Bản án số 19/2023/DS-ST ngày 20/04/2023 của TAND TX. Thuận An, tỉnh Bình Dương về tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 19/2023/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 19/2023/DS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 19/2023/DS-ST ngày 20/04/2023 của TAND TX. Thuận An, tỉnh Bình Dương về tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TX. Thuận An (TAND tỉnh Bình Dương) |
| Số hiệu: | 19/2023/DS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 20/04/2023 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Chấp nhận yêu cầu |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ T
TỈNH BÌNH DƢƠNG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Thu Thảo
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Dƣơng Thị Bạn
2. Bà Trần N PH.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Hạnh - Thƣ ký Toà án nhân dân
thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương tham
gia phiên toà: Bà Bùi Thanh Thủy – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 13 và 20 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân
thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số:
233/2022/TLST-DS ngày 28 tháng 10 năm 2022 về việc Tranh chấp thừa kế tài
sản theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 09/2023/QĐXXST-DS ngày 28
tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố T, giữa các đƣơng sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1972, nơi cƣ trú: 5/1 khu phố
N, phƣờng T, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng.
Người đại diện hợp pháp của bà T: Bà Lƣu Thị H, sinh năm 1961; địa chỉ:
440 (K1/A35 cũ) Đại lộ Bình Dƣơng, tổ 13, khu 1, phƣờng H, thành phố T, tỉnh
Bình Dƣơng (Hợp đồng ủy quyền ngày 17/11/2020), có mặt.
2. Bị đơn:
2.1. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1966, nơi cƣ trú: 163/1 (số cũ 4/27) khu
phố 1, phƣờng T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: 5/1 khu phố N,
phƣờng T, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng, có mặt khi xét xử nhƣng vắng mặt
không lý do khi tuyên án.
2.2 Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1974, nơi cƣ trú: 5/1 khu phố N, phƣờng T,
thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng, có mặt khi xét xử nhƣng vắng mặt không lý do
khi tuyên án.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bản án số:19/2023/DS-ST
Ngày: 20 - 4 - 2023.
V/v: Tranh chấp về thừa kế T1 sản.

2
3.1. Ông Nguyễn N C1, sinh năm 1962, nơi cƣ trú: 32/1 khu phố N,
phƣờng T, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng.
Người đại diện hợp pháp của ông C1: Bà Nguyễn Thị Thanh U, sinh năm
1980; địa chỉ: 32/1 khu phố N, phƣờng T, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng (văn
bản ủy quyền ngày 08/9/2020), có mặt.
3.2. Ông Nguyễn N T, sinh năm 1954; nơi cƣ trú: 22/1 khu phố N, phƣờng
T, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng, có đơn xin vắng mặt.
3.3. Ông Nguyễn N C, sinh năm 1959; nơi cƣ trú: Số 554/13/3/1 đƣờng
30/4 Tổ 83, Khu phố 9, phƣờng C, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng, có mặt khi
xét xử nhƣng vắng mặt không lý do khi tuyênyên án.
3.4. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1956; nơi cƣ trú: Số 17, khu phố Vĩnh
Trƣờng, phƣờng Tthị xã T, tỉnh Bình Dƣơng, có mặt khi xét xử nhƣng vắng mặt
không lý do khi tuyên án.
3.5. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1955; có đơn xin vắng mặt.
3.6. Ông Nguyễn N P, sinh năm 1978; có đơn xin vắng mặt.
3.7. Ông Nguyễn N H, sinh năm 1982; có đơn xin vắng mặt.
3.8. Bà Nguyễn Thị N D, sinh năm 1986; có đơn xin vắng mặt.
Cùng nơi cƣ trú: 5A/1 khu phố N, phƣờng T, thành phố T, tỉnh Bình
Dƣơng.
3.9. Phòng công chứng số 2 tỉnh Bình Dƣơng, trụ sở: 30/7 đƣờng ĐT 743C
phƣờng B, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng, do ông Nguyễn Phú Cƣờng, Trƣởng
phòng đại diện, có đơn xin vắng mặt.
NỘI DNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 22/11/2019, các lời khai có tại hồ sơ vụ án và tại
phiên tòa, nguyênyên đơn bà Nguyễn Thị T và người đại diện hợp pháp của
nguyênyên đơn bà Lưu Thị H thống nhất trình bày:
Bà Nguyễn Thị D và ông Nguyễn Văn B là vợ chồng. Bà Nguyễn Thị D,
sinh năm 1932 chết năm 2014, ông Nguyễn N B sinh năm 1925 chết năm 1990.
Ông B, bà D sống chung từ trƣớc năm 1952 và có 10 ngƣời con gồm: Ông
Nguyễn N D (ông D, sinh năm 1952 chết 2015, ông D có vợ là Nguyễn Thị T và
các con là Nguyễn N P, Nguyễn N H, Nguyễn Thị N D), ông Nguyễn N C, sinh
năm 1959, bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1956, ông Nguyễn N T, sinh năm 1954,
ông Nguyễn N L, sinh năm 1964 chết năm 2007, ông L chết không vợ không
con, ông Nguyễn N T, sinh năm 1969 chết năm 2004 ông T không vợ không
con, Nguyễn Thị T, sinh năm 1972, ông Nguyễn N C1, sinh năm 1962, bà
Nguyễn Thị N, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1974. Bà D có cha
là Nguyễn Văn T, sinh năm 1900, chết năm 1970 (không có giấy chứng tử); mẹ
bà D là Nguyễn Thị T, sinh năm 1908, chết năm 1949 (không có giấy chứng tử).
Ông Nguyễn N B chết ngày 01/10/1990, bà Nguyễn Thị D chết ngày 28/3/2014.
3
Ngày 22/6/2009 Ủy ban nhân dân huyện T (nay là thành phố T) cấp đổi
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 045903, số vào sổ H03980/TTLT
ngày 22/6/2009 cho hộ bà Nguyễn Thị D với diện tích 8.595,9m
2
thuộc các thửa
153, 168, 216 tờ bản đồ 25 tọa lạc tại khu phố N, phƣờng T, thành phố T, tỉnh
Bình Dƣơng. Ngày 15/8/2009 cập nhật biến động sau khi tặng cho các con gồm
Nguyễn Thị N diện tích đất 104,7m
2
; Nguyễn Thị L diện tích đất 87,7m
2
và
Nguyễn Thị T diện tích 87,7m
2
thì diện tích còn lại 8.315,8m
2
.
Ngày 07/10/2009, bà D lập Tờ di chúc để lại toàn bộ quyền sử dụng đất
diện tích 8.315,8m
2
cho 04 ngƣời con là Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị L, Nguyễn
Thị T và Nguyễn N C1. Di chúc đã đƣợc Phòng Công chứng số 2, tỉnh Bình
Dƣơng công chứng số 1482 quyển số 01TP/CC-SCC/HĐGD ngày 07/10/2009.
Tuyêny nhiên nội Dng di chúc không ghi rõ từng ngƣời con đƣợc hƣởng diện
tích đất cụ thể là bao nhiêu mà chỉ ghi nhận thừa kế chung toàn bộ diện tích
quyền sử dụng đất nói trên khi bà D qua đời. Ngày 28/3/2014, bà D chết, các
đồng thừa kế xảy ra tranh chấp. Do đó, bà Nguyễn Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa
án giải quyết chia di sản thừa kế theo di chúc của bà Nguyễn Thị D chết để lại.
Bà T đồng ý trừ diện tích đƣờng nội bộ 159,4m
2
theo sơ đồ bản vẽ đã đƣợc cơ
quan chU môn đo vẽ để làm lối đi chung cho các thửa 261, 262, 263, 264, 265,
266, đồng thời do phần đƣờng nội bộ trên không tiếp giáp đƣờng N nên bà T
đồng ý trừ một phần diện tích còn lại để nối liền với đƣờng nội bộ hiện hữu ra
đến đƣờng N để làm lối đi chung cho các thửa đất phía sau. Diện tích đất còn lại
bao nhiêu sẽ chia làm 4 cho những ngƣời đã đƣợc chỉ định theo di chúc của bà
D, bà T yêu cầu đƣợc nhận bằng hiện vật. Bà T không yêu cầu chia giá trị tài sản
trên đất (bao gồm các căn nhà, cây trồng…). Trƣờng hợp phần diện tích đất
đƣợc chia gắn liền nhà thì bà sẽ tặng cho lại cho các đồng thừa kế khác có yêu
cầu nhận giá trị nhà. Ngoài ra, sau khi bà T đƣợc nhận di sản theo di chúc, bà T
đồng ý tặng cho lại ông Nguyễn N T diện tích đất 1.000m
2
CLN trong diện tích
đất bà T đƣợc nhận.
Bà T không đồng ý với yêu cầu độc lập của ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan ông Nguyễn N C. Đề nghị Tòa án áp dụng thời hiệu đối với yêu cầu
độc lập của ông Nguyễn N C.
Tài liệu chứng cứ mà nguyênyên đơn cung cấp gồm: Giấy khai tử bà
Nguyễn Thị D và ông Nguyễn N B, Bản di chúc đã được Phòng Công chứng số
2, tỉnh Bình Dương công chứng số 1482 quyển số 01TP/CC-SCC/HĐGD ngày
07/10/2009; Giấy khai sinh Nguyễn Thị T; Tờ tường trình quan hệ nhân thân
của người để lại di sản; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H03980/TTLT
ngày 22/6/2009 và các tài liệu khác có liên quan.
- Bị đơn bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị L thống nhất trình bày:
Về quan hệ huyết thống: Thống nhất với trình bày của nguyênyên đơn về
quan hệ huyết thống của bà Nguyễn Thị D.
Về tài sản: Thống nhất kết quả đo đạc, định giá của cơ quan chuyên môn về
diện tích đo đạc thực tế là 8.322m
2
. Bà N, bà L thống nhất về nội Dng di chúc
4
do bà D lập ngày 07/10/2009 tại Phòng Công chứng số 2, tỉnh Bình Dƣơng công
chứng số 1482 quyển số 01TP/CC-SCC/HĐGD ngày 07/10/2009. Bà N, bà L
đồng ý trừ đƣờng nội bộ 159,4m
2
, thuộc các thửa 153, 168, 216 (thửa mới là
409) tờ bản đồ 25 (theo sơ đồ bản vẽ đã đƣợc cơ quan chU môn đo vẽ để làm lối
đi chung cho các thửa 261, 262, 263, 264, 265, 266) tọa lạc tại khu phố N,
phƣờng T, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng. Bà N, bà L thống nhất ý kiến bà T về
việc tiếp tục trừ một phần diện tích còn lại để nối với đƣờng nội bộ hiện hữu ra
đến đƣờng N để làm lối đi chung cho các thửa đất phía sau. Diện tích đất còn lại
bao nhiêu sẽ chia làm 4 cho những ngƣời đã đƣợc chỉ định theo di chúc của bà
D. Bà L, bà N yêu cầu nhận đúng phần của mình đƣợc hƣởng mỗi ngƣời ¼ và
tách riêng từng phần, không nhập chung nhƣ những bản án trƣớc đây. Ngoài ra,
bà N, bà L đề nghị Tòa án xem xét chia giá trị căn nhà trên đất làm 08 phần cho
hàng thừa kế thứ nhất của bà D. Bà N, bà L yêu cầu đƣợc nhận kỷ phần thừa kế
đối với giá trị căn nhà.
Tài liệu chứng cứ mà bị đơn cung cấp gồm: Chứng minh nhân dân, sổ hộ
khẩu và các tài liệu có liên quan.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn N C1 do bà Nguyễn
Thị Thanh U là người đại diện hợp pháp thống nhất trình bày: Thống nhất với
trình bày của nguyên đơn, bị đơn về quan hệ huyết thống của bà Nguyễn Thị D.
Ông C1 thống nhất di chúc bà D đã lập, cụ thể: Ông C1 đồng ý chia phần diện
tích đo đạc thực tế 8.322m
2
sau khi trừ đƣờng nội bộ 159,4m
2
, thuộc các thửa
153, 168, 216 (thửa mới là 409) tờ bản đồ 25 (theo sơ đồ bản vẽ đã đƣợc cơ
quan chU môn đo vẽ để làm lối đi chung cho các thửa 261, 262, 263, 264, 265,
266) tọa lạc tại khu phố N, phƣờng T, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng. Ngoài ra,
ông C1 đồng ý về việc tiếp tục trừ một phần diện tích còn lại để nối với đƣờng
nội bộ hiện hữu ra đến đƣờng N để làm lối đi chung cho các thửa đất phía sau.
Số còn lại ông C1 đề nghị đƣợc nhận ¼ diện tích theo bản di chúc bà D đã định
đoạt theo biên bản hòa giải thành trƣớc đây của Tòa án, ông C1 đồng ý chia đều
cho 04 ngƣời con đƣợc chỉ định gồm: Bà T, N, L và C1 và đề nghị chia cụ thể
từng phần cho mỗi ngƣời. Riêng phần nhà trên đất do bà D để lại thì ông C1
không yêu cầu chia giá trị tài sản. Ông C1 không đồng ý với yêu cầu độc lập của
ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn N C. Đề nghị Tòa án áp
dụng thời hiệu đối với yêu cầu độc lập của ông Nguyễn N C.
Quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông
Nguyễn N T trình bày: Nguyênồn gốc phần đất tranh chấp là của bà Nguyễn Thị
D sử dụng từ thời trƣớc. Bà D là ngƣời đăng ký kê khai đối với toàn bộ quyền sử
dụng. Khi bà D già yếu thì bà D đều cho anh, chị, em mỗi ngƣời một phần. Phần
còn lại bà D lập di chúc để lại cho 04 ngƣời con là Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị
N, Nguyễn Thị L và Nguyễn N C1. Di chúc đã đƣợc công chứng hợp pháp nên
ông T thống nhất yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc chia di sản của bà D
theo di chúc cho 04 ngƣời con đƣợc chỉ định trong di chúc. Riêng phần nhà trên
đất ông T không ý kiến, trƣờng hợp Tòa án chia giá trị căn nhà thì ông xin từ
chối nhận giao lại cho ai quản lý phần nhà đƣợc hƣởng. Theo ý kiến bà T sau
5
khi bà T nhận di sản theo di chúc và bà T tặng cho lại ông T 1.000m
2
CLN thì
ông đồng ý nhận phần 1.000m
2
này. Riêng phần nhà của bà D thì ông T đồng ý
chia cho bà T một phần tọa lạc trên phần đất bà T đƣợc chia, phần nhà còn lại thì
đồng ý giao cho bà N quản lý. Ông T không có yêu cầu độc lập trong vụ án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T trình bày: Thống
nhất với trình bày của nguyên đơn, bị đơn về quan hệ huyết thống của bà
Nguyễn Thị D.
Về di sản bà D chết để lại: Sau khi ông B chết, bà D là ngƣời trực tiếp quản
lý, sử dụng và đăng ký kê khai diện tích đất. Bà T và bà L là ngƣời sống cùng bà
D khi bà D còn sống, những anh chị em khác đều có gia đình và sống riêng.
Trƣớc khi bà D chết thì bà D đã lập di chúc để lại quyền sử dụng đất cho 04
ngƣời con là Nguyễn N C1, Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị L.
Nay bà T ý kiến nhƣ sau: Đề nghị Tòa án công nhận di chúc là hợp pháp,
riêng đối với phần nhà của bà D chết để lại thì không yêu cầu chia mà đề nghị
giữ nguyên để làm nơi thờ cúng. Còn việc chia quyền sử dụng đất thì đồng ý
giải quyết theo quy định của pháp luật cho 04 ngƣời con theo di chúc là Nguyễn
N C1, Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị L. Bà T đồng ý với ý kiến của
nguyên đơn, bị đơn về việc chừa lại phần đất chiều rộng 2,5 mét làm lối đi
chung cho các thửa đất 261, 262, 263, 264, 265, 266 vì nguyênyện vọng của bà
D trƣớc khi chết cũng thể hiện chỉ chừa đƣờng có chiều rộng 2,5 m. Bà T đồng ý
nhận 1.000m
2
đất CLN do bà N tặng cho lại sau khi bà N đƣợc chia theo di
chúc.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn N C trình bày:
Nguyênồn gốc đất là do cha mẹ cụ Nguyễn N B khai phá, sau đó vợ chồng cụ
Nguyễn N B và cụ Nguyễn Thị D sử dụng canh tác sản xuất nông nghiệp từ
trƣớc năm 1975 cho đến khi đƣợc cấp GCN lần đầu vào năm 2004. Ngày
01/10/1990 cụ B mất nhƣng không để lại di chúc và phần tài sản của cụ chƣa
đƣợc giải quyết. Theo GCNQSĐ cấp số AP 045903, số vào sổ: H03980/TTLT
do UBND huyện T cấp ngày 22/6/2009 thì có ghi rõ cấp cho hộ bà Nguyễn Thị
D, khi cụ D lập tờ di chúc đã trên 70 tuyênổi, nhƣng không có ai là ngƣời làm
chứng. Nhƣ vậy, Tòa án phải xem xét di chúc đó có đúng không? đúng theo điều
khoản nào, điều luật nào? Trƣờng hợp di chúc hợp pháp thì Tòa án cứ xem xét
chia cho những ngƣời thừa kế đƣợc chỉ định trong di chúc. Ông C đồng ý nhận
1.000m
2
đất CLN do bà L tặng cho sau khi Tòa án công nhận di chúc chia đất
cho bà L. Tại phiên tòa, ông Nguyễn N C vẫn giữ nguyên yêu cầu độc lập ngày
17/12/2021, cụ thể:
- Hủy Văn bản cam kết về tài sản chung của hộ gia đình số 1458, quyển số
01/TP/CC-SCC/HĐGB ngày 01/10/2009 tại Phòng công chứng số 2, tỉnh Bình
Dƣơng;
- Hủy toàn bộ Tờ di chúc đã đƣợc Phòng Công chứng số 2, tỉnh Bình
Dƣơng công chứng số 1482 quyển số 01TP/CC-SCC/HĐGD ngày 07/10/2009;
6
- Chia cho ông Nguyễn N C 1/8 di sản là phần diện tích 8.322 m
2
thuộc các
thửa 153, 168, 216 (thửa mới là 409) tờ bản đồ 25 tọa lạc tại khu phố N, phƣờng
T, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng của ông Nguyễn N B và bà Nguyễn Thị D để
lại. Ông C đề nghị đƣợc nhận bằng hiện vật.
Đối với giá trị căn nhà là công trình trên đất của bà D để lại thì ông C yêu
cầu chia làm 8 và ông yêu cầu đƣợc nhận giá trị theo kỷ phần dƣợc hƣởng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T bà Nguyễn Thị N
D, ông Nguyễn N H, ông Nguyễn N P thống nhất trình bày: Bà T, bà D, ông H,
ông P là vợ, con ông Nguyễn N D (chết ngày 10/12/2015), khi ông D và bà D
còn sống thì bà D đã cho ông D quyền sử dụng đất diện tích khoảng 183,2m
2
,
hiện nay đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất riêng nên bà T, bà D, ông H,
ông P không có yêu cầu gì đối với phần T sản đang tranh chấp. Trƣớc đây, ông
D, ông H, ông P, bà D có tên trong sổ hộ khẩu chung bà D nhƣng không có
quyền gì đối với phần đất đang tranh chấp. Phần đất tranh chấp là của bà D nên
bà D lập di chúc để lại cho ai là quyền của bà. Bà T, bà D, ông H, ông P không
có yêu cầu độc lập trong vụ án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phòng Công chứng số 2, tỉnh Bình
Dương do ông Nguyễn Phú Cường đại diện trình bày: Tờ di chúc số 1482,
Quyển số 01/TP/CC-SCC/HĐGD do Công chứng viên Phòng công chứng số 2
tỉnh Bình Dƣơng công chứng ngày 07/10/2009. Bà Nguyễn Thị D đã tự
nguyênyện lập di chúc, đã đọc lại di chúc, đồng ý toàn bộ nội Dng di chúc và ký
tên vào bản di chúc có sự chứng kiến của Công chứng viên. Tại thời điểm công
chứng bà D hoàn toàn minh mẫn, sáng suốt, tự nguyênyện lập Tờ di chúc, không
bị lừa dối, không bị ép buộc. Đồng thời tại thời điểm công chứng bà Nguyễn Thị
D có phiếu khám sức khỏe số 11483/GĐYK-SK để dùng vào việc lập di chúc do
Trung T Giám định y khoa pháp y - Sở Y tế tỉnh Bình Dƣơng thực hiện ngày
17/9/2009 với kết luận “tinh thần minh mẫn đủ sức khỏe lập di chúc”. Tại thời
điểm công chứng, Phòng Công chứng số 2 không nhận đƣợc bất kỳ văn bản nào
của cơ quan có thẩm quyền đề nghị ngăn chặn việc thực hiện các quyền của
ngƣời sử dụng đất đã cấp cho hộ bà Nguyễn Thị D, đồng thời có văn bản cam
kết tài sản chung hộ gia đình đã đƣợc Phòng công chứng số 2 công chứng số
1458, quyển số 01/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 01/10/2009. Do đó Phòng Công
chứng số 2 tỉnh Bình Dƣơng công chứng di chúc của bà Nguyễn Thị D là đúng
quy định của pháp luật.
Phòng Công chứng số 2 cung cấp cho Tòa án toàn bộ tài liệu liên quan đến
việc công chứng Tờ di chúc số 1482, Quyển số 01/TP/CC-SCC/HĐGD do Công
chứng viên Phòng công chứng số 2 tỉnh Bình Dƣơng công chứng ngày
07/10/2009.
Ý kiến của Kiểm sát viên về việc tuyênân theo pháp luật tố tụng trong quá
trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thƣ ký tòa án, việc chấp
hành pháp luật của ngƣời tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến
trƣớc thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật
Tố tụng dân sự.
7
Về nội Dng: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về
việc chia thừa kế theo di chúc đối với quyền sử dụng đất do cụ D để lại; Chia
thừa kế theo pháp luật đối với giá trị tài sản gắn liền trên đất. Đình chỉ yêu cầu
độc lập của ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn N C do hết thời
hiệu.
Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyênyện của các đƣơng sự về
việc mở lối đi nội bộ diện tích 241,7m
2
thuộc các thửa 153, 168, 216 (thửa mới
là 409) tờ bản đồ 25 tọa lạc tại khu phố N, phƣờng T, thành phố T, tỉnh Bình
Dƣơng.
Ghi nhận sự tự nguyênyện của bà Nguyễn Thị T, bà Nguyễn Thị N, bà
Nguyễn Thị L về việc tặng cho các ông, bà Nguyễn N T, Nguyễn N C và
Nguyễn Thị T mỗi ngƣời với diện tích 1.000m
2
đất CLN trong tổng số diện tích
đất bà T, bà N, bà L đƣợc chia theo di chúc.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật: Ngày 22/11/2019, bà Nguyễn Thị T có đơn
khởi kiện yêu cầu Tòa án chia thừa kế tài sản là phần đất thuộc các thửa 153,
168, 216 (thửa mới là 409) tờ bản đồ 25 tọa lạc tại khu phố N, phƣờng T, thành
phố T, tỉnh Bình Dƣơng. Do đó xác định đây là vụ án “Tranh chấp về thừa kế
tài sản” theo quy định tại Khoản 5 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Do đối tƣợng tranh chấp là quyền sử dụng
đất tại khu phố N, phƣờng T, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng. Căn cứ vào khoản
5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng
dân sự thì đây là vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành
phố T, tỉnh Bình Dƣơng.
[1.3] Về việc tham gia phiên tòa của các đương sự: Ngƣời có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan Phòng Công chứng số 2 tỉnh Bình Dƣơng, bà Nguyễn Thị T,
bà Nguyễn Thị N D, ông Nguyễn N H, ông Nguyễn N P, ông Nguyễn N T đều
có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân
sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những ngƣời có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan trên.
[1.4] Những nội Dng các đƣơng sự thống nhất:
- Về hàng thừa kế: Bà Nguyễn Thị D (chết ngày 28/3/2014) có chồng là
ông Nguyễn N B (chết ngày 01/10/1990), những ngƣời còn sống thuộc hàng
thừa kế thứ nhất tại thời điểm mở thừa kế, gồm: Nguyễn N T, Nguyễn Thị T,
Nguyễn N C, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị T, Nguyễn N C1 và
ông Nguyễn N D. Ông D chết nên vợ và các con ông D gồm: Nguyễn Thị T,
Nguyễn N P, Nguyễn N H và Nguyễn Thị N D là hàng thừa kế thứ nhất của ông
D. Nhƣ vậy, việc các đƣơng sự thống nhất về các con chung, con riêng và cha
mẹ của bà D là tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều
92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
8
- Các đƣơng sự thống nhất về kết quả đo đạc, định giá đối với đất và tài sản
trên đất tranh chấp, không yêu cầu đo đạc, định giá lại tài sản tranh chấp.
- Về tài sản trên đất theo sơ đồ bản vẽ trong mảnh trích lục địa chính có đo
đạc chỉnh lý số 117-2021 ngày 11/6/2021 có các tài sản nhƣ sau:
Nhà chính diện tích 118m
2
, kết cấu nhà 01 tầng, khung bê tông cốt thép,
tƣờng gạch, có trần đổ sêno, nền gạch men, mái tôn.
Nhà phụ (nhà 2) diện tích 95,7m
2
, kết cấu nhà 01 tầng, cột gạch, tƣờng
gạch, không có trần, nền gạch men, mái tôn.
Nhà sau diện tích 27,8m
2
, kết cấu nhà 01 tầng, cột gạch, tƣờng gạch, không
có trần, nền gạch men.
Nhà vệ sinh diện tích 08 m
2
(do bà N xây dựng) và nhà vệ sinh diện tích 07
m
2
, kết cấu nhà 01 tầng, cột gạch, tƣờng xây gạch ốp gạch men, nền gạch men.
Một số tài sản khác nhƣ nền sân gạch, sân xi măng, giếng khoan dân
dụng… và cây trái nhƣ tràm mít, dừa, xoài…
[2] Các vấn đề có tranh chấp:
[2.1] Về nguyênồn gốc đất:
Ngày 27/3/1985 ông Nguyễn N B có đăng ký kê khai ruộng đất theo chỉ thị
299 tại xã Tân Thới (nay là phƣờng T). Ngày 01/10/1990 ông B chết. Nhƣ vậy,
tại thời điểm ông B chết thì ông B chƣa đƣợc cơ quan Nhà nƣớc có thẩm quyền
nào cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định. Ngày 07/01/2001 bà
Nguyễn Thị D có đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất. Ngày 07/01/2004 Ủy ban
nhân dân huyện T (nay là thành phố T) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
số vào sổ 01533QSDĐ/TTLT với diện tích 10.800,5m
2
thuộc các thửa 153,168
và 216 tờ bản đồ số 25 đất tọa lạc tại khu phố N, thị trấn T cho hộ bà Nguyễn
Thị D. Ngày 11/10/2007 bà D có đơn xin cấp lại, cấp đổi giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất. Ngày 13/12/2007 Ủy ban nhân dân huyện T (nay là thành phố T)
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H02318/TTLT với diện tích
10.570,9m
2
cho hộ bà Nguyễn Thị D. Ngày 22/6/2009 Ủy ban nhân dân huyện T
(nay là thành phố T) cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
H03980/TTLT với diện tích 1.050,9m
2
thuộc các thửa 153,168 và 216 tờ bản đồ
số 25 đất tọa lạc tại khu phố N, thị trấn T cho hộ bà Nguyễn Thị D. Ngày
09/7/2009 bà D tặng cho một phần quyền sử dụng đất cho các con gồm Nguyễn
Thị N diện tích 104,7m
2
, Nguyễn Thị L diện tích 87,7m
2
, Nguyễn Thị T diện
tích 87,7m
2
. Sau khi cập nhật biến động ngày 15/8/2009, thì phần đất còn lại của
hộ bà Nguyễn Thị D thuộc các thửa 153,168,216 tờ bản đồ số 25 có diện tích
8.315,8m
2
. Căn cứ công văn số 297/CATP-QLHC ngày 03/02/2023 của Công an
thành phố T xác định: “Thời điểm 07/01/2004 hộ bà Nguyễn Thị D có những
thành viên sau: Nguyễn N B, Nguyễn Thị D, Nguyễn N Thạch, Nguyễn Thị T,
Nguyễn Thị L, Nguyễn N D, Nguyễn Thị N D, Nguyễn N P. Tại điểm
13/12/2007 đến ngày 22/6/2009 hộ bà Nguyễn Thị D có những thành viên sau:
Nguyễn Thị D, Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị L, Nguyễn N D, Nguyễn Thị N D,
9
Nguyễn N P”. Ngày 01/10/1990 ông B chết khi ông B chết thì phần đất trên
chƣa đƣợc cấp Giấy chứng nhận theo quy định nên chƣa P sinh thừa kế quyền sử
dụng đất đối với ông B. Ngày 21/01/2004 ông Nguyễn N Thạch chết (ông Thạch
không vợ con). Ngày 10/12/2015 ông D chết, vợ và các con ông D xác định: Tại
thời điểm bà D đƣợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bà D, ông P
ông D có tên trong hộ gia đình của bà D. Quá trình tố tụng vợ con ông Nguyễn
N D là bà Nguyễn Thị T, Nguyễn N P, Nguyễn N H và Nguyễn Thị N D đều xác
định không có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gì đến thửa đất tranh chấp. Quá
trình tố trụng, các đƣơng sự đều xác định từ năm 1976 ông Nguyễn N D đã ra
riêng sinh sống cùng vợ con nhƣng do chƣa có chỗ ở ổn định nên nhập khẩu
cùng hộ bà Nguyễn Thị D. Năm 2009 bà D chia đất cho các con thì ngày
24/9/2009 ông Nguyễn N D cùng Nguyễn N P và Nguyễn Thị N D cắt khẩu đến
địa chỉ 5A/1 khu phố N, phƣờng T, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng sinh sống cho
đến nay và toàn bộ quyền sử dụng đất cấp cho hộ bà D thuộc quyền sử dụng
riêng của bà D (BL 388,389). Ngày 01/10/2009 tại Phòng công chứng số 2 tỉnh
Bình Dƣơng, bà Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị D lập văn bản cam
kết về tài sản chung của hộ gia đình xác định toàn bộ quyền sử dụng đất theo
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 045903, số vào sổ H03980/TTLT do
Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 22/6/2009 biến động ngày 15/8/2009, thuộc
các thửa 153,168,216, tờ bản đồ số 25 là tài sản riêng của bà Nguyễn Thị D.
Đồng thời, tại phiên tòa, các ông, bà Nguyễn N C, Nguyễn Thị T xác định từ khi
ông B chết (năm 1990) thì toàn bộ quyền sử dụng đất trên do bà Nguyễn Thị D
đăng ký kê khai và quản lý sử dụng và quá trình quản lý sử dụng. Ngoài ra, khi
còn sống bà D tiến hành tách thửa tặng cho các con một phần quyền sử dụng đất
nhƣng không ai có ý kiến và không có yêu cầu gì. Nhƣ vậy có căn cứ xác định
quyền sử dụng đất thuộc các thửa 153,168,216, tờ bản đồ số 25 có diện tích
8.315,80m
2
(đo đạc thực tế 8.322m
2
) theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
AP 045903, số vào sổ H03980/TTLT do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày
22/6/2009 biến động ngày 15/8/2009 là tài sản riêng của bà Nguyễn Thị D.
[2.2] Xét di chúc: Nhƣ đã phân tích tại mục [2.1] có căn cứ xác định đây là
tài sản riêng của bà Nguyễn Thị D. Căn cứ Điều 105 bà Điều 113 Luật đất đai
năm 2003 (thời điểm bà D lập di chúc) bà Nguyễn Thị D có toàn quyền định
đoạt đối với phần tài sản của mình theo quy định pháp luật. Ngày 07/10/2009 tại
Phòng công chứng số 02 tỉnh Bình Dƣơng bà Nguyễn Thị D lập tờ Di chúc có
nội Dng: “…khi tôi chết thì các ông, bà Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị L, Nguyễn
Thị N và Nguyễn N C1 được hưởng phần di sản của tôi để lại là toàn bộ quyền
sử dụng đất…được đăng ký quyền sử dụng đất, được thực hiện các quyền…”, tại
thời điểm lập di chúc bà Nguyễn Thị D có phiếu khám sức khỏe số
11483/GĐYK-SK để dùng vào việc lập di chúc do Trung T Giám định y khoa
pháp y - Sở Y tế tỉnh Bình Dƣơng thực hiện ngày 17/9/2009 với kết luận “tinh
thần minh mẫn đủ sức khỏe lập di chúc”. Tại văn bản trình bày ý kiến của Phòng
công chứng số 2 tỉnh Bình Dƣơng xác định: Tại thời điểm công chứng bà D
hoàn toàn minh mẫn, sáng suốt, tự nguyện lập Tờ di chúc, không bị lừa dối,
không bị ép buộc, bà Nguyễn Thị D đã đọc lại di chúc, đồng ý toàn bộ nội Dng
10
di chúc và ký tên vào bản di chúc có sự chứng kiến của Công chứng viên. Do
đó, Tờ di chúc do bà D lập ngày 07/10/2009 là hợp pháp theo quy định tại Điều
652 Bộ luật Dân sự năm 2005.
[2.3] Về nội Dng di chúc: Xét Tờ di chúc ngày 07/10/2009, bà Nguyễn Thị
D lập để lại toàn bộ quyền sử dụng đất diện tích còn lại là 8.315,8m
2
, đo đạc
thực tế là 8.322m
2
cho 04 ngƣời con là Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị L, Nguyễn
Thị T và Nguyễn N C1. Tuy nhiên, nội Dng di chúc chỉ quyết định di sản là
quyền sử dụng đất và không nêu rõ cụ thể mỗi ngƣời đƣợc hƣởng bao nhiêu nên
quyền sử dụng đất sẽ đƣợc chia đều cho 04 ngƣời con có tên trong di chúc là bà
Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn N C1 theo
quy định tại khoản 1 Điều 659 Bộ luật Dân sự.
[2.4] Xét yêu cầu độc lập của ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông
Nguyễn N C: Căn cứ phân tích tại các mục [2.1],[2.2] thì quyền sử dụng đất trên
là tài sản riêng của bà D và di chúc của bà Nguyễn Thị D là hợp pháp nên yêu
cầu độc lập của ông Nguyễn N C về việc Hủy Văn bản cam kết về tài sản chung
của hộ gia đình số 1458, quyển số 01/TP/CC-SCC/HĐGB ngày 01/10/2009 tại
Phòng công chứng số 2, tỉnh Bình Dƣơng; Hủy toàn bộ Tờ di chúc đã đƣợc
Phòng Công chứng số 2, tỉnh Bình Dƣơng công chứng số 1482 quyển số
01TP/CC-SCC/HĐGD ngày 07/10/2009; Chia cho ông Nguyễn N C 1/8 di sản
là phần diện tích 8.322 m
2
thuộc các thửa 153, 168, 216 (thửa mới là 409) tờ bản
đồ 25 tọa lạc tại khu phố N, phƣờng T, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng của ông
Nguyễn N B và bà Nguyễn Thị D để lại là không có cơ sở nên Hội đồng xét xử
không chấp nhận.
[2.5] Đối với yêu cầu chừa diện tích lối đi nội bộ, kéo dài tiếp giáp đƣờng
N trƣớc khi chia thừa kế quyền sử dụng đất của các đƣơng sự. Xét: Thực tế hiện
trạng thửa đất đang tồn tại lối đi chung nội bộ chiều rộng 2,5m, tổng diện tích
159,4m
2
, tuyêny nhiên lối đi này chƣa giáp đƣờng công cộng (N). Căn cứ khoản
3 Điều 254 Bộ luật dân sự quy định quyền về lối đi qua, để đảm bảo cho lối đi
của các thửa đất phía trong và phù hợp với yêu cầu của các đƣơng sự cần thiết
mở lối đi chiều rộng 2,5m tiếp giáp đƣờng N, tổng diện tích là 241,7m
2
thuộc
các thửa 153, 168, 216 (thửa mới là 409) tờ bản đồ 25 tọa lạc tại khu phố N,
phƣờng T, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng.
[2.6] Đối với tài sản trên đất: Do di chúc không định đoạt nên theo yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn chia theo pháp luật cho 8 ngƣời thừa kế là phù hợp
với quy định tại điểm a khoản 2 Điều 650 Bộ luật dân sự năm 2015. Quá trình
giải quyết vụ án và tại phiên tòa, các đƣơng sự thống nhất tài sản bà D chết lại
gồm: Nhà chính (nhà 1) diện tích 118m
2
; Nhà phụ (nhà 2) diện tích 95,7m
2
; Nhà
sau (nhà 3) diện tích 27,8m
2
; nhà vệ sinh diện tích 07m
2
. Xét, tại biên bản xác
minh ngày 13/10/2007 của Ủy ban nhân dân thị trấn T (BL 508) thể hiện trên đất
bà D có 04 căn nhà và xây dựng lần lƣợt vào các năm 1985, 1988, 2003, 1960
sửa chữa năm 2000. Căn cứ Quyết định số 02/2022/QĐ-UBND ngày 10/01/2022
của tỉnh Bình Dƣơng quy định về mức độ khôi phục lại tình trạng ban đầu của
đất trƣớc khi vi phạm đối với từng loại vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất
11
đai trên địa bà tỉnh Bình Dƣơng thì những căn nhà trên không thuộc trƣờng hợp
vi phạm phải tháo dỡ nên khi giải quyết cần xem xét tính giá trị để chia cho các
đồng thừa kế. Theo biên bản định giá ngày 03/3/2021 của Hội đồng định giá thì
TÀI sản trên đất có giá trị nhƣ sau; nhà chính (nhà 1) thành tiền
327.450.000đồng, nhà phụ (nhà 2) thành tiền 188.571.000đồng, nhà sau (nhà 3)
thành tiền 54.835.500đồng, nhà vệ sinh diện tích 07m
2
thành tiền
18.585.000đồng. Tổng giá trị 589.441.500đồng, di sản này sẽ đƣợc chia đều cho
hàng thừa kế thứ nhất của bà D gồm 8 chi gồm: Nguyễn N T, Nguyễn Thị T,
Nguyễn N C, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị T, Nguyễn N C1 và
ông Nguyễn N D. Do ông D đã chết nên vợ và các con ông D đƣợc hƣởng chi
thừa kế ông D. Tại phiên tòa bà T không yêu cầu đƣợc nhận giá trị căn nhà. Do
bà T không nhận giá trị tài sản trên đất nhƣng phần đất bà T đƣợc chia có tài sản
của bà D nên phần di sản của bà D sẽ chia cho 7 kỷ phần gồm: (Nguyễn N T,
Nguyễn N C, Nguyễn N C1, Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị N và chi
của ông Nguyễn N D), cụ thể mỗi kỷ phần là: (589.441.500đồng: 7 kỷ phần =
84.205.900đồng).
Phần đất bà T đƣợc chia có các tài sản của bà D gồm: Nhà chính (nhà 1)
diện tích 9,6m
2
thành tiền là 26.640.000đồng; nhà phụ (nhà 2) diện tích 35m
2
thành tiền 69.037.500đồng; tổng giá trị tài sản trên phần đất bà T là
95.677.500đồng. Bà Nguyễn Thị T không nhận kỷ phần đối với giá trị tài sản là
các căn nhà. Do đó, bà T có trách nhiệm thanh toán kỷ phần cho các đồng thừa
kế khác gồm: ông Nguyễn N C1, ông Nguyễn N T, ông Nguyễn N C, (Chi ông
D), bà Nguyễn Thị T), mỗi kỷ phần nhận là: 95.677.500đồng : 5 =
19.135.500đồng.
Phần đất bà L đƣợc chia có các tài sản của bà D gồm: Nhà chính (nhà 1)
diện tích 57,9m
2
thành tiền là 160.672.500đồng; nhà phụ (nhà 2) diện tích
40,4m
2
thành tiền 79.689.000đồng; nhà sau (nhà 3) diện tích 3m
2
thành tiền
5.917.500 đồng; nhà vệ sinh diện tích 7m
2
thành tiền 18.585.000đồng tổng giá
trị tài sản trên phần đất bà L là 264.864.000đồng. Do kỷ phần đƣợc chia đối với
tài sản là các căn nhà trên đất là 84.205.900đồng. Vì vậy, bà Nguyễn Thị L có
trách nhiệm thanh toán giá trị chênh lệch cho các đồng thừa kế khác gồm: ông
Nguyễn N C1, ông Nguyễn N T, ông Nguyễn N C, (Chi ông D), bà Nguyễn Thị
T) mỗi kỷ phần nhận là: 180.658.100đồng: 5 = 36.131.620đồng.
Phần đất bà N đƣợc chia có các tài sản của bà D gồm: Nhà chính (nhà 1)
diện tích 50,5m
2
thành tiền là 140.137.500đồng; nhà phụ (nhà 2) diện tích
20,2m
2
thành tiền 39.844.500đồng; nhà sau (nhà 3) diện tích 24,8m
2
thành tiền
48.918.000đồng tổng giá trị tài sản trên phần đất bà N là 228.900.000đồng.
Ngoài ra, bà N còn đƣợc quản lý, sử dụng nhà vệ sinh 8m
2
do bà N xây dựng.
Do kỷ phần đƣợc chia đối với tài sản trên đất là 84.205.900đồng. Vì vậy, bà
Nguyễn Thị N có trách nhiệm thanh toán kỷ phần cho các đồng thừa kế khác
gồm: ông Nguyễn N C1, ông Nguyễn N T, ông Nguyễn N C, (Chi ông D), bà
Nguyễn Thị T), mỗi kỷ phần nhận là: 144.694.100đồng : 5 = 28.938.820đồng.
12
Ghi nhận sự tự nguyênyện của ông Nguyễn N C1, ông Nguyễn N T về việc
không nhận giá trị chênh lệch do bà Nguyễn Thị T, bà Nguyễn Thị N và bà
Nguyễn Thị L thanh toán đối với phần tài sản (nhà) do bà D chết để lại.
[2.7] Về phân chia quyền sử dụng đất theo di chúc: Xét, do di chúc là hợp
pháp nhƣ đã phân tích tại mục [2.2] nêu trên, đồng thời các đƣơng sự thống nhất
trừ diện tích lối đi nội bộ 241,7m
2
(trong đó có diện tích 159,4m
2
đã đƣợc thể
hiện tại các thửa từ 261 đến 266 và diện tích 82,3m
2
nối tiếp từ phần lối đi nội
bộ ra đến đƣờng N). Thì diện tích còn lại theo đo đạc thực tế là 8.080,3m
2
sẽ
chia đều cho 04 ngƣời gồm: Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị N và
Nguyễn N C1, cụ thể: 8.080,3m
2
(làm tròn) 8.080m
2
: 4 = 2.020m
2
(trong đó có
51m
2
đất ODT).
[2.7.1] Đối với việc bà T, bà L, bà N tặng cho quyền sử dụng đất cho ông
T, bà T, ông C. Do di chúc là hợp pháp bà T, bà L, bà N mỗi ngƣời đƣợc nhận
diện tích 2.020m
2.
Quá trình hòa giải và tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị T tự
nguyênyện tặng cho ông Nguyễn N T 1.000m
2
đất CLN trong tổng diện tích bà
đƣợc nhận theo di chúc. Bà Nguyễn Thị N tự nguyện tặng cho bà Nguyễn Thị T
diện tích 1.000m
2
đất CLN trong tổng số đất bà N đƣợc chia theo di chúc. Bà
Nguyễn Thị L tự nguyện tặng cho ông Nguyễn N C diện tích 1.000m
2
đất CLN
trong tổng số đất bà L đƣợc chia theo di chúc. Xét đây là sự tự nguyện của các
đƣơng sự và phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Từ những phân tích nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T về yêu cầu công nhận di chúc,
chia tài sản thừa kế do bà Nguyễn Thị D để lại.
Không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nguyễn N C.
[3] Ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên chấp nhận.
[4] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Tổng chi phí
tố tụng là 13.984.348 đồng. Tại phiên tòa nguyên đơn đề nghị giải quyết theo
quy định. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đƣợc chấp nhận nên nguyên
đơn, bị đơn và những ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đƣợc nhận thừa kế
phải chịu theo quy định.
[5] Về án phí: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T, bị đơn bà Nguyễn Thị L, bà
Nguyễn Thị N và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn N C1 có
yêu cầu chia kỷ phần thừa kế của mình theo di chúc và đã đƣợc Tòa án chấp
nhận nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần tài sản mình đƣợc chia
theo di chúc. Ngoài ra, bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị N, chi của ông D gồm
(Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị N D, Nguyễn N H, Nguyễn N P) phải chịu án phí
cho phần di sản là phần giá trị căn nhà trên đất. Xét ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan gồm ông Nguyễn N C1, ông Nguyễn N C, bà Nguyễn Thị T đã trên 60
tuyênổi, thuộc trƣờng hợp ngƣời C1 tuyênổi nên đƣợc miễn nộp tiền án phí theo
quy định.
13
Chi của ông Nguyễn N D (do bà Nguyễn Thị T, Nguyễn N P, Nguyễn N H,
Nguyễn Thị N D) phải chịu án phí cho kỷ phần đƣợc nhận. Tuy nhiên, bà
Nguyễn Thị T là ngƣời C1 tuổi nên đƣợc miễn 1/4 phần án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Các Điều 26; 35; 39; 147; 227; 266; 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Các Điều 652, 659 Bộ luật Dân sự 2005;
- Các Điều 609; 613; 614; 623; 624; 625; 626; 628; 630; 650; 651; 688 Bộ
luật Dân sự 2015;
- Điều 105, 106, 113 Luật Đất đai năm 2003;
- Các Điều 166; 167; 168 Luật Đất đai năm 2013;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội
quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí
Toà án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T về việc
tranh chấp thừa kế tài sản đối với bị đơn bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị L.
Công nhận di chúc số 1482 quyển số 01TP/CC-SCC/HĐGD do Phòng
Công chứng số 2, tỉnh Bình Dƣơng lập ngày 07/10/2009 đối với phần đất thuộc
các thửa 153, 168, 216 (thửa mới là 409) tờ bản đồ 25 tọa lạc tại khu phố N,
phƣờng T, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số H0390/TTLT ngày 22/6/2009 do Ủy ban nhân dân huyện T (nay là thành
phố T) cấp cho hộ bà Nguyễn Thị D là hợp pháp.
1.1. Chia cho bà Nguyễn Thị T đƣợc quyền quản lý, sử dụng phần đất diện
tích 1.020m
2
(trong đó có 51m
2
đất thổ cƣ và 969m
2
đất CLN) thuộc thửa số 409
tờ bản đồ 25 cùng toàn bộ tài sản gắn liền đất, trong đó gồm một phần Nhà
chính (nhà 1) diện tích 9,6m
2
; một phần nhà phụ (nhà 2) diện tích 35m
2
. Phần
nhà, đất tọa lạc tại khu phố N, phƣờng T, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng theo
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H0390/TTLT ngày 22/6/2009 do Ủy ban
nhân dân huyện T (nay là thành phố T) cấp cho hộ bà Nguyễn Thị D (ký hiệu 1).
1.2. Chia cho bà Nguyễn Thị L đƣợc quyền quản lý, sử dụng phần đất diện
tích 1.020m
2
(trong đó có 51m
2
đất thổ cƣ và 969m
2
đất CLN) thuộc thửa số 409
tờ bản đồ 25 cùng toàn bộ tài sản gắn liền đất, trong đó gồm một phần Nhà
chính (nhà 1) diện tích 57,9m
2
; một phần nhà phụ (nhà 2) diện tích 40,4m
2
; một
phần nhà sau (nhà 3) diện tích 3m
2
; nhà vệ sinh diện tích 7m
2
. Phần nhà, đất tọa
lạc tại khu phố N, phƣờng T, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng theo giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số H0390/TTLT ngày 22/6/2009 do Ủy ban nhân dân
huyện T (nay là thành phố T) cấp cho hộ bà Nguyễn Thị D (ký hiệu 2).
1.3. Chia cho bà Nguyễn Thị N đƣợc quyền quản lý, sử dụng phần đất diện
tích 1.020m
2
(trong đó có 51m
2
đất thổ cƣ và 969m
2
đất CLN) thuộc thửa số 409
14
tờ bản đồ 25 cùng toàn bộ tài sản gắn liền đất, trong đó gồm một phần Nhà
chính (nhà 1) diện tích 50,5m
2
; một phần nhà phụ (nhà 2) diện tích 20,2m
2
; một
phần nhà sau (nhà 3) diện tích 24,8m
2
. Ngoài ra, bà N còn đƣợc quản lý, sử dụng
nhà vệ sinh 8m
2
do bà N xây dựng. Phần nhà, đất tọa lạc tại khu phố N, phƣờng
T, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
H0390/TTLT ngày 22/6/2009 do Ủy ban nhân dân huyện T (nay là thành phố T)
cấp cho hộ bà Nguyễn Thị D (ký hiệu 3).
1.4. Chia cho ông Nguyễn N C1 đƣợc quyền quản lý, sử dụng phần đất có
diện tích 2.020m
2
(trong đó có 51m
2
đất thổ cƣ và 1.969m
2
đất CLN) thuộc thửa
số 409 tờ bản đồ 25 cùng toàn bộ cây trồng gắn liền phần đất đƣợc chia, phần
đất tọa lạc tại khu phố N, phƣờng T, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng theo giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số H0390/TTLT ngày 22/6/2009 do Ủy ban nhân
dân huyện T (nay là thành phố T) cấp cho hộ bà Nguyễn Thị D (ký hiệu 4).
2. Ghi nhận sự tự nguyênyện của bà Nguyễn Thị T, bà Nguyễn Thị N, bà
Nguyễn Thị L, ông Nguyễn N C1, ông Nguyễn N C, ông Nguyễn N T, bà
Nguyễn Thị T, bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn N H, ông Nguyễn N P, bà
Nguyễn Thị N D về việc chừa lối diện tích 241,7m
2
(trong đó có 159,4m
2
hiện
trạng lối đi đã đƣợc thể hiện theo các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của
các ông, bà Nguyễn N T, ông Nguyễn N C1, bà Nguyễn Thị T, bà Nguyễn Thị
T, bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị L và diện tích 82,3 m
2
) tiếp giáp đƣờng N
thuộc các thửa 153, 168, 216 (thửa mới là 409) tờ bản đồ 25 tọa lạc tại khu phố
N, phƣờng T, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng theo giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số H0390/TTLT ngày 22/6/2009 do Ủy ban nhân dân huyện T (nay là
thành phố T) cấp cho hộ bà Nguyễn Thị D để làm lối đi chung ra đƣờng N (ký
hiệu A).
3. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan ông Nguyễn N C về việc hủy Văn bản cam kết về tài sản chung của hộ gia
đình số 1458, quyển số 01/TP/CC-SCC/HĐGB ngày 01/10/2009 tại Phòng công
chứng số 2, tỉnh Bình Dƣơng; Hủy toàn bộ Tờ di chúc đã đƣợc Phòng Công
chứng số 2, tỉnh Bình Dƣơng công chứng số 1482 quyển số 01TP/CC-
SCC/HĐGD ngày 07/10/2009; Chia di sản của bà D là quyền sử dụng đất làm 8
phần.
4. Ghi nhận sự tự nguyênyện của bà Nguyễn Thị T, bà Nguyễn Thị L và bà
Nguyễn Thị N về việc tặng cho các ông, bà Nguyễn N T, Nguyễn N C và
Nguyễn Thị T mỗi ngƣời 1.000m
2
đất CLN, thuộc thửa số 409 tờ bản đồ 25 đất
tọa lạc tại khu phố N, phƣờng T, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng.
4.1. Ông Nguyễn N T đƣợc quyền quản lý, sử dụng phần đất có diện tích
1.000m
2
đất CLN (do bà Nguyễn Thị T tặng cho), thuộc thửa số 409 tờ bản đồ
25 cùng toàn bộ cây trồng gắn liền phần đất phần đất tọa lạc tại khu phố N,
phƣờng T, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số H0390/TTLT ngày 22/6/2009 do Ủy ban nhân dân huyện T (nay là thành
phố T) cấp cho hộ bà Nguyễn Thị D (ký hiệu 5).
15
4.2. Bà Nguyễn Thị T đƣợc quyền quản lý, sử dụng phần đất có diện tích
1.000m
2
đất CLN (do bà Nguyễn Thị N tặng cho), thuộc thửa số 409 tờ bản đồ
25 cùng toàn bộ cây trồng gắn liền phần đất tọa lạc tại khu phố N, phƣờng T,
thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
H0390/TTLT ngày 22/6/2009 do Ủy ban nhân dân huyện T (nay là thành phố T)
cấp cho hộ bà Nguyễn Thị D (ký hiệu 6).
4.3. Ông Nguyễn N C đƣợc quyền quản lý, sử dụng phần đất có diện tích
1.000m
2
đất CLN (do bà Nguyễn Thị L tặng cho), thuộc thửa số 409 tờ bản đồ
25 cùng toàn bộ cây trồng gắn liền phần đất phần đất tọa lạc tại khu phố N,
phƣờng T, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số H0390/TTLT ngày 22/6/2009 do Ủy ban nhân dân huyện T (nay là thành
phố T) cấp cho hộ bà Nguyễn Thị D (ký hiệu 7).
Tất cả có sơ đồ bản vẽ kèm theo.
Các ông bà Nguyễn N T, ông Nguyễn N C, ông Nguyễn N C1, bà Nguyễn
Thị T, bà Nguyễn Thị T, bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị L có trách nhiệm liên
hệ với cơ quan Nhà nƣớc có thẩm quyền để thực hiện thủ tục cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất trên theo quy định.
Kiến nghị Ủy ban nhân dân thành phố T thu hồi, điều chỉnh Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số H0390/TTLT ngày 22/6/2009 biến động ngày
15/8/2009 do Ủy ban nhân dân huyện T (nay là thành phố T) cấp cho hộ bà
Nguyễn Thị D để phù hợp với nội dung Quyết định.
5. Chia kỷ phần đối với tài sản trên đất:
5.1. Chia cho bà Nguyễn Thị T kỷ phần thừa kế với số tiền 84.205.900đồng
(tám mƣơi B triệu hai trăm lẻ năm nghìn chín trăm đồng) đối với công trình tài
sản là các căn nhà trên đất, (do Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị L và Nguyễn Thị N
thanh toán).
5.2. Chia cho ông Nguyễn N C kỷ phần thừa kế với số tiền 84.205.900đồng
(tám mƣơi B triệu hai trăm lẻ năm nghìn chín trăm đồng) đối với công trình tài
sản là các căn nhà trên đất, (do Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị L và Nguyễn Thị N
thanh toán).
5.3. Chia cho chi của ông Nguyễn N D (do bà Nguyễn Thị T, Nguyễn N H,
Nguyễn N P, Nguyễn Thị N D là hàng thừa kế thứ nhất của ông D) kỷ phần thừa
kế với số tiền 84.205.900đồng (tám mƣơi B triệu hai trăm lẻ năm nghìn chín
trăm đồng) đối với công trình tài sản là các căn nhà trên đất, (do Nguyễn Thị T,
Nguyễn Thị L và Nguyễn Thị N thanh toán).
5.4. Ghi nhận sự tự nguyênyện của ông Nguyễn N T, ông Nguyễn N C1 và
bà Nguyễn Thị T về việc từ chối nhận giá trị bồi hoàn kỷ phần đối với công
trình, tài sản, cây trồng trên đất.
5.5. Ghi nhận sự nguyênyện của các đƣơng sự không yêu cầu chia tài sản là
nền sân gạch, sân xi măng, giếng khoan dân dụng và cây trái nhƣ tràm mít, dừa,
xoài, … trên đất.
16
6. Về trách nhiệm thanh toán:
6.1. Bà Nguyễn Thị T có trách nhiệm thanh toán kỷ phần cho các đồng
thừa kế gồm: ông Nguyễn N C, bà Nguyễn Thị T (Chi ông D do hàng thừa kế
thứ nhất của ông D gồm: Bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn N P, ông Nguyễn N H
và bà Nguyễn Thị N D)) mỗi kỷ phần là 19.135.500đồng (mƣời chín triệu một
trăm ba mƣơi lăm nghìn năm trăm đồng).
6.2. Bà Nguyễn Thị L có trách nhiệm thanh toán kỷ phần cho các đồng
thừa kế gồm: ông Nguyễn N C, (Chi ông D do hàng thừa kế thứ nhất của ông D
gồm: Bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn N P, ông Nguyễn N H và bà Nguyễn Thị N
D), bà Nguyễn Thị T) mỗi kỷ phần là 36.131.620đồng (ba mƣơi sáu triệu một
trăm ba mƣơi mốt nghìn sáu trăm hai mƣơi đồng).
6.3 Bà Nguyễn Thị N có trách nhiệm thanh toán kỷ phần cho các đồng thừa
kế gồm: ông Nguyễn N C, (Chi ông D do hàng thừa kế thứ nhất của ông D gồm:
Bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn N P, ông Nguyễn N H và bà Nguyễn Thị N D),
bà Nguyễn Thị T) mỗi kỷ phần là 28.938.820đồng (hai mƣơi tám triệu chín trăm
ba mƣơi tám nghìn tám trăm hai mƣơi đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và ngƣời đƣợc thi hành án có đơn
yêu cầu thi hành án, nếu ngƣời phải thi hành án không thanh toán số tiền nêu
trên thì ngƣời phải thi hành án còn phải trả cho ngƣời đƣợc thi hành án khoản
tiền lãi bằng mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm
2015.
7. Về án phí dân sự sơ thẩm:
7.1. Các ông bà Nguyễn N T, ông Nguyễn N C, ông Nguyễn N C1, bà
Nguyễn Thị T đƣợc miễn nộp tiền án phí.
7.2. Bà Nguyễn Thị T phải nộp 116.723.550 đồng (Một trăm mƣời sáu
triệu, bảy trăm hai mƣơi ba nghìn năm trăm năm mƣơi đồng) án phí dân sự sơ
thẩm, đƣợc khấu trừ 13.250.000đồng (Mƣời ba triệu, hai trăm năm mƣơi nghìn
đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số
0036525 ngày 26 tháng 11 năm 2019 và biên lai thu tiền tạm ứng án phí số
0053376 ngày 17 tháng 12 năm 2020 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố
T) tỉnh Bình Dƣơng. Bà T còn phải còn phải nộp thêm 103.473.550đồng (Một
trăm lẻ ba triệu, B trăm bảy mƣơi ba nghìn, năm trăm năm mƣơi đồng).
7.3. Bà Nguyễn Thị N phải nộp số tiền 116.807.784đồng (Một trăm mƣời
sáu triệu tám trăm lẻ bảy nghìn bảy trăm tám mƣơi B đồng).
7.4. Bà Nguyễn Thị L phải nộp số tiền 116.807.784đồng (Một trăm mƣời
sáu triệu tám trăm lẻ bảy nghìn bảy trăm tám mƣơi B đồng).
7.5. Các ông, bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn N P, ông Nguyễn N H và bà
Nguyễn Thị N D phải liên đới nộp án phí đối với kỷ phần đƣợc hƣởng. Tuyêny
nhiên, bà Nguyễn Thị T là ngƣời C1 tuyênổi nên đƣợc miễn một phần án phí,
tƣơng đƣơng miễn án phí cho 1/4 giá trị đƣợc nhận. Ông Nguyễn N P, ông
Nguyễn N H và bà Nguyễn Thị N D có trách nhiệm liên đới nộp án phí cho kỷ
17
phần đƣợc nhận là 3.158.800đồng (Ba triệu một trăm năm mƣơi tám nghìn tám
trăm đồng).
8. Về chi phí tố tụng: Tổng số tiền là 13.984.348 đồng.
8.1. Bà Nguyễn Thị T phải nộp số tiền 1.998.000 đồng bà T đã nộp xong.
8.2 Các ông, bà Nguyễn N T, Nguyễn N C, Nguyễn N C1, Nguyễn Thị T,
Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị L mỗi ngƣời phải nộp số tiền 1.998.000 đồng để trả
lại cho bà Nguyễn Thị T đã nộp tạm ứng trƣớc đây.
Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể
từ ngày tuyên án; bị đơn bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị L, ngƣời có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn N C, đại diện hợp pháp
của ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thanh U có mặt khi
xét xử nhƣng vắng mặt khi tuyên án có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15
ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông
Nguyễn N T, bà Nguyễn Thị T, bà Nguyễn Thị N D, ông Nguyễn N P, ông
Nguyễn N H, Phòng công chứng số 2 tỉnh Bình Dƣơng vắng mặt có quyền
kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản
án đƣợc niêm yết.
Trƣờng hợp bản án đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi
hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự
có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyênyện thi
hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các của Điều 6,7 và 9
của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định
tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
-TAND tỉnh Bình Dƣơng;
-VKSND thành phố T;
-Chi cục THADS thành phố T;
-Các đƣơng sự;
-Lƣu: HS, VT.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Võ Thị Thu Thảo
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 24/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm