày 25/05/2017 có nguyện vọng được ở với bố cháu
là anh Hoàng Văn Ng. Mọi liên lạc giữa nhà trường nơi cháu Đ theo học chủ yếu
do anh Ng thực hiện. Hội đồng xét xử thấy rằng việc giao cháu Ng1 và cháu Đ
cho anh Hoàng Văn Ng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với tình hình
thực tế của các bên do hiện cháu Ng1 và cháu Đ đang sinh hoạt, học tập và sinh
sống ổn định với ông bà nội và anh Ng. Ngoài ra, anh Ng có nhà cửa kiên cố, ổn
định, có thu nhập đảm bảo cho việc sịnh hoạt, học tập của các cháu. Đối với cháu
Hoàng Bích Ng2, hiện cháu Ng2 chưa đủ 36 tháng tuổi, theo quy định tại khoản
3, điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định việc trông nom, chăm sóc, nuôi
dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn: “ Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ
trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông
7
nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù
hợp với lợi ích của con”. Theo bản tự khai và các biên bản xác minh của thôn và
người thân gia đình hai bên của chị Nh và anh Ng thì chị Nh có sức khoẻ tốt,
không mắc các bệnh hiểm nghèo hoặc các bệnh nặng khác mà không thể tự chăm
sóc bản thân hoặc không thể trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục
con. Ngoài ra chị Nh có thu nhập hàng tháng, có thời gian để trông nom, chăm
sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Như vậy, chị Nh không thuộc trường hợp quy định
tại khoản 3 Điều 6 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP nên việc giao cháu Ng2 cho
chị Nh là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu là có cơ sở, nên
được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Về việc cấp dưỡng nuôi con: Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị
Hoàng Thị Nh không yêu cầu hai bên phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Qua xác minh với bà Sin Thị M là mẹ đẻ anh Ng đang trực tiếp nuôi các
cháu thì hiện tại bà đang nuôi dưỡng các cháu ổn định, việc các cháu sinh hoạt ăn
uống, chỗ ở là đảm bảo và bà không có yêu cầu gì về cấp dưỡng nuôi các cháu,
do đó ý kiến đề nghị của chị Nh là có căn cứ, không vi phạm điều cấm của luật,
không trái đạo đức xã hội nên cần được Hội đồng xét xử ghi nhận. Việc nuôi con
và cấp dưỡng nuôi con là không cố định. Các bên có quyền yêu cầu thay đổi người
trực tiếp nuôi con chung và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn.
[7] Về tài sản chung, công nợ chung và công sức đóng góp: Các bên không
yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần đề
cập xem xét, giải quyết trong vụ án này.
[8] Ý kiến, quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 -
Tuyên Quang tại phiên tòa là có căn cứ cần được chấp nhận.
[9] Về án phí: Chị Hoàng Thị Nh thuộc trường hợp đồng bào dân tộc thiểu
số ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án
phí nên được miễn toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản
1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[10] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Hoàng Thị Nh, bị đơn anh
Hoàng Văn Ng có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 của
Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 3
Điều 208, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
điểm a khoản 3 Điều 4, khoản 1 Điều 6 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày
16/5/2024 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết
vụ việc về hôn nhân và gia đình; các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn
nhân và Gia đình; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số
8
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án, xử:
1. Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Hoàng Thị Nh, xử cho chị
Hoàng Thị Nh được ly hôn với anh Hoàng Văn Ng.
2. Về con chung: Giao cho anh Hoàng Văn Ng trực tiếp nuôi dưỡng, chăm
sóc, giáo dục 02 (Hai) cháu Hoàng Thuý Ng1, sinh ngày 04/12/2011 và cháu
Hoàng Tiến Đ, sinh ngày 25/5/2017 cho đến khi cháu Ng1 và cháu Đ đủ 18 tuổi.
Giao chị Hoàng Thị Nh là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu
Hoàng Bích Ng2, sinh ngày 29/7/2023 cho đến khi cháu Ng2 đủ 18 tuổi. chị Hoàng
Thị Nh và anh Hoàng Văn Ng không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm
non con mà không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, vì quyền lợi
của con chung sau này một hoặc hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực
tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con là không cố định.
3. Về tài sản chung, công nợ chung, công sức đóng góp: Tòa án không
xem xét, giải quyết.
4. Về án phí: Nguyên đơn chị Hoàng Thị Nh được miễn toàn bộ tiền án phí ly
hôn sơ thẩm. Bị đơn anh Hoàng Văn Ng không phải chịu án phí.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Hoàng Thị Nh, bị đơn anh
Hoàng Văn Ng vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời
hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy
định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 4, 6, 7 và 36 Luật thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 34
Luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Tuyên Quang;
- VKSND tỉnh Tuyên Quang;
- THADS tỉnh Tuyên Quang;
- VKSND Khu vực 6 – Tuyên Quang;
- UBND xã T, tỉnh Tuyên Quang;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
(Đã ký)
Nguyễn Trọng Khánh
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 22/2026/HNGĐ-ST Bản án số 22/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 22/2026/HNGĐ-ST Bản án số 22/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất