Bản án số 206/2018/HSST ngày 18/07/2018 của TAND Q. Long Biên, TP. Hà Nội về tội cướp tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 206/2018/HSST

Tên Bản án: Bản án số 206/2018/HSST ngày 18/07/2018 của TAND Q. Long Biên, TP. Hà Nội về tội cướp tài sản
Tội danh: 133.Tội cướp tài sản (Bộ luật hình sự năm 1999)
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND Q. Long Biên (TAND TP. Hà Nội)
Số hiệu: 206/2018/HSST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 18/07/2018
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN LONG BIÊN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
------------
Bản án số: 206/2018/HSST
Ngày: 18/7/2018
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
------------------------------------
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Phƣơng
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Tạ Đức Minh
2. Phạm Thị Thành
- Thư phiên toà: Thạch Thị Hằng Cán bộ Toà án nhân dân quận
Long Biên.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Long Biên tham gia phiên toà:
Ông Lê Đăng Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 18/7/2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố
Nội xét xử thẩm vụ án hình sự thụ số 153/2018/HSST ngày 10/5/2018
theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 216/2018/QĐXXST-HS ngày 03/7/2018
đối với các bị cáo:
1. TRỌNG A , sinh năm: 1992; HKTT chỗ : Thôn H, xã M,
huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh;
Tôn giáo: Không; Văn hóa: 12/12; con ông: Trọng N; con bà: Trịnh Thị T;
Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ 2.
Tiền án, tiền sự: Theo danh chỉ bản số 100 lập ngày 02/01/2018 của Công
an quận Long Biên, thành phố Nội lịch địa phương cung C , bị cáo
không có tiền án, tiền sự. Bị cáo bị bắt ngày 29/12/2017, hiện đang tạm giam tại
Trại giam số 1 Công an thành phố Hà Nội. (Có mặt)
2. QUANG H , sinh năm: 1998; HKTT và chỗ : Thôn H, xã M,
huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh;
Tôn giáo: Không;Văn hóa: Không biết chữ; con ông: Hà Quang P; con bà: Trịnh
Thị T; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ 2.
Tiền án, tiền sự: Theo danh chỉ bản số 99 lập ngày 02/01/2018 của Công
an quận Long Biên, thành phố Nội lịch địa phương cung C bị cáo
không có tiền án, tiền sự. Bị cáo bị bắt ngày 29/12/2017, hiện đang tạm giam tại
Trại giam số 1 Công an thành phố Hà Nội. (Có mặt)
2
Người bị hại: Anh Văn C , sinh năm 1987, HKTT trú tại: K,
huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hoá. ( mặt)
Người làm chứng:
1. Trịnh Thị T1, sinh năm 1967; trú tại: Thôn H, M, huyện Triệu
Sơn, tỉnh Thanh Hóa (Có mặt)
2. Chị Thị Tuyết, sinh năm 1991; trú tại: Thôn H, M, huyện Triệu
Sơn, tỉnh Thanh Hóa (Có mặt)
3. Anh Lương n B, sinh năm 1990; trú tại: X, Đắc P, Ngọc Hồi,
Kontum. (Vắng mặt)
4. Anh Trọng L, sinh năm 1998; trú tại: Thôn H, M, huyện Triệu
Sơn, tỉnh Thanh Hóa (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồvụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 29/12/2017, Công an phường Phúc Đồng, quận Long Biên, thành
phố Nội nhận được đơn trình báo của anh Văn C về việc anh C bị
TRỌNG A Quang H dùng tay, chân dao tấn công để chiếm đoạt số
tiền 12.800.000 đồng cùng 01 điện thoại nhãn hiệu Oppo.
Quá trình điều tra, quan điều tra làm như sau: Khoảng 6 gi 30
phút ngày 29/12/2017, tại phòng trọ của công nhân t 4, pờng Phúc Đồng,
quận Long Biên, thành phố Nội, anh C xin TRNG A (chủ cai thầu xây
dng) ngh làm để v quê thăm mẹ m nhưng TRNG A không đồng ý với
do trong quá trình làm vic, TRNG A đã tạm ng cho C s tin 15.000.000
đồng, anh C chưa làm hết s ngày công tương ng. Anh C ch tha nhn
TRNG A đã ng cho mình s tiền 14.000.000 đồng nên hai bên lời qua tiếng
li. Lúc này, anh C t gác xép đi xuống lấy ra s tin 12.810.000 đồng đt
mnh xung phn g phía trước mt Trịnh Th Tuyn (là mẹ đẻ ca
TRNG A ); đồng thời li nói khiếm nhã đối với Tuyển. Quang H
th xây con nuôi của Tuyển chng kiến cách x x không đúng mực
ca anh C nên lời nói lại làm hai bên to tiếng với nhau. Lúc này, TRNG A
đi đến sát vị trí để tiền thì anh C nhanh chóng nhét tiền vào túi quần đang mặc
ý định đi ra khỏi phòng tr. Thy vy, TRNG A ôm anh C t phía sau,
đẩy anh C ngã xuống phn g TRNG A nằm đè lên trên ngưi anh C ,
TRNG A yêu cầu anh C tr li tiền công đã tạm ứng nhưng anh C không tr
nên TRNG A bo H ly hết tin trong túi qun ca anh C ; H chy li cm
3
theo mt con dao (là dao thái thịt đ phòng trọ); dùng tay tát vào vùng mặt anh
C 02 cái; H b anh C đạp vào người nên đã dùng bn sống dao đập vào cẳng
chân anh C (khi biết H s dng dao, TRNG A đã can ngăn H ). Sau đó, H
dùng tay ly hết tiền và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo trong túi
qun ca anh C . Sau khi H lấy được tiền điện thoi ca anh C , TRNG A
buông tay ra khỏi người anh C , anh C đứng dy xin li s tiền điện thoi
nhưng TRNG A nói với anh C “mày c v quê đi, khi nào quay lại thì tính
sau. H đưa tiền đin thoi cho TRNG A gi. TRNG A yêu cầu anh
Lương Văn Bình, sinh năm 1990 (là anh họ ca anh C cùng tp th xây)
chng kiến cùng với Tuyển đếm lại toàn bộ s tin ca anh C . Sau khi s
vic xy ra, anh C đã đến Công an phường Phúc Đồng trình báo toàn bộ s vic
trên.
Trong quá trình điều tra, TRNG A Quang H đều khai vic
chiếm đoạt tin ca anh C không có s bàn bạc trước; vic H dùng tay đấm vào
mt C dùng dao đập vào chân anh C do tự H hành động TRNG A
đã can ngăn H . Văn C cũng lời khai TRNG A cũng lời khai căn
ngăn H khi H s dng dao. TRNG A khai việc dùng lc không mục
đích nhằm chiếm đoạt s tin ca anh C , chỉ tm gi li s tin ca anh C
để khi hai bên bớt nóng nảy s tính toán lại việc thanh toán tiền công cho chính
xác.
Ti Kết luận định giá tài sản s 27 ngày 07/02/2018 ca Hội đồng định
giá i sn trong t tụng hình s quận Long Biên kết lun: 01 điện thoại di động
nhãn hiệu Oppo đã qua sử dng tr giá 3.000.000 đồng.
Bản cáo trạng s: 155/CT-VKS ngày 08/5/2018 ca Vin Kiểm sát nhân
dân quận Long Biên đã truy t TRNG A v tội “Cướp tài sản” theo quy
định ti khoản 1 Điều 168 truy tố Quang H v tội “Cướp tài sản” theo
quy định ti đim d khoản 2 Điều 168 ca B lut Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa: B cáo TRNG A , Quang H , b hại, người làm
chứng cùng khai:
Vào lúc khoảng 6 gi 30 phút ngày 29/12/2017, tại phòng trọ công nhân ở
t 4, phường Phúc Đồng, qun Long Biên, thành ph Hà Nội, TRNG A đã
dùng tay khống chế, quật ngã anh Hà Văn C xung phn gỗ; Hà Quang H dùng
tay đấm vào vùng mặt dùng sống dao đập vào cẳng chân bên trái của anh
Văn C , dùng tay lấy s tiền 12.810.000 đồng cùng 01 chiếc điện thoại di động
nhãn hiệu Oppo trong túi qun ca anh C . Vic H s dng dao hành vi t
phát của H , không s bàn bạc trước với TRNG A khi H s dng
dao đập vào chân C , TRNG A đã có lời nói căn ngăn.
4
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội tranh luận tại phiên
tòa như sau:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận tội
của bị cáo tại phiên tòa thấy rằng: nh vi của các bị cáo TRỌNG A đã đủ
yếu tcấu thành tội: “Cướp tài sảntheo quy định tại khoản1 Điều 168 Bộ luật
Hình sự năm 2015. Hành vi của Hà Quang H đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Cướp
tài sảntheo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Trong vụ án này bị cáo H là người sử dụng con dao là “phương tiện nguy hiểm
được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình snăm 2015 để
tấn công người bị hại anh Văn C khiến anh C lâm vào tình trạng không
thể chống cự được và đã chiếm đoạt được tài sản của anh C số tiền
12.810.000 đồng cùng 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo trong túi
quần của anh C . Việc H sử dụng dao là hành vi tự phát của H , không có sự bàn
bạc trước với TRỌNG A ; căn cứ vào lời khai của TRỌNG A phù hợp với
lời khai của bị hại, bị cáo Quang H người làm chứng xác định bản thân
TRỌNG A khi biết H sử dụng dao đã can ngăn H . Do đó, TRỌNG A
không phải chịu trách nhiệm về hành vi sử dụng dao của Hà Quang H .
Về nhân thân, các bị cáo đều chưa tiền án, tiền sự. Về tình tiết giảm
nhẹ: Tại phiên tòa, các bị cáo đều ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo nhận
tội nên cho các bcáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy
định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đề nghị Hội đồng
xét xử áp dụng khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với Vũ
TRỌNG A , áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168 đối với Quang H ; áp dụng
chung điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015;
Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đối với TRỌNG A
Quang H . Vhình phạt: Đề nghị xử phạt bị cáo TRỌNG A mức án từ 3
năm đến 3 năm 6 tháng ; xử phạt bị cáo Quang H mức án từ 7 năm đến 7
năm 6 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền do bị
cáo không có công việc và thu nhập ổn định.
V dân sự: Trong quá trình điều tra, quan điều tra đã trao tr cho anh
Văn C 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, 01 chiếc qun vải màu
đỏ cùng số tiền 12.810.000 đng. Anh C đã nhận đầy đủ s tài sản trên và
không yêu cầu thêm v dân s nên đề ngh Hội đồng xét xử không xem
xét.
V x vt chứng: đ ngh cho tịch thu tiêu hủy 01 con dao bng kim
loại chuôi gỗ, kích thước dài 34cm, bản rng khoảng 4,5cm màu đen
phương tiện b o H dùng để phm ti.
5
Nói lời sau cùng các bcáo nhận thấy việc làm của bản thân vi phạm
pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét mở lượng khoan hồng cho các bị cáo
mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã
được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xnhận thấy như
sau:
[1]Về hành vi, quyết định tố tụng của quan cảnh sát điều tra-Công an
quận Long Biên, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Long Biên, Kiểm
sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình
tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra tại
phiên tòa, các bị cáo đã khai báo thành khẩn và không kH nại về hành vi,
quyết định của quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các
hành vi, quyết định tố tụng của quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố
tụng đều hợp pháp.
[2] Tại quan điều tra, bị cáo TRỌNG A thừa nhận đã thực hiện
hành vi theo nội dung cáo trạng đã truy tố nhưng cho rằng Viện Kiểm sát nhân
dân quận Long Biên truy tố bị cáo về tội “Cướp tài sản” quá nghiêm khắc.
Tuy nhiên, tại phiên tòa, bị cáo Vũ TRỌNG A bị cáo H cùng nhận tội, hoàn
toàn ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo, lời khai phù hợp với lời khai nhau
và lời khai của bị hại, người làm chứng, biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu, bản kết
luận định giá tài sản cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ nội dung
bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Hội đồng xét xử đủ sở kết
luận:
Khong 6 gi 30 phút ngày 29/12/2017, tại phòng trọ t 4, phường Phúc
Đồng, qun Long Biên, thành phố Nội, b cáo TRNG A đã hành vi
dùng tay khống chế, quật ngã anh Văn C xung phn gỗ, còn Quang H
dùng tay đấm vào vùng mặt dùng sống dao đập vào cẳng chân bên trái ca
anh Văn C để chiếm đot s tiền 12.810.000 đồng cùng 01 chiếc điện thoi
di động nhãn hiệu Oppo tr giá 3.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản b xâm hại
15.810.000 đồng. Vic H s dụng dao hành vi t phát của H , không s
bàn bạc trước với TRNG A và khi H s dng sng dao đập vào chân C ,
TRNG A đã căn ngăn H .
Các bị cáo đã dùng lực đối với anh Văn C nhằm mục đích chiếm
đoạt tài sản của anh C trên thực tế đã chiếm đoạt được tài sản của anh C
số tiền 12.810.000 đồng cùng 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo trị giá
6
3.000.000 đồng. Hành vi của các bị cáo nguy hiểm cho hội, xâm hại đến
quan hệ nhân thân quan hệ tài sản hai khách thể được Bộ luật Hình sự bảo
vệ; đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản”. Do quy định về hình phạt của tội
phạm này tại Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015 nhẹ hơn so với quy định tại
Điều 133 Bộ luật Hình sự năm 1999, căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 7
Bộ luật Hình sự năm 2015, Hội đồng quyết định áp dụng quy định tại Điều 168
Bộ luật Hình sự năm 2015 để xét xử đối với hành vi phạm tội xảy ra trước 0 gi
00 phút ngày 01/01/2018 của các bị cáo. Viện Kiểm sát nhân dân quận Long
Biên truy tố các bị cáo theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 căn
cứ, đúng pháp luật.
Đây vụ án đồng phạm giản đơn; trong đó, các bị cáo đều giữ vai trò
người thực hành. thể hóa trách nhiệm hình sự, Tòa án căn cứ vào tính chất,
mức độ nguy hiểm cho hội của hành vi phạm tội, ngoài ra còn căn cứ vào
nhân thân của người phạm tội các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự để quyết định hình phạt đối với mỗi bị cáo.
Trong vụ án này bị cáo H là người sử dụng con dao là “phương tiện nguy
hiểm” được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự 2015 để
tấn công người bị hại anh Văn C khiến anh C lâm vào tình trạng không
thể chống cự được chiếm đoạt số tiền 12.810.000 đồng cùng 01 chiếc điện
thoại di động nhãn hiệu Oppo trong túi quần của anh C . Viện Kiểm sát nhân
dân quận Long Biên truy tố bị cáo H về tội “Cướp tài sản” với tình tiết tăng
nặng định khung “sử dụng phương tiện nguy hiểm” theo quy định tại điểm d
khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, phù hợp với quy định
của pháp luật.
Đối với Vũ TRỌNG A : TRỌNG A đã có hành vi dùng tay quật ngã anh
C xuống phản nằm đè lên anh C để H thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản
của anh C . Căn cứ vào lời khai của TRỌNG A phù hợp với lời khai của bị cáo
Quang H bị hại tại quan điều tra cũng như tại phiên tòa, thể xác
định việc H sử dụng dao hành vi tự phát của H , không sự bàn bạc trước
với TRỌNG A , bản thân TRỌNG A khi biết H sử dụng dao đã can
ngăn H . Do đó, Vũ TRỌNG A không phải chịu trách nhiệm về hành vi sử dụng
dao của Quang H . Hội đồng xét xử nhận thấy Viện Kiểm sát nhân dân quận
Long Biên đã truy tố Vũ TRỌNG A theo quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật
Hình sự năm 2015 là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
Từ các phân tích trên, căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội
của hành vi phạm tội do các bị cáo thực hiện, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết
7
phải tiếp tục cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục
riêng đối với các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xét thấy, nhân thân
các bị cáo đều không tiền án, tiền sự; các bcáo đều thành khẩn khai báo,
nhận tội, ăn năn hối cải, tài sản đã được thu hồi trả lại người bị hại nên cho các
bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm
s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015. Các bị cáo đều thực hiện hành vi một
cách bột phát, một phần cũng xuất phát từ những lời nói không đúng mực của bị
hại; do đó, Hội đồng xét xử cân nhắc áp dụng mức hình phạt đầu khung đối với
mỗi bị cáo.
[7] Về hình phạt bổ sung:
Xét các bị cáo không nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp
dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[8] Về dân sự:
Trong qtrình điều tra, quan điều tra đã trao tr cho anh Văn C
01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, 01 chiếc qun vải màu đỏ cùng số
tiền 12.810.000 đồng. Anh C đã nhận đầy đủ s tài sản trên không yêu
cầu gì thêm v n sự nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[9] V x lý vật chng:
Cho tịch thu, tiêu hy 01 con dao bng kim loại chuôi gỗ, ch thước
dài 34cm, bản rng khoảng 4,5cm màu đen công cụ b cáo Quang H
đã s dụng vào việc thc hin ti phm.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Long Biên đnghị về hình phạt
chính, hình phạt bổ sung, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, về dân sự và xử
lý vật chứng là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
[10] Về án phí:
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[11] Về quyền kháng cáo:
Các bị cáo và người tham gia tố tụng được quyền kháng cáo bản án theo
quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo TRỌNG A , Quang H phạm tội “Cƣớp
tài sản”.
8
1. Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị
cáo Quang H ; áp dụng khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với
bị cáo TRỌNG A ; áp dụng chung điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ
luật Hình sự năm 2015 đối với cả hai bị cáo Vũ TRỌNG A và Hà Quang H .
Xử phạt bcáo Quang H 7 (bảy) năm tù. Thời hạn tính từ ngày
29/12/2017.
Xử phạt bị cáo TRỌNG A 3 (ba) năm tù. Thời hạn tính tngày
29/12/2017.
2. Về x vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự 2015
khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Cho tịch thu tiêu hủy 01 con dao bằng kim loại chuôi gỗ, kích thước
dài 34cm, bản rộng khoảng 4,5cm màu đen.
(Tang vật trên hiện tại Chi cục thi hành án dân sự quận Long Biên
theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/5/2018).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm
2015 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Bị cáo TRỌNG A bị cáo Quang H , mỗi b cáo phải chịu
200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình
sự năm 2015.
Án xử công khai sơ thẩm.
Các bị cáo bị hại quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể t
ngày tuyên án.
Nơi nhận TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND T.p. Hà Nội; THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND quận Long Biên;
- Công an quận Long Biên;
- Chi cục Thi hành án quận Long Biên;
- Người tham gia tố tụng;
- u hồ;
- Lưu VP/TA
Nguyễn Thị Thanh Phƣơng
Tải về
Bản án số 206/2018/HSST Bản án số 206/2018/HSST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất