Bản án số 215/2024/DS-PT ngày 09/07/2024 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 215/2024/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 215/2024/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 215/2024/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 215/2024/DS-PT ngày 09/07/2024 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Đắk Lắk |
| Số hiệu: | 215/2024/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 09/07/2024 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Y án sơ thẩm |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH ĐẮK LẮK Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 215/2024/DS-PT
Ngày: 09 - 7 – 2024
V/v: “Yêu cầu tách thửa đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Trang
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hằng và bà Nguyễn Thị My My
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Hồng Phúc - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk: Bà Lương Thị Diệu Anh
- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 09 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 135/2024/TLPT-DS ngày 14 tháng 5
năm 2024 về việc: “Yêu cầu tách thửa đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 07/2024/DS-ST ngày 17/01/2024 của Tòa án
nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 176/2024/QĐ-PT ngày
07 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 201/ 201/2024/QĐ-PT
ngày 25 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị H - Sinh năm: 1992. Địa chỉ: Tổ dân phố 9, thị
trấn ED, huyện EH, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.
- Bị đơn: Bà Bùi Thị Xuân A - Sinh năm: 1959, ông Nguyễn Hoàn V –
Sinh năm: 1993. Cùng địa chỉ: Số 80 đường TL, Buôn KA, xã ET, thành phố
BMT, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Đặng Anh S, có yêu cầu độc lập - Sinh năm: 1987. Địa chỉ: Tổ dân
phố 9, thị trấn ED, huyện EH, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt
+ Bà Vũ Thị Mai B – Sinh năm: 1993. Địa chỉ: Buôn KA, xã ET, thành phố
BMT, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt
+ Bà Nguyễn T – Sinh năm: 1987. Địa chỉ: Buôn KA, xã ET, thành phố
BMT, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt
+ Bà Trần Thị Q – Sinh năm: 1987. Địa chỉ: Số 138/14 NCT, phường TA,
thành phố BMT, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt
- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Trần Thị H.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn bà Trần Thị H trình bày: Ngày 04/10/2018 bà Trần Thị H
(nguyên đơn) và chồng là ông Đặng Anh S có nhận chuyển nhượng đất của bà
Bùi Thị Xuân A (bị đơn) thửa đất số 555, tờ bản đồ số 66, diện tích: 289,4m
2
và
một phần thửa đất số 85, tờ bản đồ số 07, diện tích khoảng 100m
2
, đều tại địa chỉ:
xã ET, thành phố BMT, tỉnh Đắk Lắk. Giá chuyển nhượng 02 lô đất là
625.000.000 đồng. Nguyên đơn đã giao tiền xong và bị đơn đã bàn giao đất trên
thực tế cho nguyên đơn quản lý sử dụng từ đó đến nay.
Riêng đối với thửa đất số 85 do phía sau (phía Tây) tiếp giáp đường 3m
nhưng tại thời điểm chuyển nhượng do hiện trạng trên đất có nhà và cổng tường
rào của bị đơn đang quản lý chưa di dời nên không thể tách một phần thửa đất số
85 cho nguyên đơn được; nên ngày 04/10/2018, cùng thời điểm công chứng hợp
đồng chuyển nhượng thửa đất số 555 tại Văn phòng công chứng ĐA, tỉnh Đắk
Lắk xong thì các bên đã thống nhất lập thêm văn bản thỏa thuận (BL 08) với nội
dung: Sau khi ký kết hợp đồng chuyển nhượng thửa đất số 555 thì bị đơn có trách
nhiệm chuyển một phần thửa đất số 85, tờ bản đồ số 07 theo GCNQSDĐ số BT
942906 do UBND thành phố BMT cấp ngày 08/10/2014 qua cho nguyên đơn có
đặc điểm như Văn bản thỏa thuận (BL 07); Nếu trong trường hợp không tách thửa
được thì hai bên làm thủ tục đồng sở hữu thửa đất số 85 nêu trên.
Do không đủ điều kiện tách thửa nên ngày 06/5/2019 các bên thống nhất bà
A lập hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ thửa đất số 85, tờ bản đồ số 07, diện tích
199,3m
2
theo GCNQSDĐ số BT 942906 sang tên cho ông Nguyễn Hoàn V (con
trai bị đơn) và ông Đặng Anh S (chồng nguyên đơn, vì là tài sản chung của vợ
chồng nên không tranh chấp việc ông S hay bà H đứng tên đồng sở hữu) cùng
đứng tên đồng sở hữu. Đến ngày 27/5/2019 ông V và ông S đã được Chi nhánh
Văn phòng đăng ký đất đai thành phố BMT xác nhận nội dung đăng ký biến động.
Hiện tại GCNQSDĐ đang do bị đơn V quản lý, nguyên đơn đang quản lý,
sử dụng đất đúng vị trí và diện tích đất theo thỏa thuận và phù hợp với kết quả đo
vẽ kỹ thuật có cạnh Bắc dài 6,97m; cạnh Nam dài 10,86m (9.24m+1.62m), Cạnh
Đông giáp đường dài 10.76m (9.94m+0.82m); cạnh Tây giáp đường 10,07m
(6.29m+3.78m); tổng diện tích 87,1m
2
. Đối với nội dung nguyên đơn trình bày
trên vị trí đất nguyên đơn đang sử dụng có 4 trụ điện của công ty điện lực Đắk
Lắk, nguyện vọng muốn di dời. Nội dung này không phát sinh tranh chấp mà chỉ
trình bày để xác định nguyện vọng muốn tách thửa để định đoạt tài sản.
Lý do nguyên đơn khởi kiện bà A, vì ban đầu nguyên đơn căn cứ vào biên
bản thỏa thuận thì bà A có trách nhiệm tách thửa đất số 85 cho nguyên đơn,
nhưng tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn xác định các nội dung thỏa thuận bà A đã
thực hiện xong, đất mang tên đồng sở hữu có chồng của nguyên đơn nên nguyên
đơn không có ý kiến gì với bà A nữa.
Theo đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung và tại phiên tòa sơ thẩm nguyên
đơn xác định yêu cầu cuối cùng là: Nguyên đơn không tranh chấp về quyền sử
dụng đất cũng như quyền về tài sản chung với bị đơn vì nguyên đơn đang quản lý,
sử dụng đất đúng vị trí và mốc giới nhận chuyển nhượng; Nguyên đơn đã được
Tòa án giải thích pháp luật về thẩm quyền. Mặc dù bị đơn cho rằng không tranh
3
chấp, thống nhất việc giao GCNQSDĐ thửa 85 để các bên cùng tách thửa nhưng
nguyên đơn vẫn yêu cầu Tòa án quyết định bằng Bản án là tách một phần thửa đất
số 85 tờ bản đồ số 07 theo GCNQSDĐ số BT 942906 theo vị trí các bên đã thỏa
thuận và sử dụng (theo kết quả đo vẽ kỹ thuật cạnh Bắc dài 6,97m; cạnh Nam dài
10,86m (9.24m+1.62m), Cạnh Đông giáp đường dài 10.76m (9.94m+0.82m);
cạnh Tây giáp đường 10,07m (6.29m+3.78m); tổng diện tích 87,1m
2
) cho nguyên
đơn theo quy định pháp luật.
Đối với kết quả đo vẽ kỹ thuật, thẩm định, định giá tài sản nguyên đơn
không có ý kiến gì. Về chi phí tố tụng nguyên đơn đề nghị Tòa án buộc bị đơn
nộp.
* Bị đơn bà Bùi Thị Xuân A trình bày: Bà A có chuyển nhượng thửa đất
số 555, tờ bản đồ số 66, diện tích: 289,4m
2
và một phần thửa đất số 85, tờ bản đồ
số 07, diện tích khoảng 100m
2
, địa chỉ 02 thửa đất: xã ET, thành phố BMT, tỉnh
Đắk Lắk cho vợ chồng nguyên đơn là đúng.
Đối với thửa đất số 555, tờ bản đồ số 66 các bên đã chuyển nhượng xong,
không phát sinh tranh chấp. Riêng đối với thửa 85 do tại thời điểm chuyển
nhượng không đủ điều kiện tách thửa nên các bên có lập biên bản thỏa thuận như
nguyên đơn trình bày là đúng. Do không tách thửa được nên các bên thống nhất
bà A chuyển nhượng toàn bộ thửa đất số 85 nêu trên cho ông V (con bà) và ông S
(chồng nguyên đơn, được sự đồng ý của nguyên đơn) cùng đứng tên đồng sở hữu
trên GCNQSDĐ, sau này đủ điều kiện tách thửa thì các bên sẽ thực hiện hoặc Nhà
nước thu hồi, đền bù thì giao lại giá trị tương ứng diện tích đất lấy thẳng từ sau ra
trước làm ranh giới cụ thể như kết quả đo vẽ kỹ thuật và tứ cận như nguyên đơn
trình bày.
Đối với diện tích đất 9,24m
2
láng xi măng ráp ranh giữa thửa 85 và 85b của
bà A, bà không sử dụng, không tranh chấp, diện tích đất trên thuộc thửa đất số 85
nên ông S và ông V phá bỏ hay làm gì thì bà không có ý kiến.
Bản thân bà A đã chuyển nhượng xong thửa đất 85 nêu trên cho các bên,
GCNQSDĐ do ông V quản lý, bà không còn quyền và nghĩa vụ gì đối với thửa
đất số 85 nữa, vì vậy việc nguyên đơn khởi kiện bà là không đúng.
* Bị đơn ông Nguyễn Hoàn V trình bày: Ông đồng ý với phần trình bày
của bà A, đối với việc ông và ông S cùng được chỉnh lý biến động đứng tên đồng
sở hữu trên thửa đất số 85 là tự nguyện, đúng quy định dựa trên biên bản thỏa
thuận được ký kết giữa các bên.
Hiện nay GCNQSDĐ ông V đang quản lý, không thế chấp hay giao cho
người khác làm tin. Bị đơn và ông S cùng đứng tên trên GCNQSDĐ đồng sở hữu
là quyền chung, ông không tranh chấp về quyền sử dụng đất và quyền tài sản
chung bởi vì các bên đã xác định vị trí, tứ cận, sử dụng đúng mốc.
Tháng 10/2022 nguyên đơn có yêu cầu bị đơn giao GCNQSDĐ để thực hiện
việc tách thửa bị đơn đã thực hiện, nhưng do tại thời điểm trên, căn cứ theo khoản
2 Điều 9 Quyết định số 07/2022/QĐ-UBND ngày 21/01/2022, của Ủy ban nhân
dân tỉnh Đắk Lắk thì thửa đất số 85 không đủ điều kiện tách thửa nên các bên
chưa thực hiện được; Nay căn cứ vào Quyết định số: 45/2023/QĐ-UBND ngày 29
tháng 12 năm 2023 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk bị đơn đồng ý và vẫn giao
4
GCNQSDĐ cho nguyên đơn để liên hệ cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai thực
hiện thủ tục tách một phần thửa đất số 85, tờ bản đồ số 07 tại xã ET, thành phố
BMT, tỉnh Đắk Lắk cho nguyên đơn. Vì vậy việc nguyên đơn cho rằng bị đơn
không hợp tác là không đúng. Đối với việc nguyên đơn yêu cầu Tòa án quyết định
bằng Bản án cho các bên tách thửa bị đơn không có ý kiến gì, đề nghị Tòa án giải
quyết theo quy định pháp luật.
Một phần phía trước thửa đất số 85 (phía Đông) có phần diện tích đất của bà
Thừa và bà Quyến như các bà đã trình bày là đúng, hiện nay các bà vẫn đang quản
lý; bị đơn không phát sinh tranh chấp đối với những người nêu trên.
Về kết quả định giá, thẩm định, đo vẽ kỹ thuật ông V không có ý kiến gì.
Đối với chi phí tố tụng đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
* Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày:
+ Ông Đặng Anh S có yêu cầu độc lập trình bày: Nguyên đơn là vợ của
ông S, tài sản tranh chấp là tài sản chung của vợ chồng. Ông S thống nhất như
phần trình bày của nguyên đơn và không tranh chấp về quyền sử dụng đất, quyền
tài sản chung với bị đơn mà chỉ yêu cầu Tòa án tách một phần thửa đất số 85 theo
diện tích và vị trí nguyên đơn đã trình bày.
Về kết quả định giá, thẩm định, đo vẽ kỹ thuật ông S không có ý kiến gì.
+ Bà Vũ Thị Mai B trình bày: Bà là vợ của ông V, bà không có quyền và
nghĩa vụ đối với thửa đất số 85 các bên đang tranh chấp.
+ Bà Trần Thị Q trình bày: Năm 2019 vợ chồng bà Q có nhận chuyển
nhượng của bà A thửa đất số 652 tờ bản đồ số 66 tại xã Ea Tu, cụ thể ngang mặt
đường là 5m dài khoảng 30m hết đất. Tại thời điểm chuyển nhượng phía trước thửa
652 có đường 3m đi qua nên các bên có thỏa thuận bằng miệng, nếu sau này Nhà
nước có thu hồi bồi thường thì gia đình bà A sẽ trả lại giá trị tương đương diện tích
đất kéo thẳng từ sau ra trước. Hiện tại trên đất không có tài sản.
Việc diện tích đất nêu trên mang tên ông S và ông V gia đình bà không biết,
không tranh chấp, không khởi kiện độc lập.
+ Bà Nguyễn T trình bày: Năm 2019 vợ chồng bà có nhận chuyển
nhượng thửa đất số 653, tờ bản đồ số 66 tại xã Ea Tu của bà A cụ thể ngang mặt
đường là 5m dài khoảng 30m. Tại thời điểm chuyển nhượng các bên viết giấy tờ
tay, đến ngày 26/11/2019 được chỉnh lý biến động mang tên vợ chồng bà và sử
dụng ổn định cho đến nay.
Các bên có thỏa thuận bằng miệng phía Đông của thửa đất 653 là đường
3m và phần đất tiếp giáp (kéo thẳng từ thửa 653 ra đường lớn 30m) là của vợ
chồng bà nhưng do không đủ diện tích để cấp riêng thửa nên gia đình để kê bàn
ghế đá ngồi chơi uống nước (bà sẽ di dời khi cần thiết)
Nay Tòa án mời tham gia tố tụng bà mới biết diện tích đất trên đã được cấp
GCNQSDĐ mang tên ông S và ông V; Các bên tranh chấp bà không có ý kiến gì,
không khởi kiện độc lập.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2024/DS-ST ngày 17/01/2024 của Tòa
án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:

5
Căn cứ các điều 26, 35, 39, 147, 184, 218, 266, 227, 228, khoản 1 Điều 192,
điểm g khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Bộ luật dân sự năm 2015; Luật đất đai năm 2013; Nghị định
43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của chính phủ quy định chi tiếp thi hành của luật
đất đai.
Quyết định số: 45/2023/QĐ-UBND ngày 29 tháng 12 năm 2023 của Ủy ban
nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Đình chỉ trả lại đơn khởi kiện cho nguyên đơn bà Trần Thị H va
người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đặng Anh S vì không thuộc thẩm
quyền giải quyết của Tòa án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, về án phí và
quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 30/01/2024, nguyên đơn bà Trần Thị H kháng cáo bản án sơ thẩm số
07/2024/DS-ST ngày 17/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột,
tỉnh Đắk Lắk với nội dung: Đề nghị cấp phúc thẩm giải quyết buộc bị đơn phải
làm hồ sơ tách thửa, sang tên cho nguyên đơn theo đúng văn bản thỏa thuận đã ký
và chịu chi phí tách thửa, thuế thu nhập cá nhân của người bán khi sang tên thửa
đất cho nguyên đơn theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn bà Trần Thị H thay đổi nội dung đơn
kháng cáo như sau:
Bản án sơ thẩm cho rằng tôi yêu cầu Tòa án tách thửa và buộc bị đơn chịu
chi phí tách thửa, tuy nhiên việc tách thửa không thuộc thẩm quyền của Tòa án
nên đã đình chỉ giải quyết vụ án, trả lại đơn khởi kiện cho tôi và buộc tôi phải
chịu toàn bộ các chi phí tố tụng là không chính xác. Tôi không yêu cầu Tòa án
tách thửa mà muốn yêu cầu Tòa án công nhận quyền sở hữu hợp pháp đối với ½
diện tích đất đang tranh chấp để tôi được liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm
quyền thực hiện việc tách thửa vì bị đơn không hợp tác với tôi trong việc tách
thửa đất theo thỏa thuận trước đó.
Do đó, tôi đề nghị cấp phúc thẩm xem xét lại bản án sơ thẩm chấp nhận đơn
kháng cáo của tôi, công nhận quyền sở hữu hợp pháp cho tôi đối với ½ diện tích đất
đang tranh chấp và buộc bị đơn phải chịu chi phí tách thửa, thuế thu nhập cá nhân
của người bán khi sang tên thửa đất cho nguyên đơn theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk phát biểu quan
điểm về vụ án:
Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng
xét xử, Thư ký, các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân
sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố
tụng dân sự năm 2015. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn. Giữ
nguyên bản án sơ thẩm số 07/2024/DSST ngày 17/01/2024 của Tòa án nhân dân
thành phố Buôn Ma Thuột.
6
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa,
căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ các tài liệu
chứng cứ, lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét
xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Trần Thị H trong hạn luật
định, đã nộp tạm ứng án phí Dân sự phúc thẩm là hợp lệ nên được xem xét theo
trình tự phúc thẩm.
[2] Xét nội dung kháng cáo của bà Trần Thị H, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Tại đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung, bà Trần Thị H yêu cầu Tòa án
giải quyết buộc bà Bùi Thị Xuân A và ông Nguyễn Hoàn V phải thực hiện đúng
văn bản thỏa thuận ngày 04/10/2018, cung cấp giấy tờ quyền sử dụng thửa đất số
85, tách một phần thửa đất số 85 theo sơ đồ đã thỏa thuận, chuyển nhượng phần
đất này cho bà H và phải chịu toàn bộ chi phí tách thửa.
Tại phiên tòa sơ thẩm bà H xác định yêu cầu khởi kiện là: Yêu cầu Tòa án
quyết định bằng bản án tách một phần thửa đất số 85, tờ bản đồ số 07 theo Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số BT 942906 theo vị trí các bên đã thỏa thuận và
sử dụng (theo kết quả đo vẽ kỹ thuật) cho bà theo quy định của pháp luật. Tại
phiên tòa, bà H đã được Hội đồng xét xử giải thích quy định của pháp luật về
thẩm quyền nhưng bà H vẫn giữ nguyên yêu cầu Tòa án tách thửa đất số 85 bằng
một bản án theo đúng hiện trạng mà nguyên đơn đang quản lý sử dụng.
Xét yêu cầu nêu trên của bà H và ông S là không phù hợp với quy định tại
Điều 24, Điều 105 Luật đất đai 2013, Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014
của chính phù quy định chi tiết thi hành của luật đất đai; Quyết định số
07/2022/QĐ-UBND ngày 21/01/2022 và Quyết định Số 45/2023/QĐ-UBND ngày
29 tháng 12 năm 2023 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đăk Lắk quy định về việc hợp
thửa, tách thửa của hộ gia đình cá nhân. Cấp sơ thẩm đã căn cứ quy định tại điểm
đ khoản 1 Điều 192 đình chỉ trả lại đơn khởi kiện để nguyên đơn liên hệ cơ quan
có thẩm quyền về đất đai thực hiện các thủ tục theo quy định pháp luật là có căn
cứ, đúng pháp luật.
Tại nội dung đơn kháng cáo ngày 30/01/2023 bà H cho rằng bà không yêu
cầu Tòa án tách thửa mà yêu cầu Tòa án đưa ra một bản án để yêu cầu bị đơn thực
hiện nghĩa vụ và trách nhiệm đi tách thửa, chuyển nhượng cho nguyên đơn theo
văn bản thỏa thuận, chịu chi phí tách thửa. Tại phiên tòa phúc thẩm bà H thay đổi
nội dung kháng cáo cho rằng bà chỉ khởi kiện đề nghị Tòa án công nhận quyền sở
hữu hợp pháp đối với ½ diện tích của thửa đất số 85 theo kết quả đo vẽ kỹ thuật
để bà được quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm hồ sơ tách
thửa đất và buộc bị đơn phải chịu các chi phí tách thửa, thuế thu nhập cá nhân của
người bán khi sang tên thửa đất cho nguyên đơn theo quy định của pháp luật. Xét
thấy yêu cầu này của bà H vượt quá phạm vi kháng cáo đã được thông báo, vượt
quá phạm vi khởi kiện ban đầu, chưa được xem xét quyết định tại cấp sơ thẩm.
Quá trình giải quyết vụ án bà H và các đương sự khác đều xác định không tranh
chấp về quyền sử dụng đất, không tranh chấp về tài sản thuộc sở hữu chung. Mặt
khác quyền sử dụng đất của các đương sự đã được Nhà nước công nhận theo

7
GCNQSDĐ số BT 942906 ngày 08/10/2014, đăng ký biến động sang tên cho ông
Nguyễn Hoàn V và ông Đặng Anh S đồng sở hữu từ ngày 27/5/2019.
Từ những phân tích nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy không có
căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Trần Thị H mà cần giữ nguyên Bản
án dân sự sơ thẩm số 07/2024/DS-ST ngày 17/01/2024 của Tòa án nhân dân thành
phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do đơn kháng cáo không được chấp nhận
nên bà Trần Thị H phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
Các quyết định khác của bản án không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực
pháp luật kể từ ngày kết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
[1] Không chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị H. Giữ nguyên Bản án
dân sự sơ thẩm số 07/2024/DS-ST ngày 17/01/2024 của Tòa án nhân dân thành
phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
Căn cứ vào các điều 26, 35, 39, 147, 184, 218, 266, 227, 228, khoản 1 Điều
192, điểm g khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Bộ luật dân sự năm 2015; Luật đất đai năm 20013; Nghị định
43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của chính phù quy định chi tiếp thi hành của luật
đất đai.
Quyết định Số: 45/2023/QĐ-UBND ngày 29 tháng 12 năm 2023 của Ủy
ban nhân dân tỉnh Đăk Lắk.
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án.
Tuyên xử: Đình chỉ trả lại đơn khởi kiện cho nguyên đơn bà Trần Thị H va
người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đặng Anh S vì không thuộc thẩm
quyền giải quyết của Tòa án.
[2] Về chi phí tố tụng và án phí:
[2.1] Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn bà Trần Thị H phải chịu
7.346.000đồng chi phí thẩm định, định giá tài sản và đo vẽ kỹ thuật. Khấu trừ vào
số tiền nguyên đơn đã tạm ứng nộp.
[2.2] Về án phí:
[2.2.1] Về án phí dân sự sơ thẩm: Trả lại cho nguyên đơn bà Trần Thị H số
tiền 3.700.000 đồng tạm án phí do Lê Tuấn Anh nộp thay theo biên lai số
AA/2022/0001901 ngày 04/5/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự TP. BMT,
tỉnh Đắk Lắk; trả lại cho ông Đặng Anh S số tiền 300.000 đồng tạm ứng án
phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2023/0004496 ngày 05/12/2023 do ông
Nguyễn Lê Phước X nộp thay tại Chi cục thi hành án dân sự TP. BMT, tỉnh
Đắk Lắk.
[2.2.2] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Trần Thị H phải chịu 300.000
đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí phúc thẩm, khấu trừ số tiền 300.000 đồng
8
(ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền tạm
ứng án phí số AA/2023/0005325 ngày 07/02/2024, tại Chi cục Thi hành án dân sự
thành phố BMT, tỉnh Đắk Lắk.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
-
VKSND tỉnh Đắk Lắk;
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- TAND Tp. Buôn Ma Thuột; (Đã ký)
- Chi cục THADS Tp. BMT
;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ.
Nguyễn Thị Thu Trang
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 08/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 08/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 04/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 26/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 26/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 19/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 19/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm