Bản án số 22/2024/HS-ST ngày 04/03/2024 của TAND Quận 6, TP. Hồ Chí Minh

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 22/2024/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 22/2024/HS-ST ngày 04/03/2024 của TAND Quận 6, TP. Hồ Chí Minh
Tội danh:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND Quận 6 (TAND TP. Hồ Chí Minh)
Số hiệu: 22/2024/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 04/03/2024
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: - Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. - Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 01 (một) năm tù về tội «Trộm cắp tài sản». Thời hạn tù tính từ ngày 28/10/2023. - Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) áo khoác màu cam (có chữ HANAS). (theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 29 tháng 02 năm 2024 giữa Công an Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh) - Căn cứ khoản 2 Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUN 6 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 22/2024/HS-ST
Ngày: 04/3/2024
NHÂN DANH
ỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hi đồng xét xử sơ thẩm gm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Liên.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đặng Thị Nữa.
Ông Lâm Hng Vũ.
- Thư phiên tòa: Nguyễn ThNgọc Đức - TTòa án nhân dân
Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố H Chí Minh
tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Nhẫm - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 3 năm 2024, tại trụ sTòa án nn dân Qun 6, Thành phố
Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự thẩm thụ số:
15/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa v án ra xét
xử số: 15/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 02 năm 2024 đi với bị cáo:
Nguyễn Thị H; Sinh ngày: 07/01/1971; Tại: Thành phố Nội; Hộ khẩu
thường trú: 458/34 đưng GP, Pờng C, Quận F, Thành phố HChí Minh; Ch
ở: 80/30/25A đường HN, Phường AF, Quận H, Thành phố HChí Minh; Nghề
nghiệp: Không; Trình đ văn hóa: 2/12 (bị cáo khai biết đọc, biết viết); Dân tộc:
Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn
Ngọc A : Nguyễn Thị K; chồng: ông Trần P và con: 02 nời
con, lớn sinh năm 1995, nhỏ sinh năm 2004; Tiền án: Kng; Tiền sự: Không; Bị
bắt, tạm giữ từ ngày 28/10/2023.
Nhân thân:
- Ngày 29/01/1999, bị Tòa án nhân dân huyện Hóc n, Thành phố Hồ
Chí Minh xử phạt 03 tháng tù về tội «Trộm cắp tài sản» (Bản án số: 09/HSST).
- Ngày 30/5/2011, bị Tòa án nhân n Quận 5, Tnh phố Hồ Chí Minh xử
phạt 06 tháng vtội «Trộm cắp tài sản» (Bản án số: 63/2011/HSST). Bị cáo
kháng cáo và ny 16/8/2011, Tòa án nhân dân Tnh phHChí Minh không
chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm (Bản án số: 526/2011/HSPT).
Chấp hành xong hình phạt ngày 31/7/2012 và đã thi nh xong án phí ngày
14/11/2011 (Giấy chứng nhn chấp hành xong hình phạtsố: 83/CN-CP ca Trại
tạm giam Chí Hòa và Công văn trả lời xác minh số: 234/CCTHADS-VP ny
23/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Qun 6, Thành phố Hồ Chí Minh).
2
- Ngày 17/3/2015, bị Tòa án nhân n quận Tân nh, Thành ph Hồ Chí
Minh xử phạt 07 tháng vtội «Trộm cắp i sản» (Bản án số: 43/2015/HSST).
Chấp nh xong hình phạt tù ngày 21/5/2015 và đã thi hành xong án phí vào tháng
8/2015 (Giấy chứng nhận chấp nh xong hình phạt tù số: 100/GCN của Trại tạm
giam Bố Lá và Công văn trả lời xác minh số: 5410/CCTHADS ngày 29/12/2023
của Chi cc Thi nh án dân squận n nh, Tnh phố Hồ Chí Minh).
(bị cáo có mặt tại phiên tòa)
- Bị hại:
Nguyễn Thị Thúy H1; Sinh năm: 1978; Trú tại: 13 A, PL D,
Phường J, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.
(vng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ v án và diễn biến tại phiên tòa, ni dung
v án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ ngày 25/10/2023, Nguyễn Thị H đi xe ôm đến cửa hàng
của bà Nguyễn Thị Thúy H1, địa chỉ 27 đường LTK, Phường B, Quận F mua đồ
gia dụng. Khi vào trong cửa hàng, H phát hiện chiếc bàn gỗ tại quầy thu nn b
hở một khoảng trống mặt sau. Quan sát thấy trong hộc tủ 01 túi nylon màu
xanh đựng tiền, nên nảy sinh ý định chiếm đoạt túi nylon này. Để thực hiện ý
định, H tiến lại gần hộc tủ giả v chọn hàng, rồi li dụng lúc H1 không để ý,
H dùng tay trái kéo i nylon ra khỏi hộc tủ giấu vào trong i áo khoác của H,
xong bước ra ngoài đón xe ôm tẩu thoát v n (địa chỉ 458/34 đường GP,
Phường C, Qun F). Tại đây, H ly i nylon chứa tiền ra kiểm tra tthấy
tổng cộng 32.000.000 đồng. Sau đó, H đón xe vnhà của vợ chồng H tại số
80/30/25A đường HN, Phường AF, Qun H và đem số tiền này cất giấu trong tủ
quần áo.
Vphía Nguyễn Thị Thúy H1, sau khi phát hiện thấy mất tiền đã kiểm
tra Camera ghi hình t phát hiện H chính người đã lấy trộm, nên đến Công an
Phường 2, Quận 6 trình báo.
Qua truy xét, ngày 26/10/2023 quan điều tra Công an Quận 6 đã triệu
tập Nguyễn ThH lên tr sở làm việc. Qua đu tranh, H khai nhận đã thực hiện
hành vi nêu trên, đng thời giao nộp lại số tiền 32.000.000 đồng đã chiếm đoạt đ
trả cho bị hại.
Ngày 01 tháng 11 năm 2023, quan điều tra Công an Quận 6 ra Quyết
định khởi tố ván nh sự (Quyết đnh số: 174/QĐ-ĐTTH); khởi t bị can đối
vi Nguyễn Thị H về tội «Trộm cắp tài sản» (Quyết định số: 174/QĐ-ĐTTH).
Tại Cáo trạng số: 23/CT-VKS-Q6 ny 02 tháng 02 năm 2024, Viện kiểm
sát nhân dân Quận 6, Thành phố HChí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị H về
tội «Trộm cắp tài sản» theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự
năm 2015 được sửa đi, bổ sung năm 2017.
3
Tại phiên tòa: Bo Nguyễn Thị H khai nhận chính bị cáo, đã thực hiện
hành vi lấy trộm của Nguyễn Thị Ty H1 số tiền 32.000.000 đồng trong
túi nylon màu xanh, cất trong hộc tủ gỗ) tại cửa ng bán đồ gia dụng, địa ch27
đường LTK, Phường B, Quận F vào khoảng 16 giờ ngày 25/10/2023 n nội
dung bản cáo trạng nêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 giữ nguyên quyết định truy t bị
cáo Nguyễn Thị H như bản cáo trạng và sau khi phân tích tính chất, mức độ hành
vi phạm tội, nhân thân của bị cáo ng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
đối vi bị cáo, đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Phạt bị o Nguyễn Thị H từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù vtội «Trộm
cắp tài sản» theo khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38
của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Kng phạt tiền đối với bị cáo, do bị cáo không có khả năng thi hành.
Về bồi thường thiệt hại: Bị hại Nguyễn Thị Thúy H1 không yêu cầu, n
không đề nghị giải quyết.
Về xử vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 01 áo khoác màu cam (có chữ
HANAS).
Đối với 01 USB (chứa file d liệu ghi lại hình ảnh liên quan đến việc
Nguyễn Thị H lấy trộm tài sản tại cửa ng gia dụng, địa chỉ 27 đường LTK,
Phường B, Quận F vào ngày 25/10/2023) do Nguyễn Thị Ty H1 cung cấp,
đã được niêm phong, bên ngoài ch«H1» hình dấu tròn của quan
điều tra Công an Quận 6, Thành phố HChí Minh (BL49A), chứng cứ lưu h
, nên không đề nghị xử lý.
Còn các vật chứng khác, quan điều tra Công an Quận 6 đã xlý xong,
nên không đề nghị xử lý.
Lời i sau cùng, bị cáo Nguyễn Thị H nhận thức đưc hành vi của bị cáo
là sai, là vi phạm pháp luật nên không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử phạt
bị o mức án nhnhất để bị cáo sớm trở vvi gia đình, cơ hi làm lại cuộc
đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT X:
Trên sở nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ ván đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận đnh như sau:
[1] Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Qun 6,
Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Kiểm sát viên trong quá trình điều
tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ
luật t tụng hình sự. Qtrình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người làm
chứng không người nào ý kiến hoặc khiếu nại vhành vi, quyết định của
quan tiến hành tố tụng, người tiến hành t tụng. Do đó, c hành vi, quyết
định tố tụng của quan tiến nh tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực
hiện đều hợp pháp.
[2] Đối chiếu lời khai của bị cáo Nguyễn Thị H tại phiên tòa vi Biên bản
ghi nhận hình ảnh qua Camera, Khám nghiệm hiện trường ny 25/10/2023 ca
4
Công an Quận 6 (kèm bản ảnh); Biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu; lời khai
của bị hại Nguyễn Thị Thúy H1 và của người làm chứng tại quan điều tra
cùng những tài liệu, chứng cứ, lời khai khác trong h, Hội đồng t xử
đủ sở kết luận b cáo Nguyễn Thị H đã phạm tội «Trộm cắp tài sản». Tội
phạm và hình phạt được quy định tại Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015
được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự năm 2015).
Bo Nguyễn Thị H đã lợi dụng sự hcủa bà Nguyễn Thị Ty H1,
lén lút chiếm đoạt của H1 số tiền 32.000.000 đng (để trong i nylon màu
xanh, cất trong hộc tủ gỗ) tại cửa hàng bán đ gia dụng, địa ch 27 đường LTK,
Phường B, Quận F vào khoảng 16 giờ ngày 25/10/2023. Hành vi của b cáo
không nhng đã trực tiếp m phạm đến tài sản ca nời khác được pháp luật
bảo vệ còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, trị an hội.
Hành vi này đủ yếu tố cấu thành tội «Trộm cắp tài sản» thuộc trường hợp «tài sản
bị chiếm đoạt trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng» theo quy định
tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015. Do đó, Viện kiểm sát nhân
dân Quận 6 truy tố bị o với tội danh và điều luật nêu trên, n cứ, đúng
người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Bị cáo Nguyễn Thị H là người đã trưởng thành, bị cáo hn toàn có đủ khả
năng nhận thức được hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác nh vi
nguy hiểm cho hội và được quy đnh trong Bộ luật nh sự, nhưng do tham
lam, lười lao động, ch vì muốn tiền tiêu xài mà bị cáo đã bất chấp pháp luật,
cố tình thực hiện hành vi phạm tội nêu trên, nên bị o phải chịu trách nhiệm
hình sự về hành vi phạm tội của mình.
[3] Về nhân thân của bị cáo Nguyễn Thị H: Bị cáo nhân thân xấu, đó
ngày 29/01/1999, bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn xử phạt 03 tháng vtội
«Trm cắp tài sản»; ngày 30/5/2011, bị Tòa án nhân dân Quận 5 xử phạt 06
tháng về tội «Trộm cắp tài sản»; ngày 17/3/2015, bị Tòa án nn dân quận Tân
Bình xử phạt 07 tháng tù về tội «Trộm cắp tài sản». Cho thấy tuy đã được cải tạo,
giáo dục, bị cáo không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi
phạm tội do cố ý. Chứng tỏ ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo là không tốt.
[4] Xét tính chất mức độ nh vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thị H tuy
thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhưng hành vi phạm tội của bị cáo đã hoàn
thành, việc bị phát hiện bắt giữ hoàn toàn ngoài ý muốn của bcáo, do đó Hi
đồng xét xử thấy cần phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng, thể hiện
sự nghiêm minh của pha
́
p luật, nhằm đảm bảo tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo
để phòng ngừa chung, góp phần vào công ta
́
c đấu tranh, phòng chố ng tội
phạm trong tình hình hiện nay, nhất c tội phạm v xâm phm sở hữu. Tuy
nhn, t bị cáo tại quan điều tra cũng như tại phiên a đều có thái độ thành
khẩn khai báo, ăn năn hi cải; con cháu của gia đình có ng cách mạng (có
cha là ông Nguyễn Ngọc A được Hội đồng N nước Nước Cộng hòa Xã hi
Chủ nghĩa Việt Nam tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng
nhất); bản thân bị cáo đang mắc nhiều bệnh (đái tháo đưng, sỏi thận,) cần
5
được điều trị thường xuyên. Ngoài ra, khi tội phạm bị phát hiện, bị cáo đã tự
nguyện giao nộp lại stiền bị cáo đã chiếm đoạt đtrả cho bị hại, nên Hội
đồng xét xử xem xét giảm nhmột phần trách nhiệm hình sự đối với bị cáo khi
lượng hình theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình
sự năm 2015.
[5] Những nhận định trên cũng căn cứ để chấp nhn quan điểm luận tội
của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật
hình sự năm 2015, bị cáo Nguyễn Thị H còn thể bị phạt tiền từ 05 triệu đồng
đến 50 triệu đồng. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại
phiên tòa cho thấy bị cáo không có việc làm, không có thu nhập, điều kiện kinh tế
khó khăn. Vì vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là
phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Việc bồi thường thiệt hại: Cơ quan điều tra đã xử lý trả 01 chén smàu
trắng hiệu Struwbeuy và stiền 32.000.000 đồng cho Nguyn ThThúy H1.
Tại phiên tòa, H1 vắng mặt, nng tại quan điều tra H1 không yêu cầu
bồi thường (theo Biên bản ghi lời khai ngày 29/12/2023 và Biên bản vviệc trả
lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 03/11/2023 - BL99, 144), do đó Hội đng t xử
không xem xét giải quyết.
[8] Việc xử lý vật chứng:
[8.1] Đối với 01 áo khoác màu cam, có chữ HANAS (bị cáo Nguyễn Thị H
mặc c lấy trộm tài sản), là vật không giá trị hoặc không sử dụng được, nên
Hội đồng t xử tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 ca
Bộ luật tố tng hình sự.
(theo Phiếu nhập kho vật chứng số: 134/PNK ngày 14 tháng 11 năm 2023
của Công an Quận 6; Quyết định chuyển vật chứng số: 20/QĐ-VKS-Q6 ngày 02
tháng 02 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 6; Biên bản vviệc giao
nhận vật chứng, tài sản ngày 29 tháng 02 năm 2024 giữa Công an Quận 6 và Chi
cục Thi hành án dân sự Quận 6)
[8.2] Đối với 01 USB (chứa file dữ liệu ghi lại hình nh liên quan đến việc
Nguyễn Thị H lấy trộm tài sản tại cửa hàng gia dụng, địa chỉ 27 đường LTK,
Phường B, Quận F vào ngày 25/10/2023) do Nguyễn Thị Thúy H1 cung cấp,
đã được niêm phong, bên ngoài chữ «H1» hình dấu tròn của quan
điều tra Công an Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh (BL49A), chứng cứ lưu hồ
, do đó Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.
[9] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo
quy định tại khoản 2 Điều 135 của Bộ luật tố tng hình sự và điểm a khoản 1
Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của
y ban Thường vQuốc hội quy định vmức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý
sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
6
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và
Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 01 (một) năm v tội «Trộm cắp tài
sản». Thời hạn tù tính từ ngày 28/10/2023.
- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 ca Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu, tiêu hy 01 (một) áo khoác màu cam (có chữ HANAS).
(theo Biên bản vviệc giao nhận vật chứng, tài sản ny 29 tháng 02 năm
2024 giữa Công an Quận 6, Thành ph Hồ Chí Minh và Chi cục Thi hành án dân
sự Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh)
- n cứ khoản 2 Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1
Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của
y ban Thường v Quốc hội.
Bị cáo Nguyễn ThH phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình
sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi nh theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự t người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi
hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại
Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án n sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện
theo quy đnh tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Bị cáo Nguyễn ThH quyền kháng o trong thời hạn 15 (mười m)
ngày, kể tngày tuyên án. Đối với bị hại Nguyễn Thị Thúy H1 quyền kháng
cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể tngày được tống đạt hoặc niêm yết
bản án.
Nơi nhận: TM. HI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND Quận 6; Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- Công an Quận 6;
- TAND Tp. Hồ Chí Minh;
- VKSND Tp. Hồ Chí Minh;
- Công an Tp. Hồ Chí Minh (Phòng PV06);
- Chi cục THADS Quận 6;
- Sở Tư pháp Tp. Hồ Chí Minh;
- Bị cáo;
- Bị hại. Nguyễn Thị Thùy Liên
7
Tải về
Bản án số 22/2024/HS-ST Bản án số 22/2024/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất