Bản án số 21/2018/HS-ST ngày 10/04/2018 của TAND TP. Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh về tội cố ý gây thương tích

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 21/2018/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 21/2018/HS-ST ngày 10/04/2018 của TAND TP. Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh về tội cố ý gây thương tích
Tội danh: 104.Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (Bộ luật hình sự năm 1999)
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Trà Vinh (TAND tỉnh Trà Vinh)
Số hiệu: 21/2018/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 10/04/2018
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TRÀ VINH, TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh S
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Hoàng Dũng
2. Ông Trần Quốc Hào
Thư ký phiên tòa: Bà Lƣơng Thị Hồng Vân, Thư ký Tòa án nhân dân thành
phố Trà Vinh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Trà Vinh tham gia phiên tòa:
Ông Phan Tuấn Tú, Kiểm sát viên.
Trong ngày 10 tháng 4 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Trà
Vinh xét xử công khai vụ án hình sự thẩm thụ số 11/2018/TLST-HS ngày 22
tháng 3 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra t xử số: 19/2018/QĐXXST-HS
ngày 23 tháng 3 năm 2018 đối với bị cáo:
Kiên S , sinh năm: 1979, tại tỉnh Trà Vinh; Nơi đăng HKTT: ấp A, xã B,
thành phTrà Vinh, tỉnh Trà Vinh; Chổ ở: ấp A, B, thành phố Trà Vinh, tỉnh
Trà Vinh; Nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: không biết chữ; dân tộc:
khmer; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Kiên S, sinh
năm 1941 Thạch Thị X, sinh năm 1948; bị cáo vợ Sơn Thị Mỹ L, sinh
năm 1982 và con Kiên Thị L, sinh năm 2005; tiền án: không; tiền sự: không; bị
bắt, tạm giam ngày 31/01/2018; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Chị Sơn Thị Mỹ L, sinh năm 1982 (có mặt)
Nơi cư trú: ấp A, xã B, thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.
- Người làm chứng:
1. Ông Sơn T, sinh năm 1958 (vắng mặt)
Nơi cư trú: ấp A, xã B, thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.
2. Chị Sơn Thị Mỹ C, sinh năm 1988 (có mặt)
Nơi cư trú: ấp A, xã B, thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
.TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TRÀ VINH
TỈNH TRÀ VINH
Bản án số: 21/2018/HS-ST
Ngày: 10-4-2018
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Chị Sơn Thị Mỹ L, sinh năm 1982 trú tại ấp A, B thành phố Trà Vinh,
tỉnh Trà Vinh và bị cáo Kiên S là vợ chồng. Vào khoảng 20 giờ ngày 06/12/2017,
sau khi bị cáo S đi uống rượu về đến nhà ấp A, B, thành phố Trà Vinh, thì
giữa bị cáo chị L xảy ra mâu thuẩn, cự cải nhau. n chị L bỏ đi qua nhà của
cha mẹ ruột ngủ.
Đến khoảng 07 giờ ngày 07/12/2017, chị L trở về nhà nhìn thấy bcáo Sơn
vẫn n ngủ trên giường, chị L tiếp tục la mắng. Do trong người vẫn còn rượu
không kiềm chế được nóng giận, bị cáo S liền bước xuống gường đi đến lấy cây
leng bằng kim loại, chiều dài 97 cm, đặc điểm một đầu làm cán cầm có đường
kính 03 cm, một đầu bảng dẹp rộng 09 cm dùng đđào đất của gia đình, cầm bằng
hai tay n phần cán đến đứng đối diện với chị L đánh phần mặt úp của Leng một
i hướng từ trên xuống trúng vào ng đầu chị L gây thương tích. Lúc này, chL
chụp được cây leng giằng co với bị cáo thì S đẩy chị L té ngã xuống đất, chị L liền
tri u cứu. Sơn không dừng lại định tấn công tiếp thì được ông Sơn T cha
chị L và chị Sơn Thị Mỹ C là em gái chị L gần đó kịp thời chạy đến can ngăn,
thấy chị L bị thương tích gia đình mới đưa chị L đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Trà
Vinh đcấp cứu điều trị, khi sự việc xảy ra chị C đã đến quan điều tra trình
báo.
Tại giấy chứng nhận thương tích số 25 ngày 28/12/2017 của Bệnh viện đa
khoa Trà Vinh xác định tình trạng thương ch của chị n Thị Mỹ L lúc vào viện
gồm: Vết thương trán phải 4cm, trán trái 6cm.
Tại bản kết luận giám định về thương tích số 07 ngày 09/01/2018 của Trung
tâm giám định pháp y về thương tích thuộc Sở y tế tỉnh Trà Vinh kết luận: Thương
tích của chị Sơn Thị Mỹ L do vật tày cứng gây nên, với tổng tỷ lệ thương tật chung
11% (Mười một phần trăm).
Về vật chứng: Cây Leng chiều dài 97 cm, một đầu dùng làm n cầm có
đường kính 03 cm, một đầu bảng dẹp rộng 09 cm gây nên thương tích cho chị Sơn
Thị Mỹ L.
Tại bản cáo trạng số 14/CT-VKSTP-HS ngày 20/3/2018 Viện kiểm sát nhân
dân thành phố Trà Vinh đã truy tố Kiên S về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm
đ khoản 2 điều 134 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Trà vinh vẫn giữ
nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo Kiên S phạm tội Cố ý gây thương ch” như
bản cáo trạng đã nêu. Sau khi phân tích, đánh giá các tình tiết, chứng cứ của vụ án
nhân thân của bị cáo. Vị đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm đ khoản 2
Điều 134; điểm s khoản 1,2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Kiên
S từ 02 đến 03 năm tù. Đồng thời buộc bị cáo nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy
định của pháp luật.
Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xvào nghị án. Bị cáo
xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
3
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của quan điều tra Công an thành phố
Trà Vinh, Điều tra viên. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Trà Vinh, Kiểm sát
viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ
tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo,
bị hại không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến
hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của
Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Kiên S đã khai nhận: Vào khoảng 07 giờ
ngày 07/12/2017 giữa bị cáo và chị Sơn Thị Mỹ L xảy ra mâu thuẫn cự cãi với
nhau, bị cáo Kiên S dùng cây leng bằng kim loại dài 97cm, một đầu cán đường
kính 03cm, một đầu bảng dẹp rộng 09cm. Bị cáo cầm hai tay đánh ttrên xuống
trúng vào vùng đầu chị L gây thương tích với tỷ lệ thương tật 11%. Do đó, Hội
đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Kiên S đã phạm vào tội “ Cố ý gây thương
tích” tội phạm hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 điều 134 Bộ luật
hình sự. Như Viện kiểm sát nhân dân thành phố Trà Vinh đã truy tố là căn cứ,
đúng pháp luật.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát những người tham gia ttụng
không bổ sung tài liệu, đồ vật không đề nghị triệu tập thêm người tham gia tố
tụng. Xác định cách người tham gia tố tụng theo quyết định đưa vụ án ra xét xử
là đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Xét thấy Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Trà Vinh truy
tố bị cáo Kiên S vtội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 điều 134 Bộ
luật hình sự là phù hợp với quy định của pháp luật, không oan, không sai.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo nguy hiểm cho hội, bị cáo đã trực tiếp
xâm hại đến sức khỏe của người khác. Trong vụ án này mặc mâu thuẫn giữa bị
cáo và chị Sơn Thị Mỹ L không lớn nhưng bị cáo đã dùng cây leng một loại hung
khí nguy hiểm đánh trúng vào vùng đầu chị L dẫn đến tổn hại thương tật 11%.
Bị o biết rất việc dùng cây leng đánh vào vùng đầu sẽ nguy hiểm đến tính
mạng của bị hại, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, chứng tỏ bị cáo rất xem thường
pháp luật. Mặt khác, giữa bị cáo bị hại vợ chồng nhưng bị cáo dẫn rấp tâm
thực hiện. Do đó, cần xử lý nghiêm đối với bị cáo là cần thiết.
Tuy nhiên, bị cáo mới phạm tội lần đầu; đã thật thà khai báo, ăn năn hối cải,
đồng thời bị hại làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, cũng cần xem
xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo điểm s khoản 1,2 Điều 51 Bộ luật
hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị hại chị Sơn Thị Mỹ L không yêu
cầu. Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
4
Về vật chứng: 01 cây leng bằng kim loại dài 97cm, một đầu rỗng hình tròn
đường kính dài 03cm, đầu còn lại dẹp có bản rộng 09cm là công cụ bị cáo dùng
để thực hiện tội phạm. Nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại khoản 2 Điều
106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật t tụng hình sự. Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của y ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo
phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẻ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Kiên S phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1,2 Điều 51; Điều 38 Bộ
luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Kiên S 02 năm , thời hạn chấp hành hình phạt tính từ
ngày 31/01/2018.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Sơn Thị Mỹ Lh không yêu cầu. Hội
đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
Áp dụng: Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 cây leng bằng kim loại dài 97cm, một đầu rổng hình tròn
đường kính dài 03cm, đầu còn lại dẹp có bản rộng 09cm.
Áp dụng: Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị
cáo Kiên S nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án thẩm xử công khai, báo cho bị cáo, người bị hại biết quyền kháng
cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
* Nơi nhận:
- TAND tỉnh Trà Vinh;
- VKSND TP.Trà Vinh;
- Chi cục THADS TPTV;
- Nhà tạm giữ CA TP.Trà Vinh;
- Bị cáo;
- Sở Tư pháp tỉnh Trà Vinh;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thanh S
5
Tải về
Bản án số 21/2018/HS-ST Bản án số 21/2018/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất