Bản án số 21/2020/KDTM-ST ngày 29/09/2020 của TAND huyện Gia Lâm, TP. Hà Nội về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 21/2020/KDTM-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 21/2020/KDTM-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 21/2020/KDTM-ST ngày 29/09/2020 của TAND huyện Gia Lâm, TP. Hà Nội về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp về mua bán hàng hóa |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Gia Lâm (TAND TP. Hà Nội) |
| Số hiệu: | 21/2020/KDTM-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 29/09/2020 |
| Lĩnh vực: | Kinh doanh thương mại |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN G
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Bản án số:21/2020/KDTM-ST
Ngày 29/9/2020
“V/v: Tranh chấp hợp đồng
mua bán hàng hóa”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:
Ông Cồ Khắc Đam
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Chấn
Bà Nguyễn Thị Nga
Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Đình Tuấn, Thư ký Toà án nhân dân huyện G,
thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G, thành phố Hà Nội tham gia
phiên tòa: Bà Vũ Thị Nhiên, Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện G, thành phố
Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Kinh doanh thương mại, thụ lý số
18/2020/TLST-KDTM ngày 07/7/2020, về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán
hàng hóa”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 94/2020/QĐST-KDTM ngày
04/9/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 147/2020/QĐST-KDTM ngày
22/9/2020, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Công ty cổ phần Sơn S
Trụ sở: Số 241 đường Đ, phường X, quận Y, TP Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đặng I G, chức vụ: Tổng giám đốc
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Tiến L, sinh năm 1982.
Trú tại: Thôn Đông, xã Q, huyện H, tỉnh Hải Dương.
Theo văn bản ủy quyền ngày 27/2/2020 của Tổng giám đốc Công ty cổ phần Sơn
S. (Có mặt tại phiên tòa).
* Bị đơn: Công ty cổ phần Lav
Trụ sở: Lô CN-D9-2, Cụm công nghiệp, xã N, huyện G, thành phố Hà Nội.
2
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Nhật A, chức vụ: Chủ tịch HĐQT
kiêm Tổng giám đốc công ty.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị T- chức vụ: Giám đốc điều hành
công ty theo văn bản ủy quyền ngày 04/9/2020 của Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng
giám đốc công ty cổ phần Lav.
(Có mặt tại phiên tòa).
* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Công ty cổ phần Lav: Luật
sư Lưu Văn Q- Văn phòng luật sư - Đoàn luật sư thành phố Hà Nội. (Có mặt tại
phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, các lời khai tại Tòa án, người đại diện theo ủy quyền
của Công ty cổ phần Sơn S trình bày:
Theo Hợp đồng mua bán hàng hóa số 094/2017/HĐMB/SNT-SNTMB ký
ngày 16/02/2017, phía công ty chúng tôi đã cung cấp đúng chủng loại, số lượng,
tiêu chuẩn chất lượng các loại sơn trang trí, bột trét tường, sơn chống thấm mang
nhãn hiệu LAVISSON và màu gốc Tintin cho Công ty cổ phần Lav(tên trước đây
là Công ty cổ phần sản xuất và thương mại S).
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty cổ phần Lav đã vi phạm thực
hiện nghĩa vụ thanh toán đối với Công ty cổ phần Sơn S tính đến ngày 30/6/2017
số tiền gốc là 1.307.419.228 đồng (Một tỷ ba trăm linh bảy triệu bốn trăm mười
chín nghìn hai trăm hai mươi tám đồng). Tại điều 5.3 của hợp đồng cả hai bên có
thỏa thuận “Phạt do chậm thanh toán thì số tiền bên Công ty cổ phần Lav phải
chịu lãi với mức lãi suất là 3%/tháng đối với số nợ chậm thanh toán” tính đến
ngày 04/9/2020 là 1.427.806.000(Một tỷ bốn trăm hai mươi bảy triệu tám trăm
linh sáu nghìn đồng), Như vậy, Công ty cổ phần Lav sẽ phải thanh toán cho công
ty chúng tôi tổng số tiền là 2.735.225.228 (Hai tỷ bảy trăm ba mươi lăm triệu hai
trăm hai mươi lăm nghìn hai trăm hai mươi tám đồng). Nay đề nghị Công ty cổ
phần Lav thanh toán toàn bộ số tiền gốc và lãi chậm thanh toán cho công ty
chúng tôi.
Về số nợ gốc và lãi chậm thanh toán có sai lệch so với đơn khởi kiện ban
đầu là do tính sai và lệch số liệu trong hồ sơ sổ sách mà công ty đã lưu giữ. Sau
khi trao đổi và đối chiếu lại sổ sách của hai bên nên có điều chỉnh lại và số tiền
nợ gốc và nợ lãi chậm thanh toán ở trên là chuẩn xác.
3
* Đại diện Công ty cổ phần Lav bà Nguyễn Thị T trình bày:
Theo Hợp đồng mua bán hàng hóa số 094/2017/HĐMB/SNT-SNTMB, phía
Công ty cổ phần Sơn S đã cung cấp đúng chủng loại, số lượng, tiêu chuẩn chất
lượng các loại sơn trang trí, bột trét tường, sơn chống thấm mang nhãn hiệu
LAVISSON và màu gốc Tintin cho Công ty cổ phần Lav(tên trước đây là Công
ty cổ phần sản xuất và thương mại S).
Theo thực tế mua bán hàng hóa giữa hai bên tính từ thời điểm 01/07/2017
đến nay thì số dư công nợ của Công ty cổ phần Sản xuất và Thương mại S (nay là
Công ty cổ phần Lav) không đúng như Công ty cổ phần Sơn S đã nêu trong đơn
khởi kiện.
Theo biên bản đối chiếu công nợ từ ngày 01/01/2017 đến 30/06/2017 có ký
xác nhận của Công ty cổ phần Sản xuất và Thương mại S (nay là Công ty cổ
phần Lav), thì số dư cuối kỳ là 1.501.492.731VNĐ (Bằng chữ: Một tỷ năm trăm
triệu đồng). Ngày 04/08/2017, Công ty chúng tôi đã thanh toán cho Công ty cổ
phần Sơn S số tiền là: 762.110.298 VNĐ (Bằng chữ: Bảy trăm sáu mươi hai triệu
một trăm mười nghìn hai trăm chín mươi tám đồng)(có chứng từ kèm theo). Từ
ngày 11/08/2017 đến 30/09/2020, có phát sinh thêm 6 đơn hàng với tổng số tiền
là: 568.036.795VNĐ (Bằng chữ: Năm trăm sáu mươi tám triệu không trăm ba
mươi sáu nghìn bảy trăm chín mươi lăm đồng). Cho đến nay, Công ty cổ phần
Sản xuất và Thương mại S (nay là Công ty cổ phần Lav) còn nợ Công ty cổ phần
S số tiền là 1.307.419.228 VNĐ (Một tỷ ba trăm lẻ bảy triệu bốn trăm mười chín
nghìn hai trăm hai mươi tám đồng) chứ không phải 1.501.492.731 VNĐ (Bằng
chữ: Một tỷ năm trăm lẻ một triệu bốn trăm chín mươi hai nghìn bảy trăm ba
mươi mốt đồng).
Hai công ty cổ phần Sonata đã đối chiếu và điều chỉnh số nợ gốc mà Công
ty cổ phần Lav còn nợ số tiền là 1.307.419.228 VNĐ (Một tỷ ba trăm lẻ bảy triệu
bốn trăm mười chín nghìn hai trăm hai mươi tám đồng) là hoàn toàn chuẩn xác.
Theo Hợp đồng mua bán hàng hóa số 094/2017/HĐMB/SNT-SNTMB mà
hai công ty đã ký kết thì Công ty cổ phần Lav xác nhận đã chậm thanh toán từ
thời điểm 30/6/2017 cho đến nay.
* Về vi phạm hợp đồng:
Căn cứ theo 094/2017/HĐMB/SNT-SNT MB (gọi tắt là Hợp đồng 094)
quy định về thanh toán và hạn mức công nợ như sau:
4
+ Tại mục 5.1 Điều 5 Hợp đồng 094 quy định: “Bên B cam kết thanh
toán tiền mua hàng cho bên A trong vòng 60 ngày kể từ ngày mua hàng/ngày của
Phiếu giao hàng hoặc xuất hóa đơn”.
+ Và tại mục 4.1 Điều 4 Hợp đồng số 094 thì hạn mức công nợ mà Công ty
cổ phần Sơn S đồng ý áp dụng đối với chúng tôi như sau:
“4.1 Hạn mức công nợ: Bên A và Bên B đã thống nhất và đồng ý áp dụng
hình thức công nợ cụ thể như sau.
4.1.1 Hạn mức công nợ Bên A đồng ý cấp cho Bên B là: 02 (hai)
container hàng hóa và đồng thời công nợ tối đa 1.500.000.000 VNĐ (Bằng chữ:
Một tỷ năm trăm triệu đồng).
4.1.2 Hạn mức công nợ nêu tại mục 4.1.1 của Điều 4, điều kiện nào đến
trước sẽ được Bên A áp dụng.”
Hạn mức công nợ được hiểu là mức công nợ không được vượt quá. Theo
như thỏa thuận trong hợp đồng thì Công ty cổ phần Sơn S đồng ý cho Công ty cổ
phần Sản xuất và Thương mại S (nay là Công ty cổ phần Lav) được dư nợ nhưng
không quá 1.500.000.000 VNĐ (Bằng chữ: Một tỷ năm trăm triệu đồng).
Như vậy, Công ty cổ phần Lav không vi phạm về nghĩa vụ thanh toán đối
với Công ty cổ phần Sơn S bởi số dư công nợ số tiền là: 1.307.419.228 VNĐ vẫn
nằm trong hạn mức công nợ được áp dụng cho công ty chúng tôi.
Mặt khác hiện nay, do tình hình hoạt động kinh doanh của Công ty cổ
phần Lav đang gặp nhiều khó khăn, Công ty sẽ bố trí thanh toán số tiền hàng
trong thời gian sớm nhất.
- Chúng tôi đề nghị được thanh toán cho Công ty cổ phần Sơn S số nợ gốc là
1.307.419.228 đồng trong thời hạn 10 tháng.
- Thời hạn bắt đầu thanh toán: Tháng 9/2020
- Số tiền thanh toán hàng tháng: 130.741.922 đồng.
* Về thời điểm phát sinh lãi do chậm thanh toán
Như nội dung đã nêu ở mục 1 trên thì Bên phía Công ty cổ phần Sơn S
đồng ý áp dụng hạn mức dư nợ cho chúng tôi là: 1.500.000.000 VNĐ và trong
các điều khoản của hợp đồng cũng không có điều nào đề cập đến thời hạn phải
thanh toán hạn mức công nợ này.
Và theo đối chiếu số liệu công nợ thực tế thì đến thời điểm này số dư
công nợ của Công ty cổ phần Sản xuất và Thương mại S (nay là Công ty cổ phần
5
Lav) tại Công ty cổ phần Sơn S là 1.307.419.228 VNĐ vẫn nằm trong hạn mức
công nợ được phép nên không có căn cứ để tính lãi đối với số tiền nói trên.
Theo Hợp đồng mua bán hàng hóa số 094/2017/HĐMB/SNT-SNTMB mà
hai công ty đã ký kết thì Công ty cổ phần Lav xác nhận đã chậm thanh toán từ
thời điểm 30/6/2017 cho đến nay.
Công ty cổ phần Lav chỉ chấp nhận phương án chịu phạt số tiền tương
ứng 8% giá trị phần vi phạm do chậm thanh toán theo đúng Luật thương mại.
* Tại phiên tòa:
- Công ty cổ phần Sơn S sau khi xem xét lãi suất quá hạn trên thị trường
nên có điều chỉnh lại yêu cầu về lãi suất chậm thanh thoán. Nay chỉ đề nghị phía
Công ty cổ phần Lav trả lãi suất chậm thanh toán là 14%/1năm của số nợ gốc
tương ứng với thời gian chậm thanh toán. Cụ thể như sau:
+ Ngày 17/6/2017, Công ty cổ phần Sơn S xuất bán hàng cho Công ty cổ
phần Lav với giá trị là 739.382.433đ. Tính đến ngày 29/9/2020, số ngày nợ là
1201 ngày. Sau khi trừ đi 60 ngày còn lại 1.141 ngày chậm thanh toán (03 năm
01 tháng 16 ngày). Số tiền lãi chậm thanh toán là 739.382.433đ x 14% x(03 năm
01 tháng 16 ngày) = 323.586.000 đồng.
+ Ngày 11/8/2017, Công ty cổ phần Sơn S xuất bán hàng cho Công ty cổ
phần Lav với giá trị là 567.396.815đ. Tính đến ngày 29/9/2020, số ngày nợ là
1146 ngày. Sau khi trừ đi 60 ngày còn lại 1086 ngày chậm thanh toán (02 năm 11
tháng 21 ngày). Số tiền lãi chậm thanh toán là 567.396.815đ x 14% x(02 năm 11
tháng 21 ngày) = 236.348.000 đồng.
+ Ngày 30/9/2017, Công ty cổ phần Sơn S xuất bán hàng cho Công ty cổ
phần Lav với giá trị là 639.980đ. Tính đến ngày 29/9/2020, số ngày nợ là 1096
ngày. Sau khi trừ đi 60 ngày còn lại 1036 ngày chậm thanh toán (02 năm 10
tháng 06 ngày). Số tiền lãi chậm thanh toán là 567.396.815đ x 14% x(02 năm 10
tháng 06 ngày) = 254.000đồng.
Như vậy, Công ty cổ phần Sơn S yêu cầu Công ty cổ phần Lav phải thanh
toán số tiền lãi chậm thanh toán tiền hàng là 560.188.000 đồng(Năm trăm sáu
mươi triệu một trăm tám mươi tám nghìn đồng).
Tổng số tiền gốc và lãi phải thanh toán là 1.867.607.228đ(Một tỷ tám
trăm sáu mươi bảy triệu sáu trăm linh bảy nghìn hai trăm hai mươi tám đồng).
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn trình bày:
6
+ Về số nợ gốc: Công ty cổ phần Lav xác nhận còn nợ Công ty cổ phần
Sơn S là 1.307.419.228 đồng(Một tỷ ba trăm lẻ bảy triệu bốn trăm mười chín
nghìn hai trăm hai mươi tám đồng).
+ Ngày chậm trả tiền gốc đúng với nội dung mà đại diện của Nguyên đơn
trình bày.
+ Việc Công ty cổ phần Sơn S yêu cầu tính lãi chậm trả là 14%/năm là
không có cơ sở. Tại mục 5.3 Điều 5 của Hợp đồng mua bán hàng hóa số
094/2017/HĐMB/SNT-SNTMB ngày 16/02/2017 mà hai công ty đã ký kết là
không phù hợp với quy định của pháp luật. Nên đề nghị HĐXX áp dụng: Điều 3,
Điều 4, Điều 301 Luật thương mại năm 2005 để xác định đây chỉ là vi phạm hợp
đồng nên chỉ phạt vi phạm là 8% trên tổng số tiền nợ gốc.
Đại diện VKSND huyện G tham gia phiên tòa, phát biểu quan điểm về
việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, Hội đồng xét xử sơ thẩm
và việc tuân theo pháp luật của các đương sự; Đồng thời đề xuất hướng giải quyết
vụ án như sau:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự:
+ Việc thụ lý vụ án của Tòa án là đúng thẩm quyền. Quá trình giải quyết
vụ án, Thẩm phán đã thực hiện việc giao thông báo của Tòa án cho các đương
sự, tiến hành các bước tố tụng đúng đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tuy nhiên thời hạn giải quyết vụ án đã quá thời hạn quy định.
+ Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ, đúng trình tự tố
tụng của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về đề xuất hướng giải quyết vụ án: Công ty cổ phần Sơn S và Công ty cổ
phần Lav là các doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh hợp pháp. Hai bên ký kết
Hợp đồng mua bán hàng hóa số 094/2017/HĐMB/SNT-SNTMB ký ngày
16/02/2017 hoàn toàn tự nguyện. Hàng hóa mua bán trong hợp đồng được phép
giao dịch, nội dung hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật. Vì vậy
hợp đồng có hiệu lực thi hành với các bên.
Căn cứ Hợp đồng mua bán hàng hóa số 094/2017/HĐMB/SNT-SNTMB
ký ngày 16/02/2017 giữa Công ty cổ phần S với Công ty cổ phần Sản xuất và
Thương mại S (nay là Công ty cổ phần Lav); Các đơn đề nghị thanh toán công
nợ, Bảng tính lãi do chậm thanh toán tiền mua hàng; Các Hóa đơn giá trị gia
tăng mà hai bên đã thừa nhận số nợ gốc. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều
7
50 Luật thương mại; khoản 1 Điều 30, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng
dân sự:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần Sơn S. Buộc Công ty
cổ phần Sản xuất và Thương mại S (nay là Công ty cổ phần Lav) phải thanh
toán trả số tiền hàng còn thiếu là 1.307.419.228 VNĐ (Một tỷ ba trăm lẻ bảy
triệu bốn trăm mười chín nghìn hai trăm hai mươi tám đồng).
Căn cứ Tại điều 5.3 của Hợp đồng mua bán hàng hóa số
094/2017/HĐMB/SNT-SNTMB ký ngày 16/02/2017cả hai bên có thỏa thuận
“Phạt do chậm thanh toán thì số tiền bên Công ty cổ phần Lav phải chịu lãi với
mức lãi suất là 3%/tháng đối với số nợ chậm thanh toán”. Xác nhận đây là thỏa
thuận tính lãi suất chậm trả của các bên đương sự. Tại phiên tòa phía đại diện
Công ty cổ phần Sơn S chỉ yêu cầu Công ty cổ phần Lav trả khoản tiền lãi chậm
trả với mức lãi suất thỏa thuận 14%/năm tính trên số nợ gốc đến ngày xét xử sơ
thẩm. Đây là yêu cầu phù hợp với quy định của pháp luật nên đề nghị HĐXX:
Buộc Công ty cổ phần Sản xuất và Thương mại S (nay là Công ty cổ phần Lav)
phải trả cho Công ty cổ phần Sơn S khoản tiền lãi chậm trả với mức lãi suất
thỏa thuận 14%/năm tính trên số nợ gốc đến ngày xét xử sơ thẩm.
Về án phí: Công ty cổ phần Lav phải chịu án phí Kinh doanh thương mại
sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra chứng
cứ tại phiên tòa. Sau phần hỏi và tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]Về tố tụng:
Công ty cổ phần Sơn S khởi kiện Công ty cổ phần Sản xuất và Thương mại
S (nay là Công ty cổ phần Lav) phải thanh toán khoản tiền mua các loại sơn
trang trí, bột trét tường, sơn chống thấm mang nhãn hiệu LAVISSON và màu gốc
Tintin còn thiếu và Lãi suất chậm trả theo Hợp đồng mua bán hàng hóa số
094/2017/HĐMB/SNT-SNTMB ký ngày 16/02/2017 và các Báo giá kiêm xác
nhận đơn hàng. Công ty cổ phần Lav có trụ sở đăng ký kinh doanh tại Lô CN-
D9-2, Cụm công nghiệp, xã N, huyện G, Hà Nội . Theo quy định tại khoản 1
Điều 30, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015: Đây là vụ án
Kinh doanh thương mại “Tranh chấp Hợp đồng mua bán hàng hóa”, thuộc thẩm
quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện G, thành phố Hà Nội.
[2]Về nội dung vụ án:
8
[2.1] Xét Hợp đồng mua bán hàng hóa số 094/2017/HĐMB/SNT-
SNTMB ký ngày 16/02/2017 giữa Công ty cổ phần Sơn S với Công ty cổ phần
Sản xuất và Thương mại S (nay là Công ty cổ phần Lav): Hai doanh nghiệp đều
có đăng ký doanh nghiệp hợp pháp, người ký kết hợp đồng là người đại diện
theo pháp luật, hợp đồng được ký kết tự nguyện. Hàng hóa mua bán trong hợp
đồng được phép giao dịch, nội dung hợp đồng không vi phạm điều cấm của
pháp luật. Vì vậy hợp đồng có hiệu lực thi hành với các bên.
[2.2] Xét yêu cầu đòi nợ số tiền hàng còn thiếu của Công ty cổ phần Sơn
S:
Tại Tòa án, các bên không tranh chấp về giá mua bán, số lượng, chất
lượng hàng hóa. Căn cứ các tài liệu, chứng cứ: Hợp đồng mua bán hàng hóa số
094/2017/HĐMB/SNT-SNTMB ký ngày 16/02/2017 giữa Công ty cổ phần Sơn
S với Công ty cổ phần Sản xuất và Thương mại S (nay là Công ty cổ phần Lav);
Các đơn đề nghị thanh toán công nợ, Bảng tính lãi do chậm thanh toán tiền mua
hàng; Các Hóa đơn giá trị gia tăng. Hội đồng xét xử xác định Công ty cổ phần
Sơn S đã thực hiện hợp đồng, bán cho Công ty cổ phần Lav các loại sơn trang
trí, bột trét tường, sơn chống thấm mang nhãn hiệu LAVISSON và màu gốc
Tintin. Còn 3 lô hàng Công ty cổ phần Lav chưa thanh toán cho Công ty cổ
phần Sơn S. Cụ thể: Ngày 17/6/2017 với giá trị hàng là 739.382.433đ; Ngày
11/8/2017 với giá trị hàng là 567.396.815đ; Ngày 30/9/2017 với giá trị hàng là
639.980đ. Với số tiền nợ này, sau 60 ngày kể từ ngày xuất bán hàng Công ty cổ
phần Lav phải thanh toán cho Công ty cổ phần Sơn S. Công ty cổ phần S đã
triết khấu cho Công ty cổ phần Lav theo như đã thỏa thuận. Công ty cổ phần
Lav cũng đã xác định đã nhận số tiền triết khấu là 52.000.000đồng(Năm mươi
hai triệu đồng). Như vậy, Công ty cổ phần Sản xuất và Thương mại S (nay là
Công ty cổ phần Lav) còn phải thanh toán trả số tiền hàng còn thiếu là
1.307.419.228đ(Một tỷ ba trăm lẻ bảy triệu bốn trăm mười chín nghìn hai trăm
hai mươi tám đồng). Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án hai bên đã thừa
nhận toàn bộ số tiền hàng chưa thanh toán là 1.307.419.228 đ(Một tỷ ba trăm lẻ
bảy triệu bốn trăm mười chín nghìn hai trăm hai mươi tám đồng). Căn cứ Điều
50 Luật thương mại 2005, việc Công ty cổ phần Sơn S khởi kiện Công ty cổ
phần Lav để yêu cầu thanh toán số tiền mua hàng còn thiếu là có căn cứ để chấp
nhận. Buộc Công ty cổ phần Lav phải thanh toán số tiền mua hàng còn thiếu
9
cho Công ty cổ phần Sơn S là 1.307.419.228 đồng (Một tỷ ba trăm lẻ bảy triệu
bốn trăm mười chín nghìn hai trăm hai mươi tám đồng).
[2.3] Xét yêu cầu của Công ty cổ phần Sơn S, về việc buộc Công ty cổ
phần Lav phải trả khoản tiền lãi chậm trả: Tại thỏa thuận trong hợp đồng mua bán
hàng hóa về điều khoản thanh toán, hai bên đã thỏa thuận: thanh toán bằng
chuyển khoản, thời hạn thanh toán theo thỏa thuận tại Điều 5 của hợp đồng:
“Điều 5: Thời hạn thanh toán, chiết khấu thanh toán và phạt do chậm
thanh toán.
5.1 Thời hạn thanh toán: Bên B cam kết thanh toán tiền mua hàng cho Bên
A trong vòng 60 ngày kể từ ngày giao hàng/ngày của phiếu giao hàng hoặc ngày
xuất hóa đơn.
5.2 Chiết khấu thanh toán: Bên A cam kết chiết khấu thanh toán cho Bên B
với mức chiết khấu 3% trên số tiền thanh toán trong trường hợp Bên B thanh
toán tiền hàng trong vòng 60 ngày tính từ ngày giao hàng/ngày xuất hóa đơn. Số
tiền chiết khấu thanh toán Bên B được hưởng sẽ được hai bên đối chiếu, xác
nhận và làm cơ sở cho việc hạch toán kế toán theo đúng quy định.
5.3 Phạt do chậm thanh toán: Nếu Bên B chậm thanh toán công nợ theo
thời hạn nêu tại Mục 5.1 của Điều 5 thì Bên A sẽ ngưng giao hàng và đồng thời
Bên B phải chịu lãi do chậm thanh toán với mức lãi suất là 3%/ tháng đối với số
nợ chậm thanh toán.”
Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, các bên đã thừa
nhận đã giao nhận hàng, đã xuất hóa đơn và đã thanh toán và nhận chiết khấu như
đã thỏa thuận tại Điều 5 của Hợp đồng mua bán hàng hóa. Đồng thời cũng thừa
nhận, cho đến nay có 3 lô hàng chưa được thanh toán tiền gốc. Như vậy, Công ty
cổ phần Lavđã vi phạm thỏa thuận thanh toán trong hợp đồng, chậm thanh toán
tiền hàng. Căn cứ Điều 306 Luật thương mại: Công ty cổ phần Lav phải trả lãi
chậm trả trên số tiền hàng còn thiếu, tính trên từng đơn hàng chưa thanh toán.
Về mức lãi suất chậm trả: Tại mục 5.3 của Hợp đồng mua bán hàng hóa
……Phạt do chậm thanh toán: Nếu Bên B chậm thanh toán công nợ theo
thời hạn nêu tại Mục 5.1 của Điều 5 thì Bên A sẽ ngưng giao hàng và đồng thởi
Bên B phải chịu lại do chậm thanh toán với mức lãi suất là 3%/ tháng đối với số
nợ chậm thanh toán…”. Các bên đã thỏa thuận 3%/tháng tương đương với
36%/1năm là không phù hợp với quy định của pháp luật nên không được chấp
nhận.
10
Tại phiên tòa, Công ty cổ phần Sơn S chỉ đề nghị phía Công ty cổ phần Lav
trả lãi suất chậm thanh toán tiền hàng là 14%/năm tương ứng với thời gian chậm
thanh toán. Hội đồng xét xử xác nhận đây là yêu cầu tính lãi suất chậm trả phù
hợp với mức lãi suất quy định tại Bộ luật dân sự năm 2015, nên căn cứ Điều 306
Luật thương mại năm 2005 qui định “Trường hợp bên vi phạm hợp đồng chậm
thanh toán tiền hàng hay chậm thanh toán thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý
khác thì bên bị vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm
trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán
tương ứng với thời gian chậm trả…”.
Theo văn bản số 0809/CNBHN-PGD NVL ngày 08/9/2020 của Ngân hàng
TMCP C, Công văn số 621/NHNo.GL-KHHSX&CN ngày 09/9/2020 của Ngân
hàng N và các Quyết định về lãi suất của Ngân hàng TMCP NG thì mức lãi suất
nợ quá hạn trung bình hiện đang áp dụng đối với phục vụ hoạt động kinh doanh
khoảng trên 14%/năm. Việc Công ty cổ phần Sơn S yêu cầu Công ty cổ phần Lav
trả tiền lãi chậm thanh toán với lãi suất 14%/ năm là có lợi cho bị đơn nên được
ghi nhận. Do vậy Công ty cổ phần Lav có nghĩa vụ chịu lãi trên số nợ tiền gốc
mua hàng hóa cụ thể từng phần nợ như sau:
+ Ngày 17/6/2017, Công ty cổ phần Sơn S xuất bán hàng cho Công ty cổ
phần Lav với giá trị là 739.382.433đ. Tính đến ngày 29/9/2020, số ngày chậm là
1201 ngày. Sau khi trừ đi 60 ngày còn lại 1.141 ngày chậm thanh toán (03 năm
01 tháng 16 ngày). Số tiền lãi chậm thanh toán là 739.382.433đ x 14% x(03 năm
01 tháng 16 ngày) = 323.586.000 đồng.
+ Ngày 11/8/2017, Công ty cổ phần Sơn S xuất bán hàng cho Công ty cổ
phần Lav với giá trị là 567.396.815đ. Tính đến ngày 29/9/2020, số ngày nợ là
1146 ngày. Sau khi trừ đi 60 ngày còn lại 1086 ngày chậm thanh toán (02 năm 11
tháng 21 ngày). Số tiền lãi chậm thanh toán là 567.396.815đ x 14% x(02 năm 11
tháng 21 ngày) = 236.348.000 đồng.
+ Ngày 30/9/2017, Công ty cổ phần Sơn S xuất bán hàng cho Công ty cổ
phần Lav với giá trị là 639.980đ. Tính đến ngày 29/9/2020, số ngày nợ là 1096
ngày. Sau khi trừ đi 60 ngày còn lại 1036 ngày chậm thanh toán (02 năm 10
tháng 06 ngày). Số tiền lãi chậm thanh toán là 639.980đ x 14% x(02 năm 10
tháng 06 ngày) = 254.000đồng.
11
Tổng số tiền lãi chậm trả Công ty cổ phần Lav phải thanh toán trả Công ty
cổ phần Sơn S là 560.188.000 đồng(Năm trăm sáu mươi triệu một trăm tám mươi
tám nghìn đồng).
Tổng số tiền hàng còn thiếu và tiền lãi chậm trả Công ty cổ phần Lav phải
thanh toán trả Công ty cổ phần Sơn S là 1.867.607.228đồng(Một tỷ tám trăm sáu
mươi bảy triệu sáu trăm linh bảy nghìn hai trăm hai mươi tám đồng).
[3]. Án phí: Bị đơn có nghĩa vụ thanh toán do vậy phải chịu án phí Kinh
doanh thương mại sơ thẩm đối với số tiền phải thanh toán. Yêu cầu của Nguyên
đơn được chấp nhận do vậy không phải chịu án phí, được hoàn lại tiền tạm ứng
án phí đã nộp.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều
271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,
Điều 147, khoản 2 Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân
sự năm 2015;
Căn cứ: Điều 86, Điều 91BLDS 2005;
Căn cứ: các điều 24, Điều 25, Điều 50, Điều 306 Luật Thương mại năm
2005;
Căn cứ Nghị quyết số 01/NQ HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử
dụng án phí, lệ phí Tòa án; điểm d, tiểu mục 1.4 Mục 1 Danh mục án phí ban
hành kèm theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần Sơn S, về việc yêu
cầu Công ty cổ phần Lav phải thanh toán số tiền mua hàng còn thiếu.
2. Buộc Công ty cổ phần Lav phải trả Công ty cổ phần Sơn S khoản tiền
nợ 1.307.419.228đồng (Một tỷ ba trăm lẻ bảy triệu bốn trăm mười chín nghìn hai
trăm hai mươi tám đồng).
12
Buộc Công ty cổ phần Lav phải trả Công ty cổ phần Sơn S khoản tiền lãi
chậm trả tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 560.188.000 đồng(Năm trăm sáu mươi
triệu một trăm tám mươi tám nghìn đồng).
Tổng số tiền nợ gốc và nợ lãi chậm trả, Công ty cổ phần Lav phải trả Công
ty cổ phần Sơn S là 1.867.607.228đồng(Một tỷ tám trăm sáu mươi bảy triệu sáu
trăm linh bảy nghìn hai trăm hai mươi tám đồng).
3. Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có
đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án
xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản
tiền lãi của số tiền nợ gốc còn phải thi hành theo mức lãi suất nợ quá hạn do Nhà
nước qui định tương ứng với số tiền chậm trả và thời gian chậm trả.
4. Về án phí: Công ty cổ phần Lav phải chịu 68.028.216đồng (Sáu mươi
tám triệu không trăm hai mươi tám nghìn hai trăm mười sáu đồng) tiền án phí
Kinh doanh thương mại sơ thẩm.
Hoàn trả Công ty cổ phần Sơn S 44.528.000đồng(Bốn mươi bốn triệu năm
trăm hai mươi tám nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp, tại biên lai số
AA/2010/0005339 ngày 07/7/2020 của Chi cục thi hành án huyện G, thành phố
Hà Nội.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày
tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hàn án theo quy
định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực
hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.
Nơi nhận:
- Tòa án nhân dân TP Hà Nội;
- Viện kiểm sát huyện G;
- THADS huyện G;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Thẩm phán– Chủ tọa phiên tòa
Cồ Khắc Đam
13
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 29/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 29/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 29/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 29/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 29/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 29/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 29/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 26/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 26/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 25/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 25/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 25/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 25/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 25/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 25/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 25/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 24/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 24/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 24/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm