Bản án số 22/2024/HS-ST ngày 04/03/2024 của TAND Quận 6, TP. Hồ Chí Minh
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 22/2024/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 22/2024/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 22/2024/HS-ST ngày 04/03/2024 của TAND Quận 6, TP. Hồ Chí Minh |
|---|---|
| Tội danh: | |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND Quận 6 (TAND TP. Hồ Chí Minh) |
| Số hiệu: | 22/2024/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 04/03/2024 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: | - Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. - Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 01 (một) năm tù về tội «Trộm cắp tài sản». Thời hạn tù tính từ ngày 28/10/2023. - Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) áo khoác màu cam (có chữ HANAS). (theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 29 tháng 02 năm 2024 giữa Công an Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh) - Căn cứ khoản 2 Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 22/2024/HS-ST
Ngày: 04/3/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Liên.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đặng Thị Nữa.
Ông Lâm Hoàng Vũ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Đức - Thư ký Tòa án nhân dân
Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Nhẫm - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố
Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:
15/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét
xử số: 15/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị H; Sinh ngày: 07/01/1971; Tại: Thành phố Hà Nội; Hộ khẩu
thường trú: 458/34 đường GP, Phường C, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ
ở: 80/30/25A đường HN, Phường AF, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề
nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 2/12 (bị cáo khai biết đọc, biết viết); Dân tộc:
Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn
Ngọc A và bà: Nguyễn Thị K; Có chồng: Là ông Trần P và con: Có 02 người
con, lớn sinh năm 1995, nhỏ sinh năm 2004; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị
bắt, tạm giữ từ ngày 28/10/2023.
Nhân thân:
- Ngày 29/01/1999, bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ
Chí Minh xử phạt 03 tháng tù về tội «Trộm cắp tài sản» (Bản án số: 09/HSST).
- Ngày 30/5/2011, bị Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xử
phạt 06 tháng tù về tội «Trộm cắp tài sản» (Bản án số: 63/2011/HSST). Bị cáo
kháng cáo và ngày 16/8/2011, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không
chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm (Bản án số: 526/2011/HSPT).
Chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/7/2012 và đã thi hành xong án phí ngày
14/11/2011 (Giấy chứng nhận chấp hành xong hình phạt tù số: 83/CN-CP của Trại
tạm giam Chí Hòa và Công văn trả lời xác minh số: 234/CCTHADS-VP ngày
23/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh).
2
- Ngày 17/3/2015, bị Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí
Minh xử phạt 07 tháng tù về tội «Trộm cắp tài sản» (Bản án số: 43/2015/HSST).
Chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/5/2015 và đã thi hành xong án phí vào tháng
8/2015 (Giấy chứng nhận chấp hành xong hình phạt tù số: 100/GCN của Trại tạm
giam Bố Lá và Công văn trả lời xác minh số: 5410/CCTHADS ngày 29/12/2023
của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh).
(bị cáo có mặt tại phiên tòa)
- Bị hại:
Bà Nguyễn Thị Thúy H1; Sinh năm: 1978; Trú tại: 13 Lô A, Cư xá PL D,
Phường J, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.
(vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ ngày 25/10/2023, Nguyễn Thị H đi xe ôm đến cửa hàng
của bà Nguyễn Thị Thúy H1, địa chỉ 27 đường LTK, Phường B, Quận F mua đồ
gia dụng. Khi vào trong cửa hàng, H phát hiện chiếc bàn gỗ tại quầy thu ngân bị
hở một khoảng trống ở mặt sau. Quan sát thấy trong hộc tủ có 01 túi nylon màu
xanh đựng tiền, nên nảy sinh ý định chiếm đoạt túi nylon này. Để thực hiện ý
định, H tiến lại gần hộc tủ giả vờ chọn hàng, rồi lợi dụng lúc bà H1 không để ý,
H dùng tay trái kéo túi nylon ra khỏi hộc tủ giấu vào trong túi áo khoác của H,
xong bước ra ngoài đón xe ôm tẩu thoát về nhà (địa chỉ 458/34 đường GP,
Phường C, Quận F). Tại đây, H lấy túi nylon chứa tiền ra kiểm tra thì thấy có
tổng cộng là 32.000.000 đồng. Sau đó, H đón xe về nhà của vợ chồng H tại số
80/30/25A đường HN, Phường AF, Quận H và đem số tiền này cất giấu trong tủ
quần áo.
Về phía bà Nguyễn Thị Thúy H1, sau khi phát hiện thấy mất tiền đã kiểm
tra Camera ghi hình thì phát hiện H chính là người đã lấy trộm, nên đến Công an
Phường 2, Quận 6 trình báo.
Qua truy xét, ngày 26/10/2023 Cơ quan điều tra Công an Quận 6 đã triệu
tập Nguyễn Thị H lên trụ sở làm việc. Qua đấu tranh, H khai nhận đã thực hiện
hành vi nêu trên, đồng thời giao nộp lại số tiền 32.000.000 đồng đã chiếm đoạt để
trả cho bị hại.
Ngày 01 tháng 11 năm 2023, Cơ quan điều tra Công an Quận 6 ra Quyết
định khởi tố vụ án hình sự (Quyết định số: 174/QĐ-ĐTTH); khởi tố bị can đối
với Nguyễn Thị H về tội «Trộm cắp tài sản» (Quyết định số: 174/QĐ-ĐTTH).
Tại Cáo trạng số: 23/CT-VKS-Q6 ngày 02 tháng 02 năm 2024, Viện kiểm
sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị H về
tội «Trộm cắp tài sản» theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự
năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
3
Tại phiên tòa: Bị cáo Nguyễn Thị H khai nhận chính bị cáo, đã thực hiện
hành vi lấy trộm của bà Nguyễn Thị Thúy H1 số tiền 32.000.000 đồng (để trong
túi nylon màu xanh, cất trong hộc tủ gỗ) tại cửa hàng bán đồ gia dụng, địa chỉ 27
đường LTK, Phường B, Quận F vào khoảng 16 giờ ngày 25/10/2023 như nội
dung bản cáo trạng nêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 giữ nguyên quyết định truy tố bị
cáo Nguyễn Thị H như bản cáo trạng và sau khi phân tích tính chất, mức độ hành
vi phạm tội, nhân thân của bị cáo cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
đối với bị cáo, đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Phạt bị cáo Nguyễn Thị H từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội «Trộm
cắp tài sản» theo khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38
của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Không phạt tiền đối với bị cáo, do bị cáo không có khả năng thi hành.
Về bồi thường thiệt hại: Bị hại Nguyễn Thị Thúy H1 không yêu cầu, nên
không đề nghị giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 01 áo khoác màu cam (có chữ
HANAS).
Đối với 01 USB (chứa file dữ liệu ghi lại hình ảnh liên quan đến việc
Nguyễn Thị H lấy trộm tài sản tại cửa hàng gia dụng, địa chỉ 27 đường LTK,
Phường B, Quận F vào ngày 25/10/2023) do bà Nguyễn Thị Thúy H1 cung cấp,
đã được niêm phong, bên ngoài có chữ ký «H1» và hình dấu tròn của Cơ quan
điều tra Công an Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh (BL49A), là chứng cứ lưu hồ
sơ, nên không đề nghị xử lý.
Còn các vật chứng khác, Cơ quan điều tra Công an Quận 6 đã xử lý xong,
nên không đề nghị xử lý.
Lời nói sau cùng, bị cáo Nguyễn Thị H nhận thức được hành vi của bị cáo
là sai, là vi phạm pháp luật nên không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử phạt
bị cáo mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình, có cơ hội làm lại cuộc
đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 6,
Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Kiểm sát viên trong quá trình điều
tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ
luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người làm
chứng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của
Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết
định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực
hiện đều hợp pháp.
[2] Đối chiếu lời khai của bị cáo Nguyễn Thị H tại phiên tòa với Biên bản
ghi nhận hình ảnh qua Camera, Khám nghiệm hiện trường ngày 25/10/2023 của
4
Công an Quận 6 (kèm bản ảnh); Biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu; lời khai
của bị hại Nguyễn Thị Thúy H1 và của người làm chứng tại Cơ quan điều tra
cùng những tài liệu, chứng cứ, lời khai khác có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử có
đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Thị H đã phạm tội «Trộm cắp tài sản». Tội
phạm và hình phạt được quy định tại Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015
được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự năm 2015).
Bị cáo Nguyễn Thị H đã lợi dụng sự sơ hở của bà Nguyễn Thị Thúy H1,
lén lút chiếm đoạt của bà H1 số tiền 32.000.000 đồng (để trong túi nylon màu
xanh, cất trong hộc tủ gỗ) tại cửa hàng bán đồ gia dụng, địa chỉ 27 đường LTK,
Phường B, Quận F vào khoảng 16 giờ ngày 25/10/2023. Hành vi của bị cáo
không những đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật
bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, trị an xã hội.
Hành vi này đủ yếu tố cấu thành tội «Trộm cắp tài sản» thuộc trường hợp «tài sản
bị chiếm đoạt trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng» theo quy định
tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015. Do đó, Viện kiểm sát nhân
dân Quận 6 truy tố bị cáo với tội danh và điều luật nêu trên, là có căn cứ, đúng
người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Bị cáo Nguyễn Thị H là người đã trưởng thành, bị cáo hoàn toàn có đủ khả
năng nhận thức được hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là hành vi
nguy hiểm cho xã hội và được quy định trong Bộ luật hình sự, nhưng do tham
lam, lười lao động, chỉ vì muốn có tiền tiêu xài mà bị cáo đã bất chấp pháp luật,
cố tình thực hiện hành vi phạm tội nêu trên, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm
hình sự về hành vi phạm tội của mình.
[3] Về nhân thân của bị cáo Nguyễn Thị H: Bị cáo có nhân thân xấu, đó là
ngày 29/01/1999, bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn xử phạt 03 tháng tù về tội
«Trộm cắp tài sản»; ngày 30/5/2011, bị Tòa án nhân dân Quận 5 xử phạt 06
tháng tù về tội «Trộm cắp tài sản»; ngày 17/3/2015, bị Tòa án nhân dân quận Tân
Bình xử phạt 07 tháng tù về tội «Trộm cắp tài sản». Cho thấy tuy đã được cải tạo,
giáo dục, bị cáo không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi
phạm tội do cố ý. Chứng tỏ ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo là không tốt.
[4] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thị H tuy
thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhưng hành vi phạm tội của bị cáo đã hoàn
thành, việc bị phát hiện bắt giữ là hoàn toàn ngoài ý muốn của bị cáo, do đó Hội
đồng xét xử thấy cần phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng, thể hiện
sự nghiêm minh của pha
́
p luật, nhằm đảm bảo tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo
và để phòng ngừa chung, góp phần vào công ta
́
c đấu tranh, phòng chố ng tội
phạm trong tình hình hiện nay, nhất là các tội phạm về xâm phạm sở hữu. Tuy
nhiên, xét bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa đều có thái độ thành
khẩn khai báo, ăn năn hối cải; là con cháu của gia đình có công cách mạng (có
cha là ông Nguyễn Ngọc A được Hội đồng Nhà nước Nước Cộng hòa Xã hội
Chủ nghĩa Việt Nam tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng
nhất); bản thân bị cáo đang mắc nhiều bệnh (đái tháo đường, sỏi thận,…) cần
5
được điều trị thường xuyên. Ngoài ra, khi tội phạm bị phát hiện, bị cáo đã tự
nguyện giao nộp lại số tiền mà bị cáo đã chiếm đoạt để trả cho bị hại, nên Hội
đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự đối với bị cáo khi
lượng hình theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình
sự năm 2015.
[5] Những nhận định trên cũng là căn cứ để chấp nhận quan điểm luận tội
của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật
hình sự năm 2015, bị cáo Nguyễn Thị H còn có thể bị phạt tiền từ 05 triệu đồng
đến 50 triệu đồng. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại
phiên tòa cho thấy bị cáo không có việc làm, không có thu nhập, điều kiện kinh tế
khó khăn. Vì vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là
phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Việc bồi thường thiệt hại: Cơ quan điều tra đã xử lý trả 01 chén sứ màu
trắng hiệu Struwbeuy và số tiền 32.000.000 đồng cho bà Nguyễn Thị Thúy H1.
Tại phiên tòa, bà H1 vắng mặt, nhưng tại Cơ quan điều tra bà H1 không yêu cầu
bồi thường (theo Biên bản ghi lời khai ngày 29/12/2023 và Biên bản về việc trả
lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 03/11/2023 - BL99, 144), do đó Hội đồng xét xử
không xem xét giải quyết.
[8] Việc xử lý vật chứng:
[8.1] Đối với 01 áo khoác màu cam, có chữ HANAS (bị cáo Nguyễn Thị H
mặc lúc lấy trộm tài sản), là vật không có giá trị hoặc không sử dụng được, nên
Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 của
Bộ luật tố tụng hình sự.
(theo Phiếu nhập kho vật chứng số: 134/PNK ngày 14 tháng 11 năm 2023
của Công an Quận 6; Quyết định chuyển vật chứng số: 20/QĐ-VKS-Q6 ngày 02
tháng 02 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 6; Biên bản về việc giao
nhận vật chứng, tài sản ngày 29 tháng 02 năm 2024 giữa Công an Quận 6 và Chi
cục Thi hành án dân sự Quận 6)
[8.2] Đối với 01 USB (chứa file dữ liệu ghi lại hình ảnh liên quan đến việc
Nguyễn Thị H lấy trộm tài sản tại cửa hàng gia dụng, địa chỉ 27 đường LTK,
Phường B, Quận F vào ngày 25/10/2023) do bà Nguyễn Thị Thúy H1 cung cấp,
đã được niêm phong, bên ngoài có chữ ký «H1» và hình dấu tròn của Cơ quan
điều tra Công an Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh (BL49A), là chứng cứ lưu hồ
sơ, do đó Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.
[9] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo
quy định tại khoản 2 Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1
Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý
và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
6
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và
Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 01 (một) năm tù về tội «Trộm cắp tài
sản». Thời hạn tù tính từ ngày 28/10/2023.
- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) áo khoác màu cam (có chữ HANAS).
(theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 29 tháng 02 năm
2024 giữa Công an Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh và Chi cục Thi hành án dân
sự Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh)
- Căn cứ khoản 2 Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1
Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Nguyễn Thị H phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình
sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi
hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại
Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện
theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Bị cáo Nguyễn Thị H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm)
ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại Nguyễn Thị Thúy H1 có quyền kháng
cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết
bản án.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND Quận 6; Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- Công an Quận 6;
- TAND Tp. Hồ Chí Minh;
- VKSND Tp. Hồ Chí Minh;
- Công an Tp. Hồ Chí Minh (Phòng PV06);
- Chi cục THADS Quận 6;
- Sở Tư pháp Tp. Hồ Chí Minh;
- Bị cáo;
- Bị hại. Nguyễn Thị Thùy Liên
7
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Bản án số 80/2026/KDTM-PT ngày 05/03/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về mua bán hàng hóa
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 04/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 03/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 02/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 28/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm