Bản án số 212/2023/DS-PT ngày 15-05-2023 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
  • 212_2023_DS-PT_ CAN THO

    Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

  • 212_2023_DS-PT_ CAN THO

    Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 212/2023/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 212/2023/DS-PT ngày 15-05-2023 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Cần Thơ
Số hiệu: 212/2023/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 15/05/2023
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ông Nguyễn Hoàng L và Ông Lê Đình B tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ CẦN THƠ Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 212/2023/DS-PT
Ngày: 15.5.2023
V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất
và yêu cầu hủy giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Hà Thị Phương Thanh
Các thẩm phán: Ông Trần Tuấn Quốc
Ông Võ Bảo Anh
- Thư phiên tòa: Ông Huỳnh Minh Thông Thư Tòa án nhân dân
thành phố Cần Thơ.
-
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ
: Ông i Trung Nam
- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 15 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ
xét xử công khai vụ án thụ số 510/2022/TLPT-DS ngày 30 tháng 12 năm 2022
về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất”.
Do bản án dân sự thẩm số 201/2022/DS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2022
của Tòa án nhân dân quận N bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 226/2023/-PT ngày 30
tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyn Hoàng L. Địa ch: S A, KV B, P. K, Q. N,
TP. Cần Thơ (vng mt).
Đại din hp pháp cho nguyên đơn: Ông Nguyn Thái T. Địa ch: C, đưng
s D, phường B, Q. N, TP. Cần Thơ. (có mt).
2. B đơn: Ông Lê Đình B (mt ngày 13/10/2019).
Địa ch: S C, KV B , P. K, Q. N, TP. Cần Thơ.
- Người tha kế quyền và nghĩa vụ t tng ca ông Lê Đình B:
2.1 Bà Nguyn Th Bch H (v ông B mt ngày 21/01/2022).
2.2 Lê Th Thanh T (con).
2.3 Ông Lê Thanh H1 (con).
2
2.4 Lê Th Thu T1 (con) có mt.
Cùng địa ch: S C, KV B , P. K, Q. N, TP. Cần Thơ.
Đại din hp pháp cho b đơn bà T1, ông H1, T: Ông Nguyn Tng H.
Địa ch: C, đưng T, phường A, Q. N, TP. Cần Thơ (có mặt).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. NLQ1. (vắng mặt).
Địa chỉ: đường C, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
3.2. NLQ2, sinh năm 2004 - con bà T1 (vắng mặt).
3.3. NLQ3 , sinh ngày 05/12/2015 - con T1 (vắng mặt).
Người giám hộ đối với cháu T: Lê Thị Thu T1mẹ ruột.
Cùng địa chỉ: S C, KV B , P. K, Q. N, TP. Cần Thơ.
4. Người kháng cáo: ông Thanh H1, Thị Thu T1, Thị Thanh
T là người kế thừa tố tụng của bị đơn ông B.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Nguyên đơn ông L - đại diện hợp pháp là ông T trình bày nội dung
yêu cầu khởi kiện như sau: Nguyên trước đây ông ngoại của ông Nguyễn Hoàng L
ông Huỳnh Xuân N cho ông Đình B mượn đất cất nhà trên phần đất của
ông ngoại ông Nguyễn Hoàng L. Cho đến năm 1992 ông Nghi mất, mẹ ông L là bà
Huỳnh Thị Đ được hưởng thừa kế phần đất trên đã chuyển tặng cho một phần
quyền sử dụng phần đất cho ông Nguyễn Hoàng L. Trước đó ông B có cam kết với
ông ngoại ông Nguyễn Hoàng L và Điều sau khi đất cất nhà thì ông
Đình B trả lại phần đất cho ông L. Đến nay ông Đình B đất nhưng không di
dời để trả lại phần đất trên như ông đã cam kết với địa phương tại biên bản hòa giải
ở địa phương ngày 21/9/2007. Ông Nguyễn Hoàng L đã nhiều lần yêu cầu gia đình
ông B trả lại phần đất của ông L nhưng ông vẫn chưa trả cố tình chiếm dụng
phần đất trên. Dù được hòa giải ở phường nhiều lần nhưng không thành. Trong quá
trình giải quyết, a án đã tiến hành thẩm định định giá tài sản tranh chấp,
nguyên đơn đồng ý với kết quả đo đạc kết quả định giá của Công ty thẩm định
giá Việt - Nhật. Do ông B và bà H mất nên nguyên đơn yêu cầu những người thừa
kế quyền nghĩa vụ tố tụng của ông B H gồm Thị Thu T1, Thị
Thanh T, Thanh H1 (các con ông B) những người trên phần đất 02
người con của bà T1 trả lại tr li phn đất gia đình nguyên đơn đã cho gia đình
b đơn nh vi din tích thc tế 48.4m
2
ti v t (A) thuc tha đt s 110
theo Bản tch đo đa cnh s 51/TTKTTNMT ny 16/4/2021 ca Trung tâm
K thut i ngun và Môi tng NLQ1 do ông Nguyn Hoàng L đã đưc
NLQ1 cp giy chng nhn quyn s dụng đất s CS18039 ngày 22/8/2017.
3
*Trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, những người kế thừa quyền
nghĩa vụ tố tụng của bđơn ý kiến yêu cầu phản tố như sau: B đơn không
đồng ý u cu khi kin ca nguyên đơn do phn đất ngun đơn u cu pa
ông Đình B nhận nhượng li ca ông Hunh Xuân N t năm 1985 vi s tin
250.000 đng (có m giy tay) và gia đình b đơn đã xây n t đó cho đến
nay. Vic NLQ1 cp giy chng nhn quyn s dng đt cho ông Nguyn
Hoàng L trong khi gia đình b đơn hoàn toàn kng biết, vic cp giy chng
nhận cho nguyên đơn là trái quy đnh pháp lut. B đơn đng ý vi kết qu đo
đạc và đnh giá, kng ý kiến gì tm. Các b đơn yêu cu phn t đ ngh
ng nhận cho gia đình b đơn phần đt din tích 48.4m
2
, ti v t (A) thuc
tha đt s 110 yêu cu hy giy chng nhn quyn s dng đt s CS18039
ngày 22/8/2017 do NLQ1 cp cho ông Nguyn Hoàng L.
*Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
NLQ1 ý kiến: về trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
số 87. QSDĐ, cấp ngày 15/10/1990 cho ông Huỳnh Xuân N: NLQ1 không lưu trữ
hồ cấp giấy chứng nhận quyền sdụng đất số 87. QSDĐ, cấp ngày 15/10/1990
cho ông Huỳnh Xuân N tại thửa đất số 260, tờ bản đồ số 01, diện tích 3346m
2
(vườn) tọa lạc tại xã B, thành phố Cần Thơ, tỉnh Hậu Giang (cũ).
Về trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS18039 cấp
ngày 22/8/2017 cấp cho ông Nguyễn Hoàng L: Ngày 18/01/2017 ông Nguyễn Văn
H2 sinh năm 1962, CMND s 360057559 Huỳnh Thị Đ sinh năm 1956,
CMND s360133107 cùng ngụ tại khu vực B, phường K, quận N đơn đề nghị
đăng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần diện tích đang sử
dụng. Thửa đất được Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai quận N đo đạc hiện
trạng gồm các thửa 23, 96, 97, thuộc tờ bản đồ số 55, tổng diện tích 856m
2
(150m
2
ODT + 706m
2
CLN). Về nguồn gốc sử dụng đất được Uỷ ban nhân dân phường K
xác nhận của cha Huỳnh Xuân N mẹ Phan Thị M cho con Huỳnh Thị Đ cất
nhà từ năm 1979, sử dụng ổn định không tranh chấp đến nay, lập phiếu lấy ý
kiến của các hdân trú cùng thời điểm sử dụng thửa đất trên. Việc niêm yết
công khai kết quả kiểm tra hồ đăng cấp giấy chứng nhận đối với thửa đất
trên theo quy định.
Hồ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài
sản khác gắn liền với đất của ông Nguyễn Văn H2 và bà Huỳnh Thị Đ được phòng
Tài nguyên Môi trường quận N kiểm tra và Tờ trình số 52/AK/TTr.PTNMT
ngày 21/4/2017 trình Uỷ ban nhân dân quận N xem xét. Ngày 25/4/2017 ông
Nguyễn Văn H2 Huỳnh Thị Đ được Uỷ ban nhân dân quận N cấp các
giấy chứng nhận quyền sdụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền
4
với đất số CH 17278, CH 17279, CH 17280.
Ngày 28/7/2017 ông Nguyễn Văn H2 Huỳnh Thị Đ lập hợp đồng tặng
cho một phần diện tích thửa đất cho ông Nguyễn Hoàng L, hợp đồng được Văn
phòng Công chứng ABC công chứng ngày 28/7/2017 số công chứng 9778, quyền
số 01/2017/TP/CC-SCC/HĐGD. Thửa đất tặng cho được tách từ thửa đất số 97,
cập nhật thửa đất mới thành thửa 110, diện tích 185m
2
(88,8m
2
ODT + 96,2m
2
CLN).
Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai quận N kiểm tra hồ đầy đủ thủ tục,
lập Phiếu chuyển thông tin địa chính số 1211/5 ngày 02/8/2017 gửi Chi cục Thuế
quận N để xác định nghĩa vụ tài chính.
Sau khi chủ sử dụng hoàn thành nghĩa vtài chính Chi nhánh Văn phòng
Đăng đất đai quận N viết giấy chứng nhận trình hồ sơ cấp giấy chứng nhận
đến NLQ1 cấp giấy chứng nhận quyền sdụng đất quyền sở hữu nhà tài sản
khác gắn liền với đât số CS18039, cấp ngày 22/8/2017 cho ông Nguyễn Hoàng L,
sinh năm 1995, CMND số 362375898, thuộc thửa đất số 110, tờ bản đồ số 55, diện
tích 185m
2
(88,8m
2
ODT + 96,2m
2
CLN), tọa lạc tại khu vực 6, quốc lộ 91B, P. K,
Q. N. Phần diện tích đất còn lại được Chi nhánh Văn phòng Đăng đất đai quận
N cập nhật biến động theo quy định.
Trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn
Hoàng L được thực hiện đúng theo quy định tại Điều 79, Nghị định số 43/2014
ngày 15/5/2014 của Chính phủ khoản 2, Điều 9 Thông số 24/2014/TT-
BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài Nguyên và Môi trường.
*Vụ việc hòa giải không thành nên được đưa ra xét xthẩm công khai.
Tại bản án thẩm số 201/2022/DS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2022 của Tòa án
nhân dân quận N xét xử và quyết định như sau:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng L.
Buộc Thị Thu T1, ông Thanh H1, Thị Thanh T 02 người
con của bà T1 gồm NLQ2 và cháu Lê Anh Thư đang sinh sống tại căn nhà và phần
đất tranh chấp có trách nhiệm tr cho nguyên đơn ông Nguyn Hoàng L phần đt
din tích 48.4m
2
ti v trí (A), thuc tha đt s 110 theo Bn tch đo đa
chính s 51/TTKTTNMT ny 16/4/2021 ca Trung m K thut i ngun
Môi tng - Chiếu theo Giy chng nhn quyn s dụng đt s CS18039
ngày 22/8/2017 do NLQ1 cp cho ông Nguyn Hoàng L đng tên s dng.
2. Kng chp nhn u cu phn t ca Thị Thu T1, ông Thanh
H1 Thị Thanh T v vic yêu cu công nhn quyn s dụng đất đi vi
phần đt din ch 48.4m
2
ti v t (A), thuc thửa đt s 110 u cu hy
5
Giy Giy chng nhn quyn s dụng đt s CS18039 ny 22/8/2017 do NLQ1
cp cho ông Nguyn Hoàng L đứng tên s dng.
3. Ghi nhn việc nguyên đơn t nguyn tr cho b đơn giá tr ng tnh
trên đt vi s tiền 53.076.800 đng. Lê Thị Thu T1, ông Lê Thanh H1, bà Lê
Thị Thanh T, NLQ2 và cháu Anh Thư được quyền lưu cư trong thời gian 03
tháng ktừ ngày bản án hiệu lực pháp luật phải di dời giao trả nhà đất nêu
trên cho nguyên đơn.
4. Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí dân sự, chi phí định giá quyền
kháng cáo của các đương sự.
*Ngày 07 tháng 10 năm 2022, các ông bà T1, Thanh H1, Thanh T kháng cáo
với yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử hủy giấy đất cấp cho ông L công nhận
đất tranh chấp cho các ông, bà.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Đại diện nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện không đồng ý
kháng cáo của bị đơn.
- Các ông, bà T1, Thanh H1, Thanh T vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa phúc thẩm:
-Về tố tụng: Người tham gia ttụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện
đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm.
-Về nội dung: Qua tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm xem xét các chứng
cứ có trong hồ sơ, thấy rằng, phần đất có nguồn gốc của ông Nghi là ông ngoại ông
L, cho ông B ở, ông B nói chuyển nhượng từ ông Nghi cung cấp giấy tay nhưng
giấy bị mối mọi ăn không thể hiện rõ, không có công chứng chứng thực nên chữ ký
không xác định phải chữ ông Nghi hay không. Năm 1991, Điều con
ông Nghi yêu cầu ông B trả đất, ông B nói ch strả hoặc Điều hỗ trợ
thì ông di dời, đến m 2007 tphía nguyên đơn tranh chấp tại phường hòa
giải ông B đồng ý trả lại đất nhưng với điều kiện bà Điều phải hỗ trcho ông, từ
đấy xác định ông B thừa nhận đất của ông Nghi cho ông nhờ nay phía nguyên
đơn được cấp giấy, quy trình cấp giấy phù hợp pháp luật nên yêu cầu nguyên đơn
là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Việc vắng mặt nguyên đơn, các kế thừa tố tụng bị đơn nhưng
có người đại diện nên tiến hành xét xử quyết vắng mặt các đương sự theo quy định.
[2] Xét kháng cáo của người kế thừa tố tụng của bị đơn:
[2.1] Qua xem xét các chứng cứ trong hồ diễn biến tranh tụng tại
phiên tòa phúc thẩm hôm nay, sở xác định: nguồn gốc đất của ông Huỳnh
6
Xuân N, các bên đương sự đều thừa nhận. Theo hthể hiện đất này ông Nghi
được cấp quyền sử dụng năm 1990.
[2.2] Tuy nhiên, phía các bị đơn cho rằng đất này thì ông B đã nhận chuyển
nhượng của ông Nghi vào năm 1985 với giá 250.000 đồng, có giấy tay phía bị đơn
cung cấp (bút lục 76), qua xem xét giấy tay chuyển nhượng thấy rằng, giấy hiện
nay đã bị mối mọt ăn không còn nguyên vẹn, không thể hiện diện tích đâu,
nếu như theo bị đơn cho rằng chính diện tích đất đang tranh chấp thì giấy tay chỉ
chữ ông Nghi, phía nguyên đơn không thừa nhận là chữ ông Nghi, giấy
tay không công chứng, chứng thực hay người làm chứng nên không sở
xác định phải chữ ông Nghi hay không, do đó, không sở xác định
việc chuyển nhượng đất tranh chấp từ ông Nghi cho ông B.
[2.3] Thực tế phía ông B sử dụng từ năm 1985 nhưng theo nguyên đơn xác
định là cho ở nhờ là có căn cứ bởi các lẽ sau, năm 1991 phía bà Điều có đi đòi ông
B trả lại phần đất ra chính quyền địa phương, ngày 10/11/1992, Ủy ban xã An Bình
ra thông báo kết quả giải quyết đơn s34/TB.AB.92 với nội dung đề nghị gia đình
ông Nghi cho ông B ở khi nào ông B tìm được chỗ mới thì trả lại cho ông Nghi, bà
Điều. Bên cạnh đó, tại biên bản hòa giải phường K ngày 21/9/2017 giữa bà Điều
và ông B, bà Điều đòi phần đất và hỗ trợ cho gia đình ông B 10.000.000 đồng, phía
ông B đồng ý di dời trả đất với điều kiện khi nào tìm được đất khác bà Điều
phải hỗ trợ 40.000.000 đồng. Qua đó, cho thấy ý chí của ông B khi còn sống cũng
xác định ông Nghi cho sẽ dời nếu như đất khác Điều htrợ tiền.
Mặt khác, phía ông B cho rằng mình nhận chuyển nhượng tlại không yêu cầu
ông Nghi và bà Điều làm thủ tục đăng ký khai để được cấp giấy trong thời gian
rất dài, nếu cho rằng mình chuyển nhượng thì tất nhiên ai cũng sẽ đi đăng để
được cấp quyền sử dụng, phía các thừa kế bị đơn cho rằng không có tiền để làm và
kéo dài đến hôm nay là không thể chấp nhận được.
[2.4] Phần đất tranh chấp hiện ông Nguyễn Hoàng L đứng tên sử dụng
nguồn gốc từ việc nhận tặng cho ngày 18/01/2017 từ ba mẹ của ông là ông Nguyễn
Văn H2 bà Huỳnh Thị Đ. Hồ gồm: Đơn đề nghị đăng cấp giấy chứng
nhận quyền sdụng đất đối với phần diện tích đang sử dụng. Thửa đất được Chi
nhánh Văn phòng đăng đất đai quận N đo đạc hiện trạng gồm các thửa 23, 96,
97, thuộc tờ bản đồ số 55, tổng diện tích 856m
2
(150m
2
ODT + 706m
2
CLN). Về
nguồn gốc sdụng đất được Uỷ ban nhân dân phường K xác nhận của cha Huỳnh
Xuân N và mẹ Phan Thị Mạnh cho con là bà Huỳnh Thị Đ cất nhà từ năm 1979, sử
dụng ổn định không tranh chấp đến nay, lập phiếu lấy ý kiến của các hộ dân
trú cùng thời điểm sử dụng thửa đất trên. Việc niêm yết công khai kết quả kiểm tra
hồ đăng cấp giấy chứng nhận đối với thửa đất trên theo quy định. Hồ cấp
7
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền shữu nhà tài sản khác gắn liền
với đất của ông Nguyễn Văn H2 và bà Huỳnh Thị Đ đúng quy định.
Ngày 28/7/2017, ông Nguyễn Văn H2Huỳnh Thị Đ lập hợp đồng tặng
cho một phần diện tích thửa đất cho ông Nguyễn Hoàng L được Văn phòng Công
chứng ABC công chứng ngày 28/7/2017. Thửa đất tặng cho được tách từ thửa đất
số 97, cập nhật thửa đất mới thành thửa 110, diện tích 185m
2
(88,8m
2
ODT +
96,2m
2
CLN). Ngày 22/8/2017, NLQ1 cấp giấy chứng nhận cho ông Nguyễn
Hoàng L đứng tên quyền sử dụng đất đối với thửa 110. Nhận thấy, từ khi gia đình
nguyên đơn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đến khi nguyên đơn
khởi kiện phía bị đơn không ý kiến hay khiếu nại về việc cấp giấy chứng
nhận quyền sdụng đất cho nguyên đơn cũng không quyết định nào thu hồi
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên, phía bị đơn cho rằng không hay biết
không đúng bởi khi cấp giấy cho ông L hồ sơ thể hiện đo đạc thực tại phần
đất tranh chấp (bút lục 262). Như vậy, trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất cho ông Nguyễn Hoàng L được thực hiện đúng theo quy định pháp
luật đất đai. Phía bị đơn không chứng minh việc sang nhượng từ gia đình
nguyên đơn nên yêu cầu khởi kiện cũng như kháng cáo công nhận phần đất và hủy
giấy chứng nhận cấp cho ông L là không có cơ sở chấp nhận.
[3] Với những nhận định trên nên đnghị của đại diện Viện kiểm t
căn cứ đúng quy định. Tòa án cấp sơ thẩm đánh giá chứng cứ chấp nhận yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn là chính xác nên giữ nguyên.
[4] Về chi phí tố tụng: giữ nguyên như án sơ thẩm quyết định.
[5] Về phần án p:
[5.1] Sơ thẩm: giữ nguyên như án sơ thẩm.
[5.2] Phúc thẩm: kng cáo của các bị đơn không được chấp nhận phải chịu
án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
*Căn cứ: - Khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội.
*Tuyên xử:
1. Không chấp nhận kháng cáo của các ông bà Lê Thanh H1, Lê Thị Thu T1,
Lê Thị Thanh T.
2. Giữ nguyên bản án dân sự thẩm số 201/2022/DS-ST ngày 28 tháng 9
năm 2022 của Tòa án nhân dân quận N.
8
3. Về án phí dân sự phúc thẩm: các ông Lê Thanh H1, Thị Thu T1,
Thị Thanh T mỗi người phải chịu 300.000 đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí
đã nộp theo các biên lai thu số 0000101, 0000099, 0000102 ngày 10/10/2022 của
Chi cục Thi hành án dân sự quận N.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b 9 Luật
Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND TPCT;
- TAND Q. N;
- Chi Cục THADS Q. N;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
ã ký)
Hà Thị Phương Thanh
Tải về
212_2023_DS-PT_ CAN THO 212_2023_DS-PT_ CAN THO

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

212_2023_DS-PT_ CAN THO 212_2023_DS-PT_ CAN THO

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất