Bản án số 22/2022/DS-ST ngày 30/06/2022 của TAND huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định về tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 22/2022/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 22/2022/DS-ST ngày 30/06/2022 của TAND huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định về tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm...
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Xuân Trường (TAND tỉnh Nam Định)
Số hiệu: 22/2022/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 30/06/2022
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ông Trịnh Xuân L khởi kiện anh Đinh Văn T về việc “Tranh trấp ranh giới quyền sử dụng đất”.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN XUÂN TRUỜNG
TỈNH NAM ĐỊNH
Bản án số: 22/2022/DS-ST
Ngày 30 - 6 - 2022
V/v: “TrAh trấp rAh giới
quyền sử dụng đất.
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DAH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN T, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Thung.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Kim A;
Ông Trần Đình Phấn.
- Thư phiên t: Ông Nguyễn Văn T - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân
huyện Xuân T, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân T, tỉnh Nam Định tham
gia phiên tòa:Khổng Thị Tươi Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Xuân T xét
xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 34/2021/TLST-DS ngày 09 tháng 7
năm 2021 về việc TrAh chấp rAh giới quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa
vụ án ra xét xử số 10/2022/QĐXXST-DS ngày 06/5/2022, Quyết định hoãn
phiên a số 07/2022/QĐST-DS ngày 19/5/2022 Quyết định hoãn phiên toà
số 09/2022/QĐST-DS ngày 15/6/2022, giữa:
- Nguyên đơn: Ông Trịnh Xuân L, sinh năm 1949; địa chỉ: Xóm 9, XT,
huyện Xuân T, tỉnh Nam Định.
- Bị đơn: Ah Đinh Văn T, sinh năm 1994; địa chỉ: Xóm 9, XT, huyện
Xuân T, tỉnh Nam Định.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quA:
1. Ah Trịnh Xuân L, sinh năm 1977; địa chỉ: Xóm 9, xã XT, huyện Xuân T,
tỉnh Nam Định;
2. Chị Trịnh Thị T, sinh năm 1971; địa chỉ: Xóm 9, XT, huyện Xuân T,
tỉnh Nam Định;
3. Chị Trịnh Thị T, sinh năm 1973; địa chỉ: Xóm 9, XT, huyện Xuân T,
tỉnh Nam Định;
4. Ah Trịnh Xuân P, sinh năm 1981; địa chỉ: Xóm 9, XT, huyện Xuân
2
T, tỉnh Nam Định.
- Người đại diện theo ủy quyền của ông L, chị T, chị T, Ah P: Ah Trịnh
Xuân L, sinh năm 1977; địa chỉ: Xóm 9, xã XT, huyện Xuân T, tỉnh Nam Định;
- Người làm chứng:
1. Ông Đinh Văn T, sinh năm 1954; đa ch: Xóm 9, xã XT, huyện Xuân T,
tỉnh Nam Định;
2. Mai Th Q (v ông Đinh Văn Toán), sinh năm 1964; đa ch: Xóm 9,
XT, huyện Xuân T, tỉnh Nam Định;
3. Ông Đinh Văn T, sinh năm 1964; địa ch: Xóm 12A, Xuân Kiên,
huyện Xuân T, tỉnh Nam Định;
4. Ông Đinh Văn M, sinh năm 1966; đa ch: Xóm 9, XT, huyện Xuân
T, tỉnh Nam Định;
5. Ông Đinh Văn T, sinh năm 1970; đa ch: Xóm 9, xã XT, huyện Xuân T,
tỉnh Nam Định;
6. Ah Ngô Văn T, sinh năm 1974; địa ch: Xóm 9, XT, huyện Xuân T,
tỉnh Nam Định;
7. Ông Đinh Văn T, sinh năm 1950; địa chỉ: Xóm 9, XT, huyện Xuân T,
tỉnh Nam Định;
8. Cụ Trịnh Thị L, sinh năm 1920; địa chỉ: Xóm 9, XT, huyện Xuân T,
tỉnh Nam Định.
(Tại phiên toà mặt: Ông Trịnh Xuân L, Ah Trịnh Xuân L, chị Trịnh Thị
T, chị Trịnh Thị T, ông Đinh Văn M, ông Đinh Văn T, bà Mai Thị Q (vợ ông Đinh
Văn Toán); vắng mặt: Ah Đinh Văn T, Ah Trịnh Xuân P, cụ Trịnh Thị L, ông
Đinh Văn T, Ah Ngô Văn T).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai tại Tòa án, nguyên đơn ông Trịnh Xuân L
trình bày: m 2004, vợ chồng ông là Trịnh Xuân L Đinh Thị Đ (đã chết
năm 2013) được mẹ ông là Trịnh Thị L làm thủ tục sAg tên cho thửa đất
hiện nay gia đình ông đAg sử dụng tại thửa số 751, tờ bản đồ số 05, diện tích
160m2 đất ở, tại xóm 9, XT, huyện Xuân T, tỉnh Nam Định; thửa đất rAh
giới phía nam giáp đất hộ ông Đinh Văn T. Khi ông làm thủ tục cấp sổ đỏ, ông T
cũng đã ký xác định rAh giới đất giữa hai nhà o ngày 31/3/2003 vợ chồng ông
đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sdụng đất đứng tên hộ Trịnh Xuân L.
Đầu năm 2020, ông T làm thủ tục tách đất cho con trai là Ah Đinh Văn T ở vị trí
giáp với đất nhà ông. Khi cán bộ địa chính xuống đo đạc thì đo lại cả đất nhà
ông đất nhà ông T, ông ông T cũng đã xác định mốc giới giữa hai nhà
xác định rAh giới đất hai nlà đường thẳng song song và cách chân bức tường
nhà ông T (hiện nằm trên thửa đất Ah T sử dụng) về hướng đất nhà ông 19cm.
Chính ông T là người tự tay cắm mốc, đóng cọc.
Tháng 4 năm 2021, ông dcông trình xây dựng phần sát rAh giới đất
của Ah T gồm 01 căn nhà phần rAh giới góc tây nam do ông Trịnh Xuân B
3
(em trai ông) xây dựng từ những năm 1987 khu vệ sinh, chăn nuôi do ông
xây dựng khoảng năm 1990. Khi tháo dỡ nhà thì ông có sAg nói chuyện với ông
T hai bên đã xác định rAh giới đúng như rAh giới đã xác định khi cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cho Ah T; ông nói sẽ xây nhà lùi lại so với
rAh giới đất 05cm để vào áo nhà, ông T cũng nhất trí nvậy. Khoảng 15 ngày
sau ông cho thợ xây đến đóng cọc làm nhà cho con trai thì hai bên xảy ra trAh
chấp vì một phần của 2 ô văng cửa của căn nhà do ông T xây dựng trước đây
đua sAg so với phần rAh giới hai nhà đã xác định khi cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho Ah T. Gia đình ông đã mời ông T sAg nhà đgiải quyết
nhưng ông T tuyên bố “Ô văng của nhà tôi đến đâu thì đất nhà tôi đến đó”. Gia
đình ông không đồng ý đã làm đơn đề nghị XT giải quyết, đã T hành
hòa giải nhưng không có kết quả.
Nay ông đề nghị Toà án xác định rAh giới quyền sdụng đất giữa nhà ông
nhà Ah T theo mốc giới đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
giữa hai nhà. Ông xác định rAh giới đất nhà ông với nhà Ah T đường thẳng
song song cách bức tường phía bắc căn nhà trên đất của Ah T về phía nhà
ông 19cm là đường rAh giới giữa hai nhà.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, Ah Trịnh Xuân L trình bày:
Ah nhất trí với lời trình bày của ông Trịnh Xuân L.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quA chị Trịnh Thị T chị Trịnh Thị T
trình bày: Nhất trí với ý kiến ông L.
Theo Bản tự khai lời khai tại a án, bị đơn Ah Đinh n T trình y:
Năm 1974, ông nội Ah Đinh Viết Tuynh cắt đất cho bố mAh diện tích
180m2 có phía đông tiếp giáp mặt đường gần mương ớc của xóm, phía bc giáp
đất hộ ông L thì ông có để 01nh thoát nước rộng 60cm chạy dài từ phía trong ra
đến mương thoát ớc của xóm cho 05 người chú inh Văn T, Đinh n Toán,
Đinh Văn T, Đinh Văn M, Đinh n T) Ah Ngô Văn T sử dụng làm đường
thoát ớc chung, mỗi người 10cm. Cuối năm 1974, bố Ah xây nhà nên đãy hết
đất về phía bắc làm ô văng sau n đua ra khoảng 20cm so với diện tích ông nội
Ah cắt chia cho chồng n phần rãnh ớc này. Đến m 1996 thì các chú của
Ah kng sử dụng phần rãnh ớc này nữa, khi chú Ty n thì Ah em trong gia
đình đã nhất trí để chú T xây chắn lối tht ớc, cho chú T sử dụng nh tht
ớc này (nay Ah T sử dụng nhà chú T cũng sử dụng 1 phần phía trong để đường
ống nước sạch n mái nhà). Kể từ thời điểm 1996, c chú Ah T đồng ý để gia
đình Ah sử dụng phần đất y để phía sau nhà hẻm cho thông thng. Nay Ah
được bố mẹ Ah tách cho 1 phần diện tích đất tại vị trí có ngôi nhà bố mẹ Ah xây
trước đây đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa số 1091,
tờ bản đồ số 5, diện tích 62m
2
(đều đất ở) địa chỉ tại xóm 9, xã XT, huyện
Xuân T, tỉnh Nam Định. Phần rAh giới phía bắc của thửa đất giáp với đất n
ông Trịnh Xuân L 01 ngôi nhà cấp 4 do bố Ah xây dựng từ năm 1974 quay
hướng nam, 02 ô văng sau nhà đua ra khoảng 40cm về phía đất nhà ông L.
Ah xác định rAh giới quyền sử dụng đất của Ah theo đúng rAh giới đã cấp giấy
4
chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 30/3/2020, phần rAh giới phía bắc với nhà
ông L đường thẳng song song cách tường căn nhà bố Ah xây dựng
19cm.
Ah nghe bAh nói lại, tại phần rAh giới phía bắc thửa đất Ah đAg sử
dụng trước đây phần đất rộng 60cm, kéo dài hết phần rAh giới phía bắc
phần đất để cho các chú của Ah làm đường thoát nước chung, rồi mới đến đất
nhà ông L. Khi nhà ông L làm sổ đỏ thì không gọi bố Ah ra để cắm mốc giới mà
chỉ đưa giấy tờ cho bố Ah ký vào hồ sơ.
Nay ông L khởi kiện Ah đề nghị Toà án xác định rAh giới giữa hai nhà
thì Ah không nhất trí đất của Ah không giáp rAh với đất ông L giữa hai
nhà còn phần đất rộng 60cm, kéo dài hết rAh giới phía bắc đất nhà Ah của
các chú Ah sử dụng làm rãnh thoát nước từ năm 1974. Phần ô văng căn nhà bố
Ah xây dựng trước đây đua ra 20cm nằm trên phần đất này nên không liên quA
gì đến rAh giới đất ông L. Nếu các chú và Ah T không cho Ah sử dụng phần đất
này nữa thì gia đình Ah sẽ cưa ô văng trả lại đất cho các chú chứ không trả cho
ông L.
Ông Đinh Văn T trình y: Ông bố đẻ của Ah Đinh Văn T, Ah T đã
được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 30 tháng 3 năm 2020,
đứng tên Đinh Văn T, diện ch 62m
2
, đều đất ở. Khi tách thửa cán bộ địa
chính xã tổ đo đạc của Chi nhánh văn phòng đăng đất đai huyện Xuân T
xuống đo đạc, xác định mốc giới. Khi đo đạc, các hộ liền kề đều có đến để nhận
mốc giới, rAh giới, các hộ liền kề đều ra xác nhận mốc giới rồi mới T hành
đo đạc. Ông L ông trực tiếp xác nhận mốc giới giữa hai hộ, Ah T đi vắng
không ở nhà. Phía giáp rAh giới đất với nhà ông L thì trên đất hiện nay đứng tên
Ah T 01 nhà ngói cấp 4 do ông xây dựng từ năm 1974 quay lưng về phía nhà
ông L. Khi xác định mốc giới với hộ ông L tgiữa ông ông L xác đnh rAh
giới giữa hai hộ cách chân bức tường căn nhà cấp 4 của nhà ông về phía đất ông
L 19cm, kéo dài từ đầu nhà đến cuối nhà. Mặc hai bên đã xác định mốc
giới ràng như thế, nhưng khi con trai ông L làm nhà, nếu làm theo mốc giới
đã xác định thì sẽ vướng vào 02 ô văng cửa s nhà ông. Hai ô văng cửa s nhà
ông đua về phía nhà ông L khoảng 30cm. Khi xác định rAh giới đất với hộ ông
L cũng không có ai có ý kiến gì về việc này, chỉ xác định rAh giới dưới mặt đất.
Khi xảy ra trAh chấp vrAh giới đất, thì ông cũng nói với ông L nhà ông
xây đã lâu, con ông L xây lùi lại để không phải động chạm đến phần ô văng cửa
nhà ông nhưng ông L con ông L không nghe. Sau đó ông L đã làm đơn ra xã,
T hành hòa giải nhưng không thành. Tại phần rAh giới giữa hai gia đình thì
bên phía nhà ông L trước đây rãnh nước do ông Đinh Văn T, ông Đinh Văn
Toán, ông Đinh Văn M, ông Đinh Văn T, ông Đinh Văn T, Ah Ngô Viết T sử
dụng làm đường thoát nước. Nhưng vừa qua khi đào móng làm nhà thì con ông
L đã múc hết phần rãnh nước đi để xây nhà. Nay phía ông L đề nghị Tòa án xác
định rAh giới quyền sử dụng đất giữa hai gia đình theo rAh giới đã xác định khi
đo đất để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Ah T, ông thừa nhận
giữa ông và ông L đã xác định rAh giới mặt đất giữa hai hộ cách tường nhà cấp
4 nhà ông về phía đất ông L 19cm, như hôm đo đạc cấp giấy chứng nhận cho
5
Ah T. Còn phần rAh giới trên không thì ông cho rằng phần ô văng đua ra chiếu
xuống phần rãnh nước của các hộ phía trong sử dụng làm đường thoát nước.
Ông L không được phá dỡ phần ô văng cửa sổ nhà ông đi.
Người làm chứng ông Trịnh Xuân B trình bày: Bố mông sinh được 05
Ah em Trịnh Xuân L, Trịnh Thị LA, Trịnh Thị H, Trịnh Xuân A ông; hai
em gái đi lấy chồng thì không liên quA đến đất đai của bố mẹ. Trước đây bố
mẹ ông sử dụng thửa đất mà hiện nay ông L ông A đAg sử dụng; khi Ah em
ông trưởng thành và lập gia đình thì bố mẹ cho đất để Ah em xây nhà nhưng chỉ
nói miệng: Ông L sử dụng một nửa thửa đất phía đông, giáp đường; ông
ông A sử dụng một nửa thửa đất phía tây, ông sử dụng góc tây nam (hướng
nam một phần giáp đất ông T, một phần giáp đất ông T hiện nay Ah T
đAg sử dụng), còn ông A sử dụng c tây bắc. Đến năm 1987 ông L là người
xây nhà trước, là căn nhà hiện nay ông L đAg ở; năm 1989 thì ông cũng xây một
căn nhà mái ngói 3 giA quay hướng đông; ông A căn nhà gỗ của bố mẹ, sau
đó đến 1996 thì xây nhiện nay đAg ở. Khi ông xây nhà tại vị trí góc tây nam
thửa đất của bố mẹ thì bố ông T ông Đinh Viết Tuynh người trực tiếp ra
cắm mốc giới để ông xây nhà (lúc đó ông T đã xây nhà rồi); khi cắm mốc giới
thì ông Tuynh cắm mốc giới sát phần móng chìm của ông T là rAh giới giữa hai
nhà. Căn cứ mốc giới đó, ông cũng xây phần móng chìm sát với chân móng
chìm nhà ông T, sau đó xây móng giật cấp đến chân tường thì cách tường nhà
ông T khoảng 25cm. Khi xây nhà xong, gia đình ông sinh sống ổn định đó đến
năm 1996 thì ông mua đất chỗ khác. Ông bán lại phần nhà đất cho ông L và
ông A; ông L mua phần đất có nhà nên được nhiều đất hơn ông A.
Khi ông Tuynh cắm mốc để ông xây nquá trình ông sdụng đất thì
không rãnh nước, không đường thoát nước thải nào giữa rAh giới giữa
nhà ông nhà ông T, ông T ný kiến trình bày của Ah em nhà ông T. Còn
Ah em nông T thoát nước ra ao mà hiện nay đất nhà ông T, ông Toán đAg
sử dụng. Khi lấp ao thì các hộ sử dụng đường thoát nước nằm ngiữa nhà
ông T, ông M. Việc ông T xác định rAh giới đất giữa nhà Ah T nhà ông L
cách chân tường nhà ông T xây dựng về phía đất ông L 19cm thì ông thấy là phù
hợp với rAh giới đất trước đây ông sử dụng. Còn ông T cho rằng phần đất ô
văng cửa sổ đua ra so với rAh giới đất nhà ông T khoảng 20cm là đất của 06 Ah
em ông T sử dụng làm đường thoát nước không phải đất của ông L thì ông
không nhất trí vì theo ông giữa rAh giới hai nhà không có đường thoát nước nào
chỉ ống thoát nước thải chăn nuôi lợn của ông L sát đường xóm phía
đông nam của thửa đất. Do công việc nhiều và điều kiện đi lại khó khăn nên ông
đề nghị được vắng mặt tại các buổi làm việc tiếp theo cũng như phiên tòa xét xử
vụ án tại Tòa án các cấp.
Người làm chứng ông Trịnh Xuân A trình bày: Bố mông sinh được 05
Ah em là Trịnh Xuân L, Trịnh Thị LA, Trịnh Thị H, Trịnh Xuân B ông; hai
em gái đi lấy chồng thì không liên quA đến đất đai của bố mẹ. Trước đây bố
mẹ ông sử dụng thửa đất hiện nay ông L ông đAg sử dụng; khi Ah em
ông trưởng thành và lập gia đình thì bố mẹ cho đất để Ah em xây nhà nhưng chỉ
nói miệng. Ông L sử dụng một nửa thửa đất phía đông, giáp đường; ông
6
ông B sử dụng một nửa thửa đất phía tây, ông B sử dụng góc tây nam
(hướng nam một phần giáp đất ông T, một phần giáp đất ông T hiện nay
Ah T đAg sử dụng), còn ông sử dụng góc tây bắc. Đến năm 1987 ông L
người xây nhà trước, căn nhà hiện nay ông L đAg ở; năm 1989 tông B xây
một căn nhà mái ngói 3 giA quay hướng đông; ông căn nhà gỗ của bố mẹ, sau
đó đến 1996 thì xây nhà hiện nay đAg ở.
Nhà ông B xây dựng quay hướng đông, đầu hồi hướng nam một
phần giáp với nhà ông T xây dựng trước đó hiện nay nằm trên đất của Ah T,
một phần giáp đất ông T (hiện nay Ah T đAg sử dụng). Tường nhà ông B xây
dựng cách tường nhà ông T khoảng 25 đến 27cm. Ông B nđất đó đến năm
1996 thì mua đất ở chỗ khác. Ông B n lại phần nhà đất cho ông L và ông; ông
L mua phần đất nhà nên được nhiều đất hơn ông. Căn nhà ông B xây dựng
sau đó mẹ ông sử dụng đến đầu năm 2021 thì ông L mới phá dỡ đi để xây nhà
cho con trai.
Quá trình các hộ sử dụng đất từ trước đến khi xảy ra trAh chấp đầu năm
2021 thì ông không thấy có đường thoát nước nào từ 06 hộ Ah em nhà ông T ra
cống thoát nước của dong nằm phần rAh giới giữa đất của ông L Ah T
nhà ông B xây dựng quay hướng đông tường đầu hồi cách tường nhà ông T
chưa đến 30cm. Việc Ah em ông T trình bày có lối thoát nước giữa hai nhà rộng
60cm là không có căn cứ.
Khi ông T xây n02 ô văng cửa sổ đua ra 40cm, trong đó 1 phần
sAg đất ông L nhưng Ah em họ hàng cũng không ảnh hưởng phía
trên không nên các hộ không ai ý kiến gì. Nhưng đến năm 2020, khi ông T
làm thủ tục tách đất cho con trai là Ah T thì bản thân ông T ông L cũng đã
thống nhất mốc giới đóng đinh thuyền, tuýp sắt để xác định mốc giữa 02 nhà
phía đông phía tây; khi đóng tuýp sắt mốc giới phía tây, ông T còn ghé
người vào giữa khoảng không của tường nhà ông B, ông T xây dựng để đóng
cọc sắt xuống đất. Vì vậy, cần tôn trọng mốc giới này. Còn ông T cho rằng phần
rAh giới giữa đất ông L đất Ah T đAg sử dụng 01 phần đất rộng 60cm,
kéo dài từ tây đến đông là phần đất làm lối thoát nước cho 06 hộ Ah em nhà ông
T là không đúng sự thật. Tại phần rAh giới này c đông nam thửa đất ông L
sử dụng đoạn ống nước thải chăn nuôi lợn của ông gia đình ông L nhưng đã
lâu không sử dụng.
Nay ông L khởi kiện xác định rAh giới đất đề nghị ông T, Ah T tháo
dỡ một phần ô văng cửa sổ đua sAg đất của ông L thì đề nghị Tòa án giải quyết
theo quy định của pháp luật. Do công việc nhiều điều kiện đi lại khó khăn
nên ông đề nghị được vắng mặt tại các buổi làm việc tiếp theo cũng như phiên
tòa xét xử vụ án tại Tòa án các cấp.
Người làm chứng ông Đinh Văn T, ông Đinh Văn T, ông Đinh Văn M đều
trình bày: Năm 1974, ông Đinh Văn T xây nhà cấp 4 quay hướng nam trên thửa
đất hiện nay Ah T đAg sdụng, căn nhà 02 ô văng cửa sổ phía bắc đua ra
khoảng 40cm. Khi ông T làm nhà thì bố các ông Đinh Văn Tuynh nói tại
phần ô văng đua ra thì phía bên trên ông T sử dụng còn phần dưới đất rộng
7
60cm (T từ rAh giới đất của ông T) thì để cho 06 Ah em ông làm đường thoát
nước chung; việc này, chnói miệng với nhau chứ không văn bản giấy tờ gì.
Năm 1996, khi ông làm nhà tại vị trí đè lên phần đất của đường thoát nước
chung thì các Ah em không sử dụng đường thoát nước này nữa mà thoát nước ra
hướng đường dong hướng nam.
Nay ông L khởi kiện đề nghị Toà án xác định rAh giới đất giữa đất của ông
L với đất của Ah T thì Ah em ông không nhất trí, giữa phần đất của ông L
Ah T còn phần đất rộng 60cm, kéo dài hết phần rAh giới phía bắc đất hộ Ah
Đinh Văn T là đất của 06 Ah em ông sử dụng chung. Đề nghị Toà án xem xét vì
khi cấp sổ đỏ cho ông L thì Ah em ông người sử dụng rãnh nước không được
ký giáp rAh.
Người m chứng Ah Ngô Văn T trình bày: Ah cũng mới ra đó nên Ah
cũng nhất trí với ý kiến của ông T, ông T, ông M vì trước đây họ đều ở đó.
Kết quả thu thập tài liệu, chứng cứ tại UBND XT thể hiện:
- Theo bản đồ địa chính XT lập năm 1976: Cả 02 thửa đất đAg trAh
chấp một phần của thửa đất số 1015, mảnh 6, diện tích 452m
2
; trong đó đất
thổ cư 292m
2
, đất ao 160m
2
; đứng tên người sử dụng L.
- Theo bản đồ địa chính XT lập năm 1987: Thửa 1015, mảnh 6, bản đồ
địa chính xã XT lập năm 1976 đã được tách thành 02 thửa: Thửa số 1100, tờ bản
đồ số 1b, diện tích 216m
2
, đều đất thổ cư, đứng tên người sử dụng L; thửa
số 1651, tờ bản đồ số 1b, diện ch 216m
2
, đều đất thổ cư, đứng tên người sử
dụng là T.
- Theo bản đồ địa chính xã XT lập năm 1997: Thửa đất ông L đAg sử dụng
một phần của thửa s69, tờ bả đồ số 5, diện tích 225m
2
, đều thổ cư, đứng
tên người sử dụng là L.
Thửa đất Ah T đAg sử dụng một phần của thửa số 70, tờ bản đsố 5,
diện tích 180m
2
, đều là đất ở, đứng tên người sử dụng là T.
- Theo bản đồ địa chính xã XT lập năm 1997, chỉnh lý năm 2004:
Thửa đất ông L đAg sử dụng là thửa số 69, tờ bản đồ số 5, diện tích 160m
2
,
đều là đất ở, đứng tên người sử dụng là L.
Thửa đất Ah T đAg sử dụng một phần của thửa số 70, tờ bản đsố 5,
diện tích 180m
2
, đều là đất ở, đứng tên người sử dụng là T.
- Về quá trình sử dụng đất của hai hộ: Theo bản đồ địa chính XT lập
năm 1976 thì đất Ah T đất ông L đAg sử dụng đều nằm trong thửa đất của cụ
L, diện tích 452m
2
. Đến bản đồ địa chính năm 1987 thì thửa đất của cL tách 01
phần cho ông T: Cụ L sử dụng 216m
2
, ông T sử dụng 216m
2
. Trên hồ địa
chính thì rAh giới giữa 02 thửa không thể hiện công trình xây dựng hay rãnh
thoát nước. Đến bản đồ địa chính năm 1997 thì chủ sử dụng 02 thửa đất trên vẫn
cụ L ông T. Đến bản đồ địa chính m 1997, chỉnh năm 2004 thì cụ L
đã tách thửa đất 264m
2
của mình cho 02 con trai ông L ông Trịnh Xuân A
(ông A là em ông L), ông L sử dụng 160m
2
, ông A sử dụng 104m
2
.
8
Năm 2004, ông L đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa
số 751, tờ bản đồ số 5, diện tích 160m
2
, đều là đất ở. Từ đó đến thời điểm xảy ra
trAh chấp năm 2020 thì giữa ông L, ông T các hộ xung quAh cũng không
thấy xảy ra trAh chấp về đất đai. Năm 2020, ông T làm các thủ tục tách thửa
cho Ah T nên Ah T đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày
30/3/2020. Khi làm các thủ tục cấp sổ đỏ cho Ah T thì giữa ông L ông T đều
đã nhận mc giới và cắm mốc để xác định rAh giới đất.
Khi cấp sổ đỏ cho ông L, Ah T thì địa pH không nhận được đơn từ, hay ý
kiến của các hộ lân cận về rãnh thoát nước như phía ông T, Ah T các hộ
lân cận trình bày. Địa pH cũng không nắm được hay thu thập được tài liệu
liên quA đến cống, rãnh thoát nước chung giữa các Ah em của ông T. Trên hồ
sơ địa chính qua các thời kỳ cũng không thể hiện gì về vấn đề này.
Năm 2021, khi ông L cho con trai xây nhà trên đất của mình thì xảy ra trAh
chấp. Sau khi nhận được đơn của ông Trịnh Xuân L, địa pH cũng đã báo gọi các
đương sự lên trụ sở UBND để làm việc, hòa giải nhưng không thành.
Theo kết quả xem xét thẩm định tại chđịnh giá tài sản ngày 17/8/2021
do a án tổ chức thì:
Thửa đất hộ ông Trịnh Xuân L đAg sử dụng diện tích 144m2 (chưa T
8,7m
2
đAg trAh chấp). Nếu cộng cả phần diện tích đAg trAh chấp thì đất hộ ông
L sử dụng là 152,7m
2
.
Thửa đất hộ Ah Đinh Văn T đAg sử dụng có diện tích 64m
2
(chưa T 8,7m
2
đAg trAh chấp). Nếu cộng cả phần diện tích đAg trAh chấp thì đất hAh T sử
dụng là 72,7m
2
.
Tại vị trí trAh chấp có 02 ô văng cửa sổ của căn nhà cấp 4 do ông T (bAh
T xây dựng năm 1974)
Theo giá đất Hội đồng định giá xác định ngày 17/8/2021 thì: Giá đất tại
vị trí trAh chấp theo Quyết định 46/QĐ-UB ngày 31/12/2019 của UBND tỉnh
Nam Định có giá 1.100.000đ/m2; giá giá đất tại ví trí trAh chấp theo giá thị T tại
địa pH có giá 12.000.000đ/m
2
.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân T tham gia phiên tòa phát
biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Về việc T theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình
giải quyết vụ án của Thẩm phán Hội đồng xét xử, các đương sự tham gia t
tụng trong quá trình giải quyết vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đảm
bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn Ah Đinh Văn T vắng mặt
lần thứ hai không có do nên Hội đồng xét xử T hành xét xử vắng mặt Ah T là
phù hợp với quy định của pháp luật.
Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các Điều 175, 176 của Bộ luật Dân
sự; Điều 95; khoản 5, 7 Điều 166; Điều 170; khoản 1 Điều 203 của Luật đất đai;
Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trịnh Xuân L đối với Ah Đinh Văn T.
Xác định rAh giới quyền sử dụng đất giữa hộ ông Trịnh Xuân L hộ Ah Đinh
Văn T đường thẳng song song kéo dài hết phần rAh giới hai hộ cách bức
9
tường phía bắc căn nhà hộ Ah T đAg sử dụng về phía đất hộ ông L 19cm.
Buộc Ah Đinh Văn T phải tháo dỡ phần ô văng cửa sổ các công trình đã xây
dựng sAg phần đất hộ ông Trịnh Xuân L theo rAh giới đã xác định. Về án phí,
Ah Đinh Văn T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án đã được thẩm tra tại
phiên tòa, căn cứ vào kết quả trAh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận
định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa xác định rAh giới quyền
sử dụng đất giữa hai nhà; bị đơn đAg trú tại XT, huyện Xuân T, tỉnh Nam
Định; thửa đất địa chỉ tại XT, huyện Xuân T, tỉnh Nam Định. Theo quy
định tại khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 B
lut T tng dân s thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân
huyện Xuân T, tỉnh Nam Định.
[2] Về việc xác định tư cách tố tụng đối với ông Đinh Văn M, ông Đinh Văn
T, ông Đinh Văn T, ông Đinh n T, Ah Đinh Văn T, Mai Thị Q (vợ ông
Đinh Văn Toán); đơn đề nghị do ông M đứng tên (những người còn lại cùng
vào đơn) gửi đến Tòa án đề nghị c định quyền sử dụng đất với diện tích 20m
2
,
phần đất này rộng khoảng 60cm, kéo dài hết thửa đất của hai hộ và nằm giữa thửa
đất hộ ông L hộ Ah T đAg sử dụng. Ông M cho rằng đây phần rãnh thoát
nước chung của các hộ n trên sử dụng từ những năm 1974 do bố của Ah em
các ông để cho các con sử dụng chung. Quá trình làm việc Tòa án ng đã báo
những người n trong đơn lên làm việc. Những người Tòa án làm việc đều
cho biết không tài liệu, giấy tờ liên quA đến phần đất ông yêu cầu Tòa
án giải quyết, việc bố ông ông Đinh Viết Tuynh chỉ nói miệng chứ không
văn bản, giấy tờ gì. Khi Tòa án làm việc tại địa pH thì cơ sở xóm và chính quyền
địa pH xác định: Địa pH không nắm được hay thu thập được tài liệu liên quA
đến cống, rãnh thoát nước chung giữa các Ah em của ông T. Trên hồ địa
chính qua các thời kỳ cũng không thể hiện về vấn đề này. Do vậy, Tòa án chỉ
xác định những người tên trên người làm chứng; chứ không quyền lợi,
nghĩa vụ liên quA gì đến vụ án.
[3] Đối với thửa đất ông Trịnh Xuân L sử dụng đã được cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất ngày 09/02/2004, diện tích 160m
2
, đứng tên người sử
dụng hộ ông Trịnh Xuân L. Theo tài liệu thu thập tại Chi nhánh văn phòng
đăng đất đai huyện Xuân T cung cấp thì trước khi ông L làm thtục để cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cán bộ địa chính xã đã lập Biên bản đo xác
M đất chia tách quyền sử dụng đất vào ngày 31/3/2003 tại nhà Đinh Thị
Tuynh để tách đất hộ bà Đinh Thị L cho con là ông Trịnh Xuân L và Trịnh Xuân
A (có đồ thể hiện số đo các cạnh thửa đất); tham gia các chủ sử đụng đất
của các hộ liền kế với đất h L gồm: Ông Đinh Văn T, ông Ngô ThAh CH,
Đinh Thị Tuynh. Tại biên bản này thì ông T đã xác nhận các chủ hộ tiếp
giáp, mẹ ông T Đinh Thị Tuynh cũng đã vào biên bản đo vẽ đồ, xác
10
định mốc giới giữa các hộ. Từ khi hộ ông L được cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất đến thời điểm xảy ra trAh chấp địa pH cho biết giữa ông L, ông T
các hộ xung quAh cũng không thấy xảy ra trAh chấp gì về đất đai. Về số liệu đo
đạc thực tế thửa đất hộ ông L đAg sử dụng là 144m
2
, chưa T phần diện tích đAg
trAh chấp. Nếu cộng cả phần diện tích đAg trAh chấp 8,7m
2
thì đất hộ ông L sử
dụng 152,7m
2
, so sánh với số liệu trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
thì giảm 7,2m
2
.
[4] Đối với thửa đất Ah T đAg sử dụng đã được cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất ngày 30/3/2020, diện tích 62m
2
. Theo tài liệu thu thập tại Chi
nhánh văn phòng đăng đất đai huyện Xuân T thì khi làm thủ tục cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ Ah Đinh Văn T, gia đình ông L Ah
Trịnh Xuân L đại diện gia đình đã ký xác định mc giới hộ liền kề.
[5] Về phần rãnh nước nằm giữa hai thửa đất hộ ông L hộ Ah T theo
trình bày của các Ah em ông Đinh Văn T: Trong quá trình giải quyết vụ án, các
đương sự, người làm chứng đều không cung cấp được tài liệu, chứng cứ liên
quA đến phần diện tích đất khoảng 20m
2
, chiều rộng 60cm, kéo dài từ tây
sAg đông nằm giữa đất ông L và Ah T. Trong quá trình Tòa án thu thập tài liệu,
chứng cứ tại địa pH cũng không nắm được hay thu thập được tài liệu gì liên quA
đến cống, rãnh thoát nước chung giữa các Ah em của ông T. Trên hồ địa
chính qua các thời kỳ cũng không thể hiện về vấn đề này. Mặt khác, khi cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Ah T, bản thân gia đình ông T còn mời
ông L xác nhận rAh giới đất hộ liền kề, nếu còn 60cm đất của bông để lại
làm rãnh thoát nước thì ông L không phải xác nhận rAh giới. Hồ cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ Ah T ng thể hiện rAh giới phía tây đất
hộ Ah T giáp với đất hộ ông L, không phần đất trống nào giữa hai hộ. Điều
đó chứng tgiữa đất hộ ông L hộ Ah T không phần đất rộng 60cm, kéo
dài hết phần rAh giới giữa hai hộ để làm rãnh thoát nước như các Ah em ông T
trình bày.
[6] Về việc xác định rAh giới giữa hai hộ: Thời điểm hộ ông Trịnh Xuân L
được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2004, các hộ liền kề trong đó
có ông T, mẹ ông T là cụ Đinh Thị Tuynh đã ký hồ sơ đo vẽ thửa đất mà mẹ ông
L cụ Trịnh Thị L tách thửa cho ông Trịnh Xuân L ông Trịnh Xuân A. Thời
điểm h Ah Đinh Văn T được cấp Giấy chứng nhận quyền sdụng đất năm
2020, các hộ liền kề trong đó hộ ông Trịnh Xuân L có đại diện là Ah Trịnh Xuân
L đã biên bản xác định mốc giới với thửa đất Ah Đinh Văn T đAg sử dụng.
Hai hộ đã xác định mốc giới, cắm mốc, đóng cọc không xảy ra trAh chấp gì.
Bản thân ông T Ah T cũng đều xác định rAh giới của hộ Ah T theo rAh giới
đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất các bên đã kết, cụ thể đó
đường thẳng song song cách bức tường căn nhà cấp 4 về phía nhà ông L
19cm. Nvậy, kể từ thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hai h
đều sử dụng đất ổn định, lâu dài không xảy ra trAh chấp gì; quá trình cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cả hai hộ đều xác định rõ rAh giới, mốc giới
đều ký vào biên bản. Điều đó có thể khẳng định phía gia đình ông T xác định
giáp rAh với đất gia đình ông phía bắc đất nhà ông L chứ không khoảng
11
đất nào khác giữa hai nhà. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của ông Trịnh Xuân L là có
căn cứ, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án nên cần được chấp
nhận.
[7] Về án phí: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải nộp
án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 175, 176 của Bộ luật Dân sự; Điều 95; khoản 5, 7
Điều 166; Điều 170; khoản 1 Điều 203 của Luật đất đai; các Điều 26, 35, 147
của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy bA thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ phí Tòa
án.
1. Xử chấp nhận yêu cầu khởi kin của ông Trịnh Xuân L đối với Ah Đinh
Văn T.
2. Xác định rAh giới quyền sử dụng đất giữa hộ ông Trịnh Xuân L hộ
Ah Đinh Văn T đường thẳng song song kéo dài hết phần rAh giới hai hộ
cách bức tường phía bắc căn nhà hộ Ah T đAg sử dụng về phía đất hộ ông L
19cm.
3. Buộc Ah Đinh Văn T phải tháo dỡ phần ô văng cửa sổ các công trình
đã xây dựng sAg phần đất hộ ông Trịnh Xuân L theo rAh giới đã xác định
trên.
(có sơ đồ kèm theo bản án).
4. Về án phí: Ah Đinh Văn T phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án
phí dân sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Các đương sự mặt quyền kháng cáo trong thời
hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt quyền kháng cáo trong
thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp
lệ.
Trong T hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án người phải thi hành án quyền thoả
thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời
hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân
sự.
Nơi nhận:
- TAD tỉnh:;
- VKSND tỉnh + huyện;
- Chi cục THADS huyện;
- UBNDXT;
- Các đương sự ;
- L hồ sơ;
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
12
- L văn phòng.
Phạm Văn Thung
Tải về
Bản án số 22/2022/DS-ST Bản án số 22/2022/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất