Bản án số 20/2024/DS-PT ngày 09/01/2024 của TAND tỉnh Cà Mau

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 20/2024/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 20/2024/DS-PT ngày 09/01/2024 của TAND tỉnh Cà Mau
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Cà Mau
Số hiệu: 20/2024/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 09/01/2024
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: ông D1 yêu cầu cụ S1 và những người liên quan di dời tài sản trả lại diện tích theo đo đạc 15.256,7m2 tọa lạc tại ấp Khai Hoang Vàm, xã Quách Phẩm, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau (gồm các phần đất nằm trong và ngoài giấy chứng nhận của cụ S1) và yêu cầu cụ S1 bồi thường tiền mất thu nhập trong thời gian không sử dụng (do cụ S1 ngăn cản) từ tháng 01/2015 đến nay với tổng số tiền là 165.000.000 đồng.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 20/2024/DS-PT
Ngày 09 01 2024
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu
cầu BTTH do tài sản bị xâm phạm
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Minh Trung
Các Thẩm phán: Ông Đỗ Cao Khánh
Ông Nguyễn Trọng Quế
- Thư phiên tòa: Ông Huỳnh Công Tấn Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Mau tham gia phiên toà:
Phạm Thị Hồng Yến Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Mau xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 369/2023/TLPT-DS ngày 10 tháng 10
năm 2023 về việc tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Do bản án dân sự thẩm số: 164/2023/DS-ST ngày 21 tháng 7 năm 2023
của Tòa án nhân dân huyện huyện Đầm Dơi, bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 295/2023/QĐ-PT ngày
20 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
Ông Đình D1, sinh năm 1954. Địa chỉ: Ấp K, xã Q, huyện Đ, tỉnh C. (có
mặt).
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của ông D1: Ông Ngô Đức Bính -
Trợ giúp viên pháp của Trung tâm Trợ giúp pháp nhà nước tỉnh Mau
(có mặt).
- Bị đơn:
Cụ Cao Thị S1, sinh năm 1933. Địa chỉ: Ấp K, xã Q, huyện Đ, tỉnh C.
Người đại diện theo ủy quyền của cụ S1: Ông Nguyễn Văn H2, sinh năm
1967. Địa chỉ trú: Ấp K, Q, huyện Đ, tỉnh C (theo văn bản ủy quyền ngày
23/5/2022, có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Trần Thị C2. Địa chỉ cư trú: Ấp K, xã Q, huyện Đ, tỉnh C (vắng mặt).
2
2. Anh Lê Minh T4. Địa chỉ cư trú: Ấp K, xã Q, huyện Đ, tỉnh C (vắng mặt).
3. Anh Lê Minh X. Địa chỉ cư trú: Ấp K, xã Q, huyện Đ, tỉnh C (vắng mặt).
4. Chị Lê Thị Yến N3. Địa chỉ trú: Ấp K, Q, huyện Đ, tỉnh C (vắng
mặt).
5. Ông Nguyễn Văn M1, sinh năm 1978. Địa chỉ trú: Ấp K, Q, huyện
Đ, tỉnh C (vắng mặt).
6. Đỗ Cẩm H1, sinh năm 1988. Địa chỉ cư trú: Ấp K, xã Q, huyện Đ, tỉnh
C (vắng mặt).
7. Anh Nguyễn Văn D2, sinh năm 1999. Địa chỉ trú: Ấp K, Q, huyện
Đ, tỉnh C (vắng mặt).
8. Ông Văn S2, sinh năm 1974. Địa chỉ cư trú: Ấp K, Q, huyện Đ, tỉnh
C (vắng mặt).
9. Thị Thủy (Võ Lệ T1, sinh năm 1970. Địa chỉ trú: Ấp K, Q,
huyện Đ, tỉnh C (vắng mặt).
10. Chị Tuyết N1, sinh năm 2001. Địa chỉ trú: Ấp K, Q, huyện Đ,
tỉnh C (vắng mặt).
11. Anh Văn T2, sinh năm 2007. Địa chỉ trú: p K, Q, huyện Đ,
tỉnh C (vắng mặt).
12. Anh Phương T5. Địa chỉ trú: Ấp K, Q, huyện Đ, tỉnh C (vắng
mặt).
13. Ông Bửu T3, sinh năm 1954. Địa chỉ trú: Ấp K, Q, huyện Đ,
tỉnh C (vắng mặt).
14. Bà Trần Thị P1, sinh năm 1954. Địa chỉ cư trú: Ấp K, xã Q, huyện Đ, tỉnh
C (vắng mặt).
15. Anh Công C1, sinh năm 1990. Địa chỉ trú: Ấp K, Q, huyện Đ,
tỉnh C . (vắng mặt).
16. Anh Văn L1, sinh năm 1992. Địa chỉ trú: p K, Q, huyện Đ,
tỉnh C (vắng mặt).
17. Chị Hà Thị U. Địa chỉ cư trú: Ấp K, xã Q, huyện Đ, tỉnh C (vắng mặt).
18. Nguyễn Thị M2. Địa chỉ trú: Ấp K, xã Q, huyện Đ, tỉnh C (vắng
mặt).
19. Ông Lương n C3. Địa chỉ trú: Ấp K, Q, huyện Đ, tỉnh C (vắng
mặt).
20. Ông Nguyễn Văn L2. Địa chỉ trú: Ấp K, Q, huyện Đ, tỉnh C (vắng
mặt).
21. Bà Lê Thị L3. Địa chỉ cư trú: Ấp K, xã Q, huyện Đ, tỉnh C (vắng mặt).
3
22. Anh Nguyễn Văn L4. Địa chỉ trú: Ấp K, Q, huyện Đ, tỉnh C (vắng
mặt).
23. Ông Nguyễn Thanh Q. Địa chỉ cư trú: Ấp K, xã Q, huyện Đ, tỉnh C (vắng
mặt).
24. Chị Nguyễn Thị H3. Địa chỉ trú: Ấp K, xã Q, huyện Đ, tỉnh C (vắng
mặt).
25. Anh Nguyễn Văn V. Địa chỉ trú: Ấp K, xã Q, huyện Đ, tỉnh C (vắng
mặt).
26. Ông Dương Quốc N4. Địa chỉ trú: Ấp K, Q, huyện Đ, tỉnh C (vắng
mặt).
27. Trịnh Thị L (Trịnh Kim L5. Địa chỉ trú: Ấp K, xã Q, huyện Đ, tỉnh
C (vắng mặt).
28. Ông Thanh D3, sinh năm 1964. Địa chỉ trú: Ấp K, Q, huyện Đ,
tỉnh C (vắng mặt).
29. Bà Trịnh Tú L6. Địa chỉ cư trú: Ấp K, xã Q, huyện Đ, tỉnh C (vắng mặt).
30. Ông Võ Văn L7. Địa chỉ cư trú: Ấp K, xã Q, huyện Đ, tỉnh C (vắng mặt).
31. Ông Trần Văn L8. Địa chỉ trú: p B, Q, huyện Đ, tỉnh C (vắng
mặt).
32. Ông Nguyễn Hùng M3. Địa chỉ trú: Ấp K, Q, huyện Đ, tỉnh C
(vắng mặt).
33. Ủy ban nhân dân xã Q. Địa chỉ: Ấp C, xã Q, huyện Đ, tỉnh C (vắng mặt).
- Người kháng cáo: Ông Lê Đình D1 là nguyên đơn; Cụ Cao Thị S1bị
đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn ông Lê Đình D1 trình bày:
m 1981, Phòng lương thực huyện Năm Căn (cũ) do ông Nguyễn Công
Thạnh (đã chết) đại diện Phòng lương thực huyện và ông Hồ Công Thạnh (đã chết)
đại diện Ủy ban nhân dân xã An Lập đã sang nhượng phn đất của bà Nguyễn Th
Lan Anh tại ấp Khai Hoang, xã An Lập, huyện Năm n, tỉnh Minh Hải (cũ)
(nay p Khai Hoang m, xã Quách Phẩm, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau)
với
giá 4.000 đồng để làm kho lương thực. Năm 1983, địa phương dời đê ngăn mặn
vào phần bờ ranh của S1 Lan Anh, năm 1989 đắp đê quốc phòng trên
phần đê ngăn mặn thì phần kho ở bên ngoài và bị ngập nước nên Phòng lương thực
đã bao lại chống ngập kho thóc đến năm 1990 Phòng lương thc huyện bàn
giao li toàn bộ phần đất cho ông quản lý (khi giao có lập biên bn nhưng đã b
tht lạc do n bão s 5 năm 1997); ông quản , sdụng đến năm 2015 khi làm
thủ tục cấp giấy chứng nhận thì phát sinh tranh chấp với cụ Cao Thị S1; cụ S1 xác
định ông không có giấy chứng nhận nên không cho đo đạc làm thủ tục cấp giấy; cụ
4
S1 đã khởi kiện đến tòa án, sau đó cụ S1 rút đơn khởi kiện Tòa án đã ra quyết
định đình chỉ giải quyết vụ án.
Trên phần đất, hiện nay ông xây 02 khu vực nhà s dụng cùng với vợ
là Trần Thị C2 và các con, gồm: Lê Minh T4, Minh X và Th Yến N3;
quá tnh s dụng ông không sang nhượng, tặng cho phần đất cho hộ dân nào, các
hộ dân đã tự ý vào đất xây dựng nhà sử dụng cho đến nay.
Từ những nội dung trên, ông D1 xác định phần đất tranh chấp đã được
Phòng lương thực giao cho ông quản lý, sử dụng nên ông yêu cầu cụ S1 những
người liên quan di dời tài sản trả lại diện tích theo đo đạc 15.256,7m
2
tọa lạc tại ấp
Khai Hoang Vàm, Quách Phẩm, huyện Đầm Dơi, tỉnh Mau (gồm các phần
đất nằm trong ngoài giấy chứng nhận của cụ S1) yêu cầu cụ S1 bồi thường
tiền mất thu nhập trong thời gian không sử dụng (do cụ S1 ngăn cản) từ tháng
01/2015 đến nay với tổng số tiền 165.000.000 đồng.
- Bđơn Cao Thị S1, người đại diện theo ủy quyền của cụ S1 ông Nguyễn
Văn H2 trình bày:
Gia đình cụ S1 khai phá diện tích từ năm 1984, đến năm 1987 Ủy ban nhân
dân (cũ) do ông Hồ Công Thạnh (Chủ tịch ) ông 2 Ân (không xác định
được họ, tên) liên hệ ợn phần đất làm kho lương thực đngười dân đóng thuế
bằng lúa; đến khoảng năm 1989-1990 người dân đóng thuế bằng tiền nên không sử
dụng kho này và trong năm 1990 Ủy ban nhân dân huyện Đầm Dơi cấp giấy chứng
nhận cho cụ S1 tổng diện tích 20.340m
2
(bao gồm phần đất làm kho lương thực),
sau đó ông Thạnh phân công ông Nguyễn Hoài Phong đến thông báo trả lại phần
đất mượn làm kho lương thực; khi này cụ S1 đặt vấn đề việc phần nhà kho mà
ông Đình D1 sử dụng nên yêu cầu trả lại thì ông Phong ý kiến để ông D1
tiếp tục sử dụng cụ S1 đồng ý. Khi Nhà nước múc đê ngăn mặn chia đôi phần
đất của cụ S1, phần phía trong cụ S1 sử dụng, phần phía ngoài khoảng 12.000m
2
,
cụ S1 cho ông D1 mướn giá 50kg gạo/tháng (không có giấy tờ) nhưng cho đến nay
ông D1 không trả gạo thuê đất cho cụ S1. Năm 2015, Chi nhánh Văn phòng đăng
đất đai huyện Đầm Dơi đến đo đạc cấp giấy chứng nhận cho ông D1, qua kiểm
tra thực tế xác định phần đất của cụ S1 nên không làm hồ cấp giấy từ đó phát
sinh tranh chấp; cụ S1 khởi kiện yêu cầu ông D1 trả lại đất nhưng do điều kiện gia
đình nên đã rút đơn khởi kiện tòa án đã đình chỉ giải quyết vụ án. Phần đất hiện
nay c S1 s dụng cùng với ông Nguyễn Văn M1, Đỗ Cẩm H1 anh
Nguyễn n D2; phần ao ni ông Nguyễn n L2 không còn s dụng đã tr
lại cho bà S1.
Qua yêu cầu của ông D1 về yêu cầu cụ S1 những người liên quan trả lại
diện tích đất 15.256,7m
2
; yêu cầu cụ S1 bồi thường tiền mất thu nhập 165.000.000
đồng thì ông H2 không đồng ý. Ông H2 giữ nguyên yêu cầu phản tố của cụ S1, yêu
cầu ông D1 trả lại diện tích đất thuê theo đo đạc 11.298,2m
2
(sẽ trphần đất m
lộ giao thông khi m giy chứng nhận); phần nm ngoài các phần tranh chấp do
ông D1 quản , sử dng t ông không ý kiến. Đối với các phần đất cụ S1 đã
cho, đã sang nhượng, gồm: Ông Hà Văn S2, ông Hà Bửu T3, ông Dương Quốc N4,
Nguyễn Thị M2, ông Nguyễn Văn L2 ông Nguyễn Thanh Q đã xây nhà nên
5
ông H2 yêu cầu giữ nguyên cho những hộ này tiếp tục sdụng; riêng đối với hộ
ông Thanh D3 mặc cụ S1 không sang nhượng nhưng do ông D3 xây nhà
nên ông cũng đồng ý giữ nguyên cho ông D3 tiếp tục sử dụng nhưng không được
sang nhượng cho người khác, khi không sử dụng nữa sẽ trả lại đất cho cụ S1; phần
đất liên quan đến ông Võ Minh Luân phải di dời tài sản để trả lại cho cụ S1.
Đối với yêu cầu của cụ S1 về việc yêu cầu ông D1 trả gạo thuê đất từ năm
1991 đến năm 2015 theo mức 600kg gạo/năm 14.400 kg tương đương số tiền
172.000.000 đồng, ông H2 rút lại không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Thanh D3 trình bày:
Vào năm 1994, ông cất 01 căn nhà ở Vàm Khai Hoang để hành nghề y tế (do
ông D1 quản nên ông đã hỏi được ông D1 đồng ý), sau đó nhiều hộ dân đến
cất nhà trên phần đất khu vực này. Quá trình sử dụng ông Trần Văn L8 đã nhận
chuyển nhượng lại phần đất của một số hộ dân để đầu làm kho xăng dầu, nng
sau đó ông L8 không có làm năm 2007 ông L8 đã sang nhượng lại cho ông phần
đất nền này kích thước 20mx20m với giá 8.500.000 đồng; vào năm 2015 căn
nhà của ông bị sạt lở toàn bộ xuống sông nên ông đã dời lên cất nhà trên phần đất
sang của ông L8; phần nhà xây dựng kích thước chiều ngang khoảng 12m, chiều
i khoảng 15m (trùm ra tới mé ng) ông sử dụng cùng với vợ Trịnh
L6 cho đến nay.
Do phần sang nhượng nằm trong phần đất tranh chấp giữa ông D1 cụ S1
nên ông yêu cầu giữ nguyên cho ông tiếp tục sử dụng theo đo đạc thực tế.
Tại phiên tòa ngày 20/7/2023, ông D3 xác định: Khi tòa án giải quyết
quyết định phần đất thuộc quyền sở hữu của cụ S1 hoặc ông D1 thì ông sẽ thỏa
thuận với cụ S1 (hoặc ông D1) về căn nhà xây dựng trên phần đất tranh chấp;
trường hợp cụ S1 (hoặc ông D1) không đồng ý cho sử dụng thì ông sẽ di dời,
không yêu cầu ông đồng ý rút lại đối với yêu cầu độc lập về công nhận phần
đất đã cất nhà.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị L3 trình bày:
ông Nguyễn Văn L2 được cụ Cao Thị S1 (mchồng) cho ra riêng
cất nhà trên phần đất sử dụng từ năm 1996-1997 cho đến nay. Qua yêu cầu khởi
kiện của ông D1, L3 không đồng ý; yêu cầu giữ nguyên phần nhà, đất cho
gia đình sử dụng.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quanNguyễn Thị M2 trình bày:
M2 ông Lương Văn C3 được cụ Cao Thị S1 (mruột) cho phần đất
vào năm 1996-1997, năm 2017 được Nhà nước cất cho căn nhà tình thương sử
dụng cho đến nay. Qua yêu cầu khởi kiện của ông D1, M2 không đồng ý;
yêu cầu giữ nguyên phần nhà, đất cho gia đình sử dụng.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Dương Quốc N4, Trịnh Kim
L trình bày:
Ông N4, L sang nhượng phần đất của cụ Cao Thị S1 vào năm 2011, sử
dụng ổn định cho đến nay. Qua yêu cầu khởi kiện của ông D1, ông N4, bà L không
6
đồng ý, yêu cầu giữ nguyên phần nhà, đất cho gia đình sử dụng.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hà Bửu T3, thể hiện:
Ông sang nhượng phần đất của cụ S1 cách nay hơn 10 năm đã cất nhà,
sinh sống ổn định cho đến nay. Qua yêu cầu khởi kiện của ông D1, ông không
đồng ý và yêu cầu giữ nguyên phần nhà, đất cho gia đình sử dụng.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà M2 Thanh Ngân trình bày:
Khoảng năm 1996-1997 do khu vực Đập Khai Hoang bị giải tỏa, không
chỗ ở, nghe nói phần đất (hiện nay) của nhà nước nhưng ông D1 nói là của ông D1
nên đến hỏi ông D1 để cất nhà, buôn bán; bà Ngân đã cất căn nhà dài trên 20m,
bề ngang không nhớ (tiếp giáp Kinh Ba); đến khoảng năm 2014, do hoàn cảnh gia
đình nên đã sang lại toàn bộ phần nhà, đồ đạc, vật dụng buôn bán cho ông D1 với
giá 120.000.000 đồng. Hiện phần nhà, đất này không còn liên quan đến bà n
từ chối tham gia tố tụng tại tòa án.
Tại bản án dân sthẩm số:164/2023/DS-ST ngày 27 tháng 7 năm 2023
của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi quyết định:
1. Đình chỉ một phần yêu cầu phản tố của cụ Cao Thị S1 về việc yêu cầu ông
Đình D1 trả số gạo thuê đất từ năm 1991 đến năm 2015 14.400 kg gạo quy
đổi thành stiền là 172.000.000 đồng (mt trăm bảy mươi hai triệu đồng).
2. Đình chỉ yêu cầu độc lập của ông Thanh D3 về yêu cầu công nhận
phần nền nhà diện tích 123,4m
2
(trong phần tranh chấp 110,9m
2
lấn chiếm kinh
Khai Hoang 12,5m
2
).
3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đình D1 vviệc yêu cầu
cụ Cao Thị S1 những người liên quan gồm: Ông Nguyễn Văn M1, bà Đ Cm
H1, anh Nguyễn Văn D2, ông Văn S2, Thị Th, chị Tuyết Ng, anh
Hà Văn T2, anh Hà Phương T5, ông Hà Bửu T3, bà Trần Thị P1, anh Hà Công C1,
anh Văn L1, chị Thị U, Nguyễn Thị M2, ông Lương Văn C3, ông
Nguyễn Văn L2, L3 Thị L3, anh Nguyễn Văn L4, ông Nguyễn Thanh Q, chị
Nguyễn Thị H3, anh Nguyễn Văn V, ông Dương Quốc N4, Trịnh Kim L; ông
Thanh D3, bà Trịnh L6 ông Văn L7 di dời tài sản để trả lại tổng diện
ch đt 15.256,7m
2
tại p Khai Hoang Vàm, Quách Phm Bc, huyện Đầm
i, tnh Mau; bao gm: Tha s 4, diện tích 3.958,5m
2
do c S1 đứng n
quyền s dụng thửa s 2 diện tích 11.298,2m
2
(theo bn đ chỉnh lý năm
2011 thì thửa s 2 là diện tích đất Kinh Ba đất lấn chiếm kinh). Phần đất có vị
t t cận kèm theo.
Không chấp nhận yêu cầu của ông D1 về yêu cầu cụ S1 bồi thường thiệt hại
tiền mất thu nhập tổng số tiền 165.000.000 đồng.
4. Không chấp nhận toàn bộ u cầu phản t của cụ Cao Thị S1 vviệc
u cầu ông Đình D1 buộc ông Văn L7 di dời tài sản đ tr lại diện
ch đt 11.298,2m
2
tại p Khai Hoang Vàm, Quách Phm Bc, huyện Đầm
i, tỉnh Mau tại tha số 2 (theo bản đồ chỉnh m 2011 thì thửa số 2
din tích đất Kinh Ba đất lấn chiếm kinh). Phần đất v t t cn kèm theo.
7
(Kèm theo bản trích đo hiện trạng ngày 29/9/2022 của Công ty TNHH Phát triển
xanh Việt Nam)
Ngoài ra, án thẩm còn tuyên v chi phí tố tụng, lãi suất chậm trả, án phí
và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 08/8/2023, ông Đình D1 đơn kháng cáo toàn bộ bản án thẩm
yêu cầu cấp phúc thẩm xét xử theo hướng:
Buộc những người liên quan cùng cụ S1 di dời tài sản để trả lại tng diện
ch đt 15.256,7m
2
tại p Khai Hoang m, xã Quách Phẩm Bc, huyện Đầm
i, tnh Mau; bao gm: Tha s 4, diện tích 3.958,5m
2
do c S1 đứng n
quyền s dụng và tha số 2 diện tích 11.298,2m
2
.
Buộc cụ S1 bồi thường thiệt hại tiền mất thu nhập tổng stiền 165.000.000
đồng.
Ngày 09/8/2023, cụ Cao Thị S1 đơn kháng cáo bản án thẩm yêu cầu
cấp phúc thẩm sửa bản án thẩm theo hướng công nhận phần đất tranh chấp nằm
trong quyền sử dng đất của cụ. Chi phí tố tụng cụ S1 không phải chịu.
Tại phiên tòa, ông Đình D1 người đại diện theo ủy quyền của cụ Cao
Thị S1 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Phần tranh luận tại phiên toà:
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn tranh luận:
Ông D1 được Phòng lương thực huyện giao quản lý, sử dụng phần đất từ
năm 1990. Ông D1 đã sử dụng đến khi tranh chấp năm 2015 trên 25 năm. Ông
D1 canh tác ổn định từ khi được giao đến khi tranh chấp vào năm 2015 thì không
canh tác nữa do bị bà S1 ngăn cản. Ông D1 có nộp thuế đất ở đầy đủ, còn các phần
đất khác không thu thuế. Theo Công văn số 4730/UBND–VP ngày 30 tháng 11
năm 2022 của Ủy ban nhân dân huyện Đầm Dơi phần đất diện tích 11.289,2m
2
đủ
điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phục vụ mc đích nuôi trồng
thủy sản nên yêu cầu của ông D1 buộc S1 những người quyền lợi nghĩa
vụ liên quan trả đất căn cứ. S1 yêu cầu trả tiền thuê đất 165.000.000 đồng
không đồng ý S1 không thuê đất. S1 yêu cầu đo đất cho đủ diện
tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là không có cơ sở.
Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng
dân sự. Sửa bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi.
- Nguyên đơn ông Lê Đình D1 tranh luận: Không tranh luận.
- Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Nguyễn Văn H2 tranh luận:
Ông D1 là người xa lại nên chỉ tạm trên đất không giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất. Yêu cầu đo đạc đủ diện tích 20.340m
2
trả cho S1, còn lại là đất của
nhà nước bà S1 không can thiệp.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà phát biểu:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án; của Hội
đồng xét xử những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa
8
đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của
Bộ luật tố tụng dân sự. Không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Đình D1 và cụ Cao
Thị S1. Giữ nguyên bản án thẩm số: 164/2023/DS-ST ngày 27 tháng 7 năm
2023 của Toà án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Xét kháng cáo của ông Đình D1 cụ Cao Thị S1, Hội đồng xét xử nhận
định:
[1] Phần đất tranh chấp diện tích 15.256,7m
2
, tọa lạc tại ấp Khai Hoang
Vàm, xã Quách Phẩm, huyện Đầm Dơi, tỉnh Mau, trong đó 3.958,5m
2
do cụ
S1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 11.298,2m
2
diện tích đất
Kinh Ba do lấn chiếm chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
[2] Đối với phần đất tranh chấp diện tích 3.958,5m
2
: Phần đất này thuộc
thửa 307, 308 tờ bản đồ số 9 Bản đồ chỉnh năm 2011 do cụ Cao Thị S1 đứng
tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 1990. Cụ S1 người trực tiếp s
dụng đất từ trước khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đến nay.
Ông D1 thừa nhận, năm 1989, nnước đã đắp đê quốc phòng trên phần đê ngăn
mặn nên phần kho thóc ở bên ngoài đê bị ngập nước. Năm 1990, Phòng lương thực
bàn giao đất cho ông. Phần đất này nằm trong phần lộ nhà nước nên không thuộc
đất kho thóc. Thực tế, phần đất này cụ S1 đang sử dụng. Như vậy, phần đất này, cụ
S1 sử dụng ổn định, lâu dài đã được cấp giấy chứng nhận từ năm 1990 nên ông
D1 yêu cầu cụ S1 di dời công trình kiến trúc trên đất trả phần đất cho ông D1
không có căn cứ.
[3] Đối với phần đất diện tích 11.298,2m
2
.
Nguyên đơn, bị đơn thừa nhận: Phần đất tranh chấp trước đây kho chứa
lúa của nhà nước. Sau đó, kho chứa lúa giải thể. Ông D1 cho rằng sau khi giải thể
thì ông D1 được bàn giao quản phần đất cho đến nay. Cụ S1 ttrình bày phần
đất này nhà nước mượn của gia đình cụ S1 để làm kho lúa nên khi kho lúa giải thể
thì đã trả lại cho gia đình cụ. Trình bày này của các đương sự không văn bản
chứng minh. Ngoài ra, phần đất này theo trích đo hiện trạng ngày 29/9/2022 của
Công ty TNHH phát triển Xanh Việt Nam phần đất thuộc Kinh Ba do bị lấn
chiếm. Nhà nước chưa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nhân, tổ
chức nào. Theo quy định tại Điều 139, Điều 141 Luật đất đai thì đây phần đất
này do nhà nước quản nên việc giao đất, cho ai thuê đất sdo Ủy ban nhân dân
thẩm quyền quyết định. Phần đất này có nhiều người đang sử dụng, ông D1, cụ
S1 chưa được nhà nước thẩm quyền công nhận quyền sdụng phần đất hợp
pháp nên ông D1, cụ S1 yêu cầu Tòa án công nhận quyền sử dụng đất cho mình,
cũng như yêu cầu những người ở trên đất di dời nhà trả đất là không đúng quy định
pháp luật.
[4] Phần đất tranh chấp diện tích 11.298,2m
2
hiện nay vẫn thuộc quyền quản
của nhà nước. Ông D1 và cụ S1 đều chưa được nhà nước giao đất hoặc cho thuê
đất hợp pháp nên ông D1 khởi kiện yêu cầu cụ S1 và những người ở trên đất di dời
tài sản trả đất, yêu cầu cụ S1 bồi thường thiệt hại do mất thu nhập số tiền
9
165.000.000 đồng cụ S1 phản tố yêu cầu ông D1, ông L7 di dời tài sản trả đất là
không có cơ sở chấp nhận. Quyết định của án sơ thẩm là có căn cứ.
[5] Tại ng văn số 4730/UBND-VP ngày 30 tháng 11 năm 2022 của Ủy
ban nhân dân huyện Đầm Dơi xác định: Diện tích đất tranh chấp 11.298,2m
2
được
quy hoạch nuôi trồng thủy sản. Trong khi, trên phần đất này 11 hộ đang xây
dựng nhà trên đất, trong đó hộ ông Đình D1 hộ Cao Thị S1. Như vậy,
thực tế phần đất tranh chấp này nhiều người đang sinh sống, xây nhà ổn
định. Do đó, cần xác định những người trên đất quyền sử dụng phần đất
đang kích thước, diện tích bao nhiêu hay phải di dời thuộc thẩm quyền của
cơ quan hành chính nhà nước.
[6] Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Nguyễn Văn H2 yêu cầu đo đủ phần đất cụ
Cao Thị S1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hội đồng xét xử xét thấy
phần đất diện tích 11.298,2m
2
đất Kinh Ba, không thuộc diện tích đất cụ S1
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên yêu cầu này không được chấp
nhận. Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho ông D1 yêu cầu chấp nhận yêu
cầu khởi kiện của ông dung là không có cơ sở như nhận định tại các đoạn [4], [5].
[7] Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng
cáo của ông Lê Đình D1 và cụ Cao Thị S1. Giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp.
[8] Án phí n sự phúc thẩm: Ông Đình D1 cụ Cao Thị S1 đã trên 60
tuổi và có yêu cầu miễn nộp án phí nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[9] c quyết định kc của bản án thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị n không đặt ra
xemt.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về án phí, lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo ca ông Lê Đình D1 và cụ Cao Thị S1.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 164/2023/DS-ST ngày 27 tháng 7
năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.
Tuyên xử:
1. Đình chỉ một phần yêu cầu phản tố của cụ Cao Thị S1 về việc yêu cầu ông
Lê Đình D1 trả số gạo thuê đất từ năm 1991 đến năm 2015 14.400 kg gạo quy
đổi thành số iền 172.000.000 đồng (bằng chữ: một trăm bảy mươi hai triệu
đồng).
2. Đình chỉ yêu cầu độc lập của ông Thanh D3 về yêu cầu công nhận
quyền sử dụng phần nền nhà diện tích 123,4m
2
.
3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đình D1 vviệc yêu cầu
cụ Cao Thị S1 những người liên quan gồm: Ông Nguyễn Văn M1, bà Đ Cm
10
H1, anh Nguyễn Văn D2, ông Văn S2, Thị Th, chị Tuyết Ng, anh
Hà Văn T2, anh Hà Phương T5, ông Hà Bửu T3, bà Trần Thị P1, anh Hà Công C1,
anh Văn L1, chị Thị U, Nguyễn Thị M2, ông ơng Văn C3, ông
Nguyễn Văn L2, Thị L3, anh Nguyễn Văn L4, ông Nguyễn Thanh Q, chị
Nguyễn Thị H3, anh Nguyễn Văn V, ông Dương Quốc N4, Trịnh Kim L; ông
Thanh D3, bà Trịnh L6 ông Văn L7 di dời tài sản để trả lại tổng diện
ch đt 15.256,7m
2
tại p Khai Hoang Vàm, Quách Phm Bc, huyện Đầm
i, tnh Mau; bao gm: Tha s 4, diện tích 3.958,5m
2
do c S1 đứng n
quyền s dụng thửa s 2 diện tích 11.298,2m
2
(theo bn đ chỉnh lý năm
2011 t tha số 2 là diện ch đt Kinh Ba đất lấn chiếm kinh). Phần đt
c pa tiếp giáp:
- Pa Đông: Giáp đất bà Huỳnh Th Vọng.
- Pa Tây: Giáp Kinh Khai Hoang.
- Pa Nam: Giáp Kinh Ba.
- Pa Bc: Giáp phần đất n lại của cụ S1.
Không chấp nhận yêu cầu của ông D1 về yêu cầu cụ S1 bồi thường thiệt hại
tiền mất thu nhập tổng số tiền 165.000.000 đồng.
4. Không chấp nhận toàn bộ u cầu phản tố ca c Cao Thị S1 v vic
u cầu ông Đình D1 buộc ông Văn L7 di dời tài sản đ tr lại diện
ch đt 11.298,2m
2
tại p Khai Hoang m, xã Quách Phẩm Bc, huyện Đầm
i, tỉnh Mau tại tha số 2 (theo bản đồ chỉnh m 2011 thì thửa số 2
din tích đất Kinh Ba đất lấn chiếm kinh). Phần đất các phía tiếp gp:
- Pa Đông: Giáp đất bà Huỳnh Th Vọng.
- Pa Tây: Gp Kinh Khai Hoang.
- Pa Nam: Gp Kinh Ba (phần đất Kinh Ba ông D1 s dụng không
tranh chấp).
- Pa Bc: Giáp phần đất của cụ S1.
(kèm theo bản trích đo hiện trạng ngày 29/9/2022 của Công ty TNHH Phát triển
xanh Việt Nam)
5. Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ:
- Ông Đình D1 phải chịu 34.103.800 đng. Đối trsố tiền ông D1 đã
thanh toán 59.359.000 đồng thì ông D1 được nhận lại 25.255.200 đồng.
- Cụ Cao Thị S1 phải chịu 25.255.200 đồng. C S1 nghĩa v nộp lại số
tin này tại Chi cc Thi hành án n s huyện Đm Dơi để hoàn tr lại cho ông
D1.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người
phải thi hành án không thi hành án xong khoản tiền trên thì người phải thi hành
án còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468
Bộ luật Dân s tương ứng với thời gian số tiền chậm thi hành án.
11
6. Án pdân sự thẩm: Miễn toàn bộ cho ông Đình D1 cụ Cao Thị
S1. Ông Lê Thanh D3 không phải chịu. Hoàn trả lại cho ông D3 số tiền đã nộp tạm
ứng 300.000 đồng theo biên lai số 0013842 ngày 28/3/2023 của Chi cục Thi hành
án dân sự huyện Đầm Dơi.
7. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Đình D1 cụ Cao Thị S1 được miễn
án phí theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật
thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi;
- Chi cục THADS huyện Đầm Dơi;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn;
- Lưu VT(TM:TANDTCM).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đặng Minh Trung
Tải về
Bản án số 20/2024/DS-PT Bản án số 20/2024/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất