Bản án số 21/2026/HNGĐ-ST ngày 15/07/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 21/2026/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 21/2026/HNGĐ-ST ngày 15/07/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 6 - Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang
Số hiệu: 21/2026/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 15/07/2026
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: 1. Nguyên đơn
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 21/2026/HNGĐ-ST Bản án số 21/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 21/2026/HNGĐ-ST Bản án số 21/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Khánh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Triệu Tiến Quang;
2. Bà Triệu Thị Liên.
Thư ký phiên tòa: Ông Lò Là Cáo – Thư ký viên Tòa án nhân dân Khu
vực 6 - Tuyên Quang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 - Tuyên Quang tham gia
phiên toà:Bà Nguyễn Thị Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 15/07/2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Tuyên Quang xét
xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 46/2026/TLST-HNGĐ ngày
13/03/2026 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ
án ra xét xử số: 21/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 08/6/2026, Quyết định hoãn
phiên toà số: 15/2026/QĐST-HNGĐ ngày 29/6/2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Vương Thị Kh, sinh năm 1995; địa chỉ: Thôn N, xã T, tỉnh
Tuyên Quang; Vắng mặt có lý do;
2. Bị đơn: Anh Vương Văn Đ, sinh năm 1994; địa chỉ: Thôn N, xã T, tỉnh
Tuyên Quang; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 09/03/2026, bản tự khai ngày 20/03/2026 và quá
trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Vương Thị Kh trình bày:
Chị Vương Thị Kh và anh Vương Văn Đ tự nguyện tìm hiểu, yêu thương
nhau được bố mẹ hai bên đồng ý chấp nhận cho lấy nhau, vợ chồng chị Kh, anh
Đ đăng ký kết hôn ngày 13/01/2014 tại Uỷ ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Hà
Giang (Nay là Uỷ ban nhân dân xã T, tỉnh Tuyên Quang). Sau khi kết hôn vợ
chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì anh chị bắt đầu xảy ra
nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do tính cách cả hai không hợp nhau, không có
tiếng nói chung trong cuộc sống hàng ngày, dần dần tình cảm trở nên xa cách và
hai vợ chồng đi làm ăn xa nhau dẫn đến không còn tình cảm. Vợ chồng chị Kh,
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6 – TUYÊN QUANG
Bản án số: 21/2026/HNGĐ-ST
Ngày 15/7/2026
V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
anh Đ đã ly thân được một thời gian dài và không còn quan tâm đến nhau nữa.
Nay chị Kh cảm thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không
đạt được, vì vậy chị Kh đề nghị Toà án cho chị Kh được ly hôn với anh Vương
Văn Đ.
Về con chung: Chị Vương Thị Kh và anh Vương Văn Đ có với nhau một
đứa con chung tên là Vương Ngọc K, sinh ngày 04/6/2015. Vợ chồng ly hôn, chị
Kh đề nghị giao cháu Vương Ngọc K, sinh ngày 04/6/2015 cho anh Vương Văn
Đ là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Vương Ngọc K cho đến khi cháu
K đủ 18 tuổi. Chị Kh không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, về công nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không đề nghị
Toà án giải quyết.
Do tính chất công việc nên chị không tham gia phiên tòa xét xử vụ án Hôn
nhân gia đình giữa chị và anh Vương Văn Đ được nên chị Kh có gửi đơn xin xét
xử vắng mặt đến Tòa án với nội dung như sau, chị Kh có thay đổi về phần cấp
dưỡng nuôi con chung, hàng tháng chị Kh sẽ cấp dưỡng nuôi con chung là cháu
Vương Ngọc K, sinh ngày 04/6/2015 là 1.000.000 đồng (Một triệu đồng)/tháng
cho đến khi cháu K đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung, công nợ chung: Vợ chồng anh chị tự thỏa thuận không đề
nghị Tòa án giải quyết.
* Đối với bị đơn anh Vương Văn Đ: Tại biên bản xác minh ngày
30/03/2026 tại thôn N, xã T, tỉnh Tuyên Quang với ông Vương Văn C – Trưởng
thôn, thôn N, xã T, tỉnh Tuyên Quang và ông Vương Văn V là bố đẻ của anh Đ
thì được biết anh Vương Văn Đ không có mặt tại nhà ở thôn N, xã T, tỉnh Tuyên
Quang, ông V cho biết hiện nay anh Đ đi làm ăn xa không ở nhà, khi đi anh Đ
không báo với bố của anh Đ là hiện nay anh Đ đang ở đâu và làm gì. Nên việc
Toà án tống đạt các văn bản của Toà án cho anh Đ thì anh Đ không nhận được.
Khi trao đổi với ông Vương Văn V, là bố đẻ của anh Vương Văn Đ. Ông V đồng
ý nhận thay các văn bản của Toà án gửi đến và cam kết sẽ giao lại tận tay cho anh
Đ và liên lạc với anh Đ ngay lập tức để anh Đ kịp thời biết được và thực hiện
quyền và nghĩa vụ của mình. Còn việc anh Đ có đến Toà án làm việc hay không
thì ông V không biết và anh Đ không nói gì với ông. Biên bản làm việc giữa ông
V với Tòa án có sự chứng kiến của ông Vương Văn C – Trưởng thôn, thôn N, xã
T, tỉnh Tuyên Quang.
Tại biên bản xác minh ngày 30/03/2026 với Công an xã T, tỉnh Tuyên
Quang và ông Vương Văn C – Trưởng thôn, thôn N, xã T, tỉnh Tuyên Quang xác
nhận hiện anh Vương Văn Đ vẫn còn hộ khẩu thường trú trên địa bàn thôn N, xã
T, tỉnh Tuyên Quang, chưa thực hiện cắt, chuyển khẩu đi nơi khác và hiện nay
anh Đ đang đi làm ăn xa, không có mặt tại địa phương. Khi đi anh Đ không khai
báo với Công an xã và thôn nên Công an xã và thôn không nắm được hiện anh
Đ đang ở đâu và làm công việc gì. Trong quá trình hai vợ chồng chung sống với
nhau có xảy ra mâu thuẫn dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn.
Tại Biên bản xác minh với ông Vương Văn V và bà Lù Thị S là bố mẹ đẻ
3
của anh Đ ngày 30/03/2026 thì ông bà cho biết anh Đ và chị Kh có đăng ký kết
hôn vào ngày 13/01/2014 tại UBND xã T, huyện H, tỉnh Hà Giang và được hai
bên gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán địa phương. Sau khi kết
hôn, anh Đ và chị Kh về chung sống với ông V, bà S tại nhà riêng ông bà ở thôn
N, xã T, tỉnh Tuyên Quang. Trong quá trình hai vợ chồng về chung sống với
nhau thời gian đầu cuộc sống hạnh phúc và hoà thuận được 03 năm thì anh Đ
một mình đi làm ăn ở xung quanh huyện và tỉnh, thường xuyên trở về nhà, đến
năm 2018 thì anh Đ về đưa cả chị Kh đi vào miền Nam làm ăn ít khi quay trở về
nhà, thời gian đó vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn dẫn đến mỗi người một nơi
không chung nơi làm việc và nơi ở. Nguyên nhân là do bất đồng về quan điểm
sống, không có tiếng nói chung trong cuộc sống và công việc khác nhau. Ông V
và bà S cũng cho biết hiện nay anh Đ và chị Kh đều không có mặt tại nhà, mỗi
người một nơi. Mỗi lần anh Đ về nhà đều không nói cho ông bà biết về công
việc và nơi ở cụ thể của anh. Còn chị Kh ít khi quay trở về nhà chồng, chủ yếu
về nhà ngoại nên ông bà không nắm rõ. Qua thông tin của anh Đ và chị Kh cung
cấp thì hiện tại hai anh chị không còn ở với nhau nữa, mỗi người môt nơi, không
ai quan tâm đến hay hỏi han nhau gì và đã ly thân nhau được hơn bốn năm nay.
Ông bà cho biết anh Đ không biết chị Kh hiện đang ở đâu và làm gì, hai vợ chồng
đã không liên lạc và không quan tâm nhau được một thời gian dài và chị Kh
cũng không biết anh Đ ở đâu và làm công việc gì. Mỗi lần anh Đ quay trở về
nhà không có chị Kh về cùng và ngược lại. Về con chung, ông bà cho biết anh
chị có một con chung là cháu Vương Ngọc K, sinh ngày 04/6/2015 hiện nay cháu
K đang ở với ông bà, do ông bà chăm sóc. Quan điểm của ông V và bà S về hôn
nhân và con chung như sau: Về hôn nhân, ông bà đồng ý cho anh chị ly hôn vì
hiện tại anh chị đã không còn ở với nhau nữa, mỗi người một nơi, không còn quan
tâm và yêu thương nhau. Về con chung ông bà đề nghị giao cháu Vương Ngọc K,
sinh ngày 04/6/2015 cho anh Đ là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo
dục các cháu K cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Về việc chăm sóc các cháu giúp anh
Đ và chị Kh là tự nguyện, nên bà không có yêu cầu gì. Ông bà hiện nay vẫn đảm
bảo sức khoẻ hỗ trợ anh Đ chăm sóc các cháu. Trường hợp anh Đ được nuôi dưỡng
cháu K, anh Đ có đi làm ăn xa thì ông bà vẫn hỗ trợ, giúp đỡ anh Đ chăm sóc
cháu. Trong quá trình đi làm, anh Đ thường gọi điện về cho ông bà để hỏi thăm
tình hình của con và ông bà, gửi tiền về cho ông bà để chăm sóc cháu đều đặn, thi
thoảng anh Đ vẫn trở về nhà để thăm con và ông bà. Ông V và bà S hiện có nhà
cửa, nơi ở kiên cố và ổn định, đảm bảo sức khoẻ trong việc giúp đỡ anh Đ chăm
sóc cháu K. Do anh Đ đi làm ăn xa, mà anh Đ không nói cho ông bà biết hiện anh
Đ đang ở đâu và làm gì nên ông bà không biết địa chỉ của anh Đ, nên ông V và bà
S đồng ý nhận thay các văn bản tố tụng của Toà án gửi đến cho anh Đ và thông
tin lại cho anh Đ biết ngay lập tức để anh Đ kịp thời biết được và thực hiện quyền
và nghĩa vụ của mình.
Do cháu Vương Ngọc K đã đủ 07 (Bảy) tuổi trở lên nên Toà án tiến hành
ghi ý kiến nguyện vọng con chung. Tại biên bản về việc ghi ý kiến nguyện
vọng con chung ngày 30/03/2026 đối với cháu Vương Ngọc K, sinh ngày
04/6/2015 thì cháu K cho biết trường hợp bố mẹ cháu ly hôn thì cháu mong
4
muốn được ở bố cháu là anh Vương Văn Đ.
Tại biên bản xác minh ngày 30/03/2026 với cô giáo chủ nhiệm của cháu
Vương Ngọc K thì hiện nay cháu K học tại trường PTDT Bán trú Tiểu học và
THCS T, xã T, tỉnh Tuyên Quang. Cháu đi học đầy đủ và đúng giờ, không bỏ
học tự do, sáng được bà Coi đưa đi vào chiều đón về. Sức khoẻ của cháu ổn định,
không có biểu hiện trầm cảm, tự ti. Thỉnh thoảng anh Đ vẫn liên lạc với các cô
chủ nhiệm để hỏi thăm tình hình sức khỏe và học tập của cháu.
Tại biên bản xác minh ngày 30/03/2026 với ông Vương Văn Đ và bà Vương
Thị D là bố, mẹ đẻ của chị Kh thì ông, bà cho biết anh Đ và chị Kh có đăng ký
kết hôn vào ngày 13/01/2014 tại UBND xã T, huyện H, tỉnh Hà Giang và được
hai bên gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán địa phương. Sau khi
kết hôn, anh Đ và chị Kh về chung sống với ông Vương Văn V và bà Lù Thị S
là bố mẹ đẻ của anh Đ tại nhà riêng ở thôn N, xã T, tỉnh Tuyên Quang. Trong
quá trình hai vợ chồng về chung sống với nhau thì có đi làm ăn xa nhà và xảy ra
mâu thuẫn, dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn. Nguyên nhân là do bất đồng
về quan điểm sống, không có tiếng nói chung trong cuộc sống. Ông, bà cho biết
hiện nay anh Đ và chị Kh không còn ở với nhau nữa mỗi người một nơi. Anh Đ
và chị Kh đều đi làm ăn xa nhà. Mỗi lần chị Kh đi làm về đều trở về nhà bố mẹ
đẻ và không trở về nhà chồng, anh chị đã không còn ở với nhau và đã ly thân
được hơn bốn năm nay. Quan điểm của ông bà về hôn nhân và con chung: Đồng
ý cho chị Kh và anh Đ ly hôn, về con chung thì tôn trọng ý kiến của chị Kh.
* Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 - Tuyên Quang
tham gia phiên tòa phát biểu về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử
(HĐXX), Thư ký Tòa án được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật về tố
tụng dân sự. Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 39 Bộ luật tố tụng dân
sự; các điều 51, 56, 81, 82, 83, 110, 116, 117 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;
điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý
và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày
16/5/2024 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ
việc về hôn nhân và gia đình: Đề nghị Toà án tuyên xử: Về hôn nhân: Chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của chị Vương Thị Kh. Đề nghị xử cho chị Vương Thị Kh được
ly hôn với anh Vương Văn Đ. Về con chung: Giao cho anh Vương Văn Đ là người
trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục Vương Ngọc K, sinh ngày 04/6/2015
cho đến khi cháu K đủ 18 tuổi. Chị Kh phải cấp dưỡng nuôi con chung hàng tháng
là 1.000.000đồng/tháng cho đến khi cháu K đủ 18 tuổi. Chị Kh, anh Đ có quyền
thăm nom con theo quy định của pháp luật. Về tài sản chung, công nợ chung:
Không đề nghị giải quyết nên không xem xét. Về án phí: Chị Vương Thị Kh được
miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra
tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
5
[1] Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật: Nguyên đơn chị Vương Thị Khcó
đơn khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” với bị đơn anh Vương
Văn Đ, anh Đ có hộ khẩu thường trú tại thôn N, xã T, tỉnh Tuyên Quang, theo quy
định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng
dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Tuyên
Quang.
[2] Về việc vắng mặt của các đương sự tại phiên tòa: Nguyên đơn chị
Vương Thị Kh có đơn xin xét xử vắng mặt với lý do đang bận công việc không
xin nghỉ để về tham gia phiên tòa được, nên chị Kh có đơn xin được giải quyết
vắng mặt.
[3] Bị đơn anh Vương Văn Đ được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng
vẫn vắng mặt không có lý do. Tòa án nhân dân Khu vực 6 – Tuyên Quang đã tiến
hành cấp, tống đạt, thông báo và thực hiện niêm yết các văn bản tố tụng của Toà
án theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự cho các đương sự và tiến hành
giải quyết, xét xử vụ án theo thủ tục chung. Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều
228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn chị Vương Thị
Kh và bị đơn anhVương Văn Đ là có căn cứ.
[4] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án, lời khai
của nguyên đơn chị Vương Thị Kh, các biên bản xác minh với đại diện chính
quyền thôn, đại diện Công an xã T, tỉnh Tuyên Quang, người thân hai bên gia
đình chị Kh, anh Đ thấy rằng: Sau khi vợ chồng đăng ký kết hôn vào ngày
13/01/2014 tại UBND xã T, huyện H, tỉnh Hà Giang (Nay là Uỷ ban nhân dân
xã T, tỉnh Tuyên Quang), có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương
và chung sống với nhau tại nhà bố mẹ đẻ của anh Đ là ông Vương Văn V và bà
Lù Thị S. Trong thời gian anh chị chung sống xảy ra nhiều mâu thuẫn dẫn đến
cãi vã, đánh chửi nhau. Từ khoảng năm 2018 anh Đ và chị Kh đều không có mặt
tại địa phương và đi làm ăn xa, việc anh chị đi đâu, làm gì, ở đâu không báo lại
với thôn nắm được, từ đó đến nay không thấy anh chị cùng nhau quay trở về sinh
sống vun đắp hạnh phúc gia đình, lúc anh Đ về thì chị Kh không về và ngược
lại. Chị Kh, anh Đ trong thời gian đi làm ăn xa có gọi điện thoại về cho bố mẹ
tuy nhiên không hỏi han hay quan tâm gì đến người còn lại. Xét thấy vợ chồng
chị Kh, anh Đ đã sống ly thân nhau mà không còn thương yêu, quý trọng, chăm
sóc, giúp đỡ nhau; người nào biết bổn phận của người đó, không có sự liên lạc,
vun đắp, chia sẻ cùng nhau. Như vậy là cả hai vợ chồng đều vi phạm nghiêm
trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm
trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.
Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia
đình; điểm a khoản 3 Điều 4 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024
hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về
hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho
chị Vương Thị Kh được ly hôn với anh Vương Văn Đ là có cơ sở.
[5] Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng chị Kh, anh Đ có 01(Một)
con chung là cháu Vương Ngọc K, sinh ngày 04/6/2015. Qua xác minh Trưởng
6
thôn nơi chị Kh, anh Đ đăng ký hộ khẩu thường trú, người thân hai gia đình chị
Kh, anh Đ và các thầy, cô giáo chủ nhiệm của cháu K thì hiện nay cháu đang ở
cùng với ông bà nội và anh Đ. Cháu Vương Ngọc K có nguyện vọng được ở với
bố cháu là anh Đ. Mọi liên lạc giữa nhà trường nơi cháu K theo học đều do ông
bà cháu thay anh Đ thực hiện. Nguyên đơn chị Vương Thị Kh có yêu cầu giao
cháu K cho anh Vương Văn Đ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu. Hội
đồng xét xử thấy rằng việc giao cháu K cho anh Vương Văn Đ trực tiếp chăm sóc,
nuôi dưỡng là phù hợp với tình hình thực tế của các bên, hiện cháu đang sinh hoạt,
học tập và sinh sống ổn định với ông bà nội và anh Đ. Ngoài ra, anh Đ có nhà cửa
kiên cố, ổn định, có thu nhập đảm bảo cho việc sịnh hoạt, học tập của cháu; còn
chị Kh thì không có nơi ở, thu nhập ổn định nên không đảm bảo được việc nuôi
dưỡng và chăm sóc cháu. Xét thấy yêu cầu của chị Kh là hoàn toàn tự nguyện,
không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, phù hợp với nguyện
vọng của cháu K, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Về việc cấp dưỡng nuôi con: Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị
Vương Thị Kh có ý kiến là hàng tháng sẽ cấp dưỡng nuôi con chung cho cháu K
với mức 1.000.000 đồng (Một triệu đồng)/tháng. Xét thấy ý kiến đề nghị của chị
Kh là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc hay lừa dối, không vi phạm điều
cấm của luật, không trái đạo đức xã hội nên cần được Hội đồng xét xử ghi nhận.
Thời điểm và phương thức cấp dưỡng hàng tháng kể từ tháng 8/2026 cho đến khi
cháu K đủ 18 tuổi. Anh Đ trực tiếp nuôi con chung là người nhận tiền cấp dưỡng
cho cháu K. Việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con là không cố định. Các bên có
quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung và yêu cầu cấp dưỡng nuôi
con chung sau khi ly hôn.
[7] Về tài sản chung, công nợ chung và công sức đóng góp: Các bên không
yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần đề
cập xem xét, giải quyết trong vụ án này.
[8] Ý kiến, quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 -
Tuyên Quang tại phiên tòa là có căn cứ cần được chấp nhận.
[9] Về án phí: Chị Vương Thị Kh thuộc trường hợp đồng bào dân tộc thiểu
số ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án
phí nên được miễn toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng theo quy
định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[10] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Vương Thị Kh, bị đơn anh
Vương Văn Đ có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 của
Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản
3 Điều 208, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân
7
sự; điểm a khoản 3 Điều 4, khoản 1 Điều 6 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP
ngày 16/5/2024 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải
quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình; các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84, 110,
116, 117 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm đkhoản 1 Điều 12 Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ
phí Tòa án, xử:
1. Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Vương Thị Kh, xử cho chị
Vương Thị Kh được ly hôn với anh Vương Văn Đ.
2. Về con chung: Giao cho anh Vương Văn Đ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc,
giáo dục Vương Ngọc K, sinh ngày 04/6/2015 cho đến khi cháu K đủ 18 tuổi.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm
non con mà không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, vì quyền lợi
của con chung sau này một hoặc hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực
tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con là không cố định.
3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Công nhận sự tự nguyện của chị Vương
Thị Kh về việc cấp dưỡng nuôi con chung với số tiền là 1.000.000đồng (Một triệu
đồng)/tháng, thời điểm và phương thức cấp dưỡng hàng tháng, kể từ tháng 8/2026
cho đến khi cháu K đủ 18 tuổi. Anh Đ trực tiếp nuôi con chung là người nhận tiền
cấp dưỡng cho cháu K.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường
hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ
ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản
tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các
khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số
tiền gốc còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468
Bộ luật Dân sự.
4. Về tài sản chung, công nợ chung, công sức đóng góp: Tòa án không
xem xét, giải quyết.
5. Về án phí: Nguyên đơn chị Vương Thị Kh được miễn toàn bộ tiền án phí
ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng.
Bị đơn anh Vương Văn Đ không phải chịu án phí.
6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Vương Thị Kh, bị đơn anh
Vương Văn Đ vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn
15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định
của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 4, 6, 7 và 36 Luật thi
8
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 34
Luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Tuyên Quang;
- VKSND tỉnh Tuyên Quang;
- THADS tỉnh Tuyên Quang;
- VKSND Khu vực 6 – Tuyên Quang;
- UBND xã T, tỉnh Tuyên Quang;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
(Đã ký)
Nguyễn Trọng Khánh
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 21/2026/HNGĐ-ST Bản án số 21/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 21/2026/HNGĐ-ST Bản án số 21/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất