Bản án số 20/2020/HNGĐ-ST ngày 14/02/2020 của TAND huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa về vụ án ly hôn về bạo lực gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 20/2020/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 20/2020/HNGĐ-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 20/2020/HNGĐ-ST ngày 14/02/2020 của TAND huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa về vụ án ly hôn về bạo lực gia đình |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Hậu Lộc (TAND tỉnh Thanh Hóa) |
| Số hiệu: | 20/2020/HNGĐ-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 14/02/2020 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | hoonChij Trần Thị V xin ly hôn anh Trần Quốc tr |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Tỉnh Thanh Hóa Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 20/2020/HNGĐ-ST
Ngày 14/02/2020
V/v: Ly hôn, .
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- : Bà Cao Thị Nga.
Cá: Ông Phan Văn Lâm.
Bà Đỗ Thị Hà.
: Bà Trịnh Thị Thủy - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Hậu
Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thụy
Cầm - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh
Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 212/2019/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10
năm 2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét
xử số 52/2019/QĐXXST- HNGĐ ngày 16 tháng 12 năm 2019 giữa các đương sự:
: Chị Trần Thị V, sinh năm 1983.
Địa chỉ: Thôn H, xã Đ, huyện L, tỉnh Thanh Hóa.
: Anh Trần Quốc Tr, sinh năm 1982.
Địa chỉ: Thôn H, xã Đ, huyện L, tỉnh Thanh Hóa.
Tại phiên tòa chị Vui có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Trung vắng mặt lần thứ hai
không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
09/10/2019, 18/10/2019
:
2
: Chị và anh Trần Quốc Tr kết hôn trên cơ sở tự nguyện, cưới có
giấy đăng ký kết hôn tại UBND xã Đồng Lộc ngày 27/11/2009. Sau khi kết hôn thời
gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng những năm gần đây anh Tr thường
xuyên chửi bới, liên tục rượu chè, không chịu đi làm, không có trách nhiệm gánh vác
công việc gia đình con cái cùng chị V. Đến năm 2019 thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn
trầm trọng, nguyên nhân là do anh Tr đánh đập, chửi bới chị V thậm tệ. Vì vậy, chị
không thể chịu đựng sống chung cùng với anh Tr được nữa nên chị cùng với con trai
đã về nhà bố mẹ đẻ ở từ tháng 05/2019 cho đến nay, vợ chồng sống ly thân, không
quan tâm gì đến nhau. Nay chị V xét thấy tình cảm vợ chồng không còn khả năng để
hàn gắn đoàn tụ được nữa, nên chị đề nghị Toà án nhân dân huyện Hậu Lộc xem xét
giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Quốc Tr.
: Chị và anh Tr có một con chung là Trần Quốc A, sinh ngày
21/05/2011. Nguyện vọng của chị V xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu
Quốc A và không yêu cầu anh Tr cấp dưỡng nuôi con chung.
: Chị V xác định vợ chồng không có tài sản chung, không
vay nợ ai và không cho ai vay nợ gì, nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
:
Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập anh Trần Quốc
Tr nhiều lần đến Tòa án để giải quyết việc ly hôn với chị V nhưng anh Tr đều vắng
mặt không có lí do. Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc đã về tại gia đình và địa
phương để giao thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho anh Trần Quốc Tr.
Biên bản xác minh ngày 28/10/2019 tại thôn Nhân Hậu và UBND xã Đồng Lộc,
huyện Hậu Lộc hiện nay anh Tr đang có mặt và làm ăn, sinh sống tại địa phương. Anh
Tr đã được trưởng thôn giao thông báo thụ lý vụ án và Giấy triệu tập của Tòa án đến
làm việc nhưng anh Tr từ chối không nhận, các lần Tòa án về gia đình giao các văn
bản tố tụng thì anh Tr đều có mặt ở nhà nhưng từ chối không nhận các văn bản tố
tụng. Tại thời điểm xác minh anh Tr không có mặt tại gia đình, người thân cũng
không có ai ở nhà, nhưng theo báo cáo của trưởng thôn và công an xã thì anh Tr đang
sinh sống và làm việc tại địa phương. Vì vậy, Toà án đã tiến hành làm thủ tục để niêm
yết công khai theo đúng quy định của pháp luật. Anh Tr biết việc chị Trần Thị V có
đơn khởi kiện xin ly hôn đối với anh nhưng anh cố tình trốn tránh, không đến Toà án
để làm việc, gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án.
Ngày 31/12/2019, Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc đã đưa vụ án ra xét xử. Tại
3
phiên tòa có mặt chị Trần Thị V, nhưng anh Trần Quốc Tr vắng mặt lần thứ nhất
không có lí do nên Tòa án đã quyết định hoãn phiên tòa và thông báo đưa vụ án ra
xét xử lần thứ hai vào ngày 16/01/2020. Ngày 15/01/2020 chị Trần Thị V có đơn xin
hoãn phiên tòa. Tòa án Quyết định hoãn phiên toà và thông báo vụ án sẽ được xét xử
vào ngày 14/02/2020. Các quyết định hoãn phiên tòa đã được giao và niêm yết hợp
lệ cho anh Tr được biết. Ngày 07/02/2020 chị V có đơn xin xét xử vắng mặt, do đó
Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt chị V và anh Tr.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc tham gia phiên tòa phát biểu
quan điểm:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân thủ đầy đủ, đảm bảo
trình tự, thủ tục từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm hội đồng xét xử nghị án; người tham
gia tố tụng đã được thực hiện đầy đủ, đảm bảo đúng các quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy
định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1
Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các khoản 1 Điều 51, khoản 1
Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Trần Thị V, cho chị Trần Thị
V được ly hôn anh Trần Quốc Tr.
Về con: Xét thấy cháu Trần Quốc A, sinh ngày 21/5/2011 đang còn nhỏ, hiện
tại chị Vui đang chăm sóc, nuôi dưỡng và cháu có nguyện vọng được ở với mẹ nên
để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho cháu nên giao cháu Trần Quốc A cho chị V
trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.
Về tài sản và công nợ: Chị Trần Thị V không yêu cầu Tòa án giải quyết nên
không xem xét.
Nguyên đơn không có sự thay đổi, bổ sung, rút một phần hoặc toàn bộ về yêu cầu khởi
kiện.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn
cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền: Chị Trần Thị V khởi kiện ly hôn anh Trần Quốc Tr có nơi cư trú
tại thôn H, xã Đ, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Căn cứ Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35,
4
điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ Luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết
của Toà án nhân dân huyện Hậu Lộc.
[2] Về tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Toà án nhân dân huyện Hậu Lộc đã triệu tập
bị đơn là anh Trần Quốc Tr nhiều lần đến Tòa án để tiến hành các thủ tục tố tụng
trong vụ án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng anh Tr đều vắng mặt
không có lí do. Toà án đã tiến hành giao các văn bản tố tụng cho anh Tr nhưng anh
cố tình từ chối không nhận và không đến Toà án để làm việc, nên vụ án không tiến
hành hoà giải được.
Tại phiên toà lần thứ nhất ngày 31/12/2019 có mặt chị Trần Thị V nhưng anh
Trần Quốc Tr vắng mặt không có lý do nên Toà án đã quyết định hoãn phiên toà và
tiếp tục đưa vụ án ra xét xử lần thứ hai vào ngày 16/01/2020. Ngày 15/01/2020 chị
Trần Thị V có đơn xin hoãn phiên tòa. Tòa án Quyết định hoãn phiên toà và thông
báo vụ án sẽ được xét xử vào ngày 14/02/2020. Tại phiên tòa hôm nay chị V có đơn
xin xét xử vắng mặt, anh Tr vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều
227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét
xử vụ án với sự vắng mặt của anh Trần Quốc Tr và chị Trần Thị V.
[3] Chị Trần Thị V và anh Trần Quốc Tr kết hôn trên cơ sở hoàn
toàn tự nguyện, được UBND xã Đồng Lộc cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày
27/11/2009, như vậy hôn nhân giữa anh Tr và chị V là hôn nhân hợp pháp.
Xét nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị V và anh Tr: Sau khi kết hôn thời gian
đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng những năm gần đây anh Tr thường
xuyên chửi bời, liên tục rượu chè, không chịu đi làm, không có trách nhiệm gánh
vác công việc gia đình con cái cùng chị V. Đến năm 2019 thì vợ chồng mâu thuẫn
trầm trọng, anh Tr đánh đập, chửi bới chị V. Vì vậy, chị không thể chịu đựng sống
chung cùng với anh Tr được nữa nên chị V cùng với con trai đã về nhà ngoại ở từ
tháng 05/2019 cho đến nay, vợ chồng sống ly thân, không quan tâm gì đến nhau.
Như vậy, hôn nhân giữa chị V và anh Tr đã đến mức trầm trọng, đời sống chung
không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần chấp nhận đơn khởi
kiện của chị Trần Thị V, cho chị Trần Thị V được ly hôn anh Trần Quốc Tr là phù
hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[4] : Chị Trần Thị V và anh Trần Quốc Tr có 01 con chung là Trần
Quốc A, sinh ngày 21/05/2011. Ly hôn, nguyện vọng của chị V xin được trực tiếp
chăm sóc và nuôi dưỡng cháu Trần Quốc A.

5
Xét thấy nguyện vọng của chị Trần Thị V đề nghị về việc được nuôi dưỡng cháu
Quốc A là hoàn toàn chính đáng. Vì hiện nay cháu Quốc A đang còn nhỏ cần sự chăm
sóc, nuôi dưỡng của người mẹ, hơn nữa lâu nay cháu Quốc A do chị V chăm sóc, nuôi
dưỡng, nguyện vọng của cháu A cũng mong muốn ở với mẹ. Nên HĐXX chấp nhận
yêu cầu của chị Trần Thị V, giao chị V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Trần
Quốc A là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Chị V không yêu cầu anh Tr phải cấp dưỡng tiền nuôi
con chung cùng chị, nên HĐXX không xem xét.
[5].Về tài sản và công nợ: Chị V không yêu cầu Toà án giải quyết, nên miễn xét.
[6].Về án phí: Buộc chị Trần Thị V phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp
luật.
,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,
Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố
tụng dân sự;
Điều 51, Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và
Gia đình.
Điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp,
quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị V.
: Chị Trần Thị V được ly hôn anh Trần Quốc Tr.
: Chấp nhận cháu Trần Quốc A, sinh ngày 21/5/2011 là con chung giữa chị V
và anh Tr. Giao cho chị Trần Thị V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Trần Quốc A cho
đến khi cháu Trần Quốc A đủ tuổi thành niên, anh Tr có quyền, nghĩa vụ thăm nom con
mà không ai được cản trở, nhưng anh Tr cũng không được lạm dụng quyền thăm nom con
để gây ảnh hưởng đến cuộc sống riêng của chị V.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Chị V không yêu cầu anh Tr cấp dưỡng nuôi con chung.
: Chị Trần Thị V phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly
hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị V đã nộp theo biên lai thu

6
tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2019/0008033 ngày 10 tháng 10 năm 2019 của
Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc ( Chị V đã nộp đủ tiền án phí).
án
Về quyền kháng cáo: Chị V, anh Tr có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày
kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa
- VKSND huy.
- H.
- UBND xã
-
-
Cao Thị Nga
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng