Bản án số 19/2021/DS-PT ngày 13/01/2021 của TAND cấp cao tại TP.HCM về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 19/2021/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 19/2021/DS-PT ngày 13/01/2021 của TAND cấp cao tại TP.HCM về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND cấp cao tại TP.HCM
Số hiệu: 19/2021/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 13/01/2021
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
______________________________
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc Lập – Tự do – Hạnh phúc
___________________________________
Bản án số: 19/2021/DS-PT
Ngày: 13-01-2021
Về việc tranh chấp quyền sử dụng đất;
yêu cầu huỷ hợp đồng tặng cho, hợp đồng
chuyển nhượng và yêu cầu huỷ giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm Phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Khoa
Các thẩm phán: Ông Đặng Văn Ý
Ông Đỗ Đình Thanh
- Thư phiên tòa: Ông Đỗ Hồng Quân, Thư ký Tòa án nhân dân cấp
cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa: Ông Phạm Công Minh, Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 01 năm 2021, tại phòng xử án Tòa án nhân dân cấp cao tại
Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm ng khai vụ án thụ số
123/2019/TLPT-DS ngày 28 tháng 02 năm 2016, về việc Tranh chấp quyền sử
dụng đất; yêu cầu huỷ hợp đồng tặng cho, hợp đồng chuyển nhượng yêu cầu
huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân s thẩm số 05/2018/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2018
của Tòa án nhân n tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 4143/2020/QĐPT-DS
ngày 17 tháng 12 m 2020; giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Nguyễn Thị H, sinh năm 1969; Địa chỉ trú: 49/22,
khu phố 2, phường PT, thành phố TDM, tỉnh Bình Dương (có mặt).
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trương
Nhật Q, Luật của Văn phòng Luật Ánh Sáng Luật, thuộc Đoàn Luật
tỉnh Bình Dương (có mặt).
- Bị đơn:
1. Ông Nguyễn Tr T, sinh năm 1949; Địa chỉ trú: 72, tổ 54, VCK,
phường PC, thành phố TDM, tỉnh Bình Dương (vắng mặt).
2
2. Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1956; Địa chỉ trú: 94/6 , phường
PC, thành phố TDM, tỉnh Bình Dương (có mặt).
3. Ông Nguyễn HT, sinh năm 1962; Địa chỉ trú: 50, khu phố 5, HVC,
phường TBH, thành phố TDM, tỉnh Bình Dương (vắng mặt).
4. Nguyễn Ng H, sinh năm 1966; Địa chỉ trú: 27/10 HBT, tổ 53,
khu phố 8, phường PC, thành phố TDM, tỉnh Bình Dương (có mặt).
Người đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Tr T, ông Nguyễn HT:
Nguyễn Ng H ( căn cước nêu trên, theo văn bản ủy quyền ngày 18/01/2017,
có mặt).
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Phạm MT,
Luật của Văn phòng Luật Trường Thành, thuộc Đoàn Luật tỉnh Bình
Dương (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Nguyễn Th L, sinh năm 1951; Địa chỉ trú: 94/6 Bạch Đằng,
phường PC, thành phố TDM, tỉnh Bình Dương (vắng mặt).
2. Nguyễn Th Ch, sinh năm 1953; Địa chỉ trú: 148 CQ, phường
PNL, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
3. Nguyễn Thị T. Th, sinh năm 1965; Địa chỉ trú: 430, khu phố 5,
phường Tương Bình Hiệp, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương (vắng
mặt).
4. Ông Nguyễn H. T, sinh năm 1969; Địa chỉ cư trú: 50, khu phố 5, HVC,
phường TBH, thành phố TDM, tỉnh Bình Dương (vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp của Nguyễn Thị T. Th, ông Nguyễn H. T:
Nguyễn Ng H (văn bản ủy quyền ngày 18/01/2017, có mặt).
5. Nguyễn Thị T. M, sinh năm 1961; Địa chỉ trú: 2728. Framle St,
Lake Wook, CA90712, Hoa Kỳ.
Người đại diện hợp pháp của bà Nguyễn Thị T. M: Ông Nguyễn H. T (văn
bản ủy quyền ngày 10/3/2017, được hợp pháp hóa Lãnh sự ngày 24/3/2017,
vắng mặt).
6. Ông Nguyễn V. H, sinh năm 1956; Địa chỉ t: 27/5 khu phố LT,
phường LT, thị xã TA, tỉnh Bình Dương (vắng mặt).
7. Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1957; Địa chỉ trú: 40 NCT, phường
NCT, quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
8. Nguyễn Th. C, sinh năm 1959; Địa chỉ trú: 10/3, khu phố 7,
phường Phú Hòa, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương (vắng mặt).
9. Ông Nguyễn V. Th, sinh năm 1962 (vắng mặt)
10. Bà Nguyễn Th. L1, sinh năm 1963 (có mặt)
11. Bà Nguyễn Th L, sinh năm 1971 (vắng mặt)
3
Cùng địa chỉ trú: 49/22, khu phố 2, phường PT, thành phố TDM, tỉnh
Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của các ông Nguyễn V. H, Nguyễn Văn H1,
Nguyễn Th. C, Nguyễn V. Th, Nguyễn Th. L1, Nguyễn Th L: Nguyễn Thị H
(văn bản ủy quyền ngày 22/7/2016, có mặt).
12. Ủy ban nhân dân thành phố Thủ Dầu Một; Địa chỉ trụ sở: 01 Quang
Trung, phường PC, thành phố TDM, tỉnh Bình Dương
Người đại diện theo pháp luật của Ủy ban nhân dân thành phố Thủ Dầu
Một: Ông Nguyễn Lộc H; Chức vụ: Chủ tịch.
Người đại diện hợp pháp của Ủy ban nhân dân thành phố Thủ Dầu Một:
Thị L; Chức vụ: Trưởng phòng Tài nguyên Môi trường (văn bản y
quyền ngày 30/6/2017, vắng mặt).
13. Đoàn Thị Minh H, sinh năm 1955; Địa chỉ thường trú: 48/16, tổ
29, khu phố 5, phường PC, thành phố TDM, tỉnh Bình Dương; Địa chỉ trú:
72, tổ 54 Văn Công Khai, phường PC, thành phố TDM, tỉnh Bình Dương (vắng
mặt).
14. Ông Đặng Huy Q, sinh năm 1971; Địa chỉ trú: 151 Huỳnh Văn
Lũy, tổ 52, khu phố 6, phường Phú Mỹ, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình
Dương (vắng mặt).
15. Ông Nguyễn Văn Phước, sinh năm 1966, Địa chỉ trú: 435/27, tổ
86, Cách Mạng Tháng Tám, phường PC, thành phố TDM, tỉnh Bình ơng
(vắng mặt).
16. Ủy ban nhân dân phường PT, thành phố TDM, tỉnh Bình Dương
Người đại diện hợp pháp của Ủy ban nhân dân phường Phú Th: Ông
Phạm Minh Hoàng; Chức vụ: ng chức địa chính (văn bản ủy quyền ngày
26/6/2018, vắng mặt).
17. Phòng Công chứng số 1 tỉnh Bình Dương
Người đại diện theo pháp luật: Nguyễn Thị Phương Ngọc; Chức vụ:
Trưởng Văn phòng (vắng mặt).
18. Phòng Công chứng số 2 tỉnh Bình Dương
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Phú Cường; Chức vụ:
Trưởng Văn phòng (vắng mặt).
19. Văn phòng Công chứng Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương
Người đại diện theo pháp luật: Vương Thị Nhất Thủy là người đại
diện theo pháp luật - Chức vụ: Trưởng Văn phòng (vắng mặt).
- Người làm chứng:
1. Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1958, Địa chỉ t: 424/67, tổ 4, khu
phố 4, phường Phú Hòa, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương (vắng mặt).
4
2. Ông Lâm Văn B, sinh năm 1950; Địa ch t: 132/2/55, tổ 5, khu
phố 7, phường Phú Hòa, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương (vắng mặt).
- Người kháng cáo:Nguyễn Thị H nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:
Năm 1975, gia đình ông Nguyễn Văn M, Nguyễn Thị N 07 người
con đi phát triển kinh tế mới đã đến khu đất diện tích khoảng 3.000m
2
, tọa lạc tại
Phú Hòa, thị Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương (nay phường Phú Thọ,
thành phố Thủ Dẩu Một, tỉnh Bình Dương) sinh sống. Năm 1977, ông Nguyễn
Văn M chết, N cùng 07 người con tiếp tục canh tác. Năm 1983, N khai
được cấp Giấy chứng nhận đã đăng ruộng đất ngày 16-11-1983, diện tích
3.000m
2
(bút lục 34). Ngày 10-6-2002, bà N được Ủy ban nhân dân phường Phú
Thọ trao tặng căn nhà tình thương diện tích 32m
2
xây dựng trên phần đất này
(bút lục 35).
Năm 2005, ông Nguyễn Văn G (Ông G cha của Nguyễn Ng H)
ông Nguyễn HT (con của ông Nguyễn Văn M), Nguyễn Thị Ng (con của
Nguyễn Thị Ch) khởi kiện Nguyễn Thị N (vợ ông Nguyễn Văn M) tranh
chấp tài sản chung diện tích 3.000m
2
(đo thực tế 2.522,9m
2
). Tại Bản án số
98/2005/DS-ST ngày 07-10-2005 của Toà án nhân dân thị xã Thủ Dầu Một (nay
là thành phố Thủ Dầu Một) đã quyết định chia cho ông Nguyn n G diện tích
đất 720,8m
2
(trên đất có nhà của bà H); chia cho bà Nguyễn Thị Ng, Nguyễn Th
L, Nguyễn Th Ch (con của Nguyễn Thị Ch đã chết) diện tích đất 360,4m
2
;
chia cho ông Nguyễn HT, ông Nguyễn H. T, Nguyễn Thị T. Th (con của ông
Một đã chết) diện tích đất 360,4m
2
. Diện ch đất còn lại 1.081m
2
thuộc quyền
quản lý của bà N. Không chấp nhận bản án sơ thẩm, bà N kháng cáo. Tại Bản án
số 76/2006/DS-PT ngày 13-4-2006 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương đã
không chấp nhận kháng cáo của N, giữ nguyên bản án thẩm. N khiếu
nại đến Tòa án nhân dân tối cao theo thủ tục Giám đốc thẩm. Trong thời gian
chờ giải quyết Giám đốc thẩm thì Ông G, ông T, Ng lập thủ tục xin cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất và Ủy ban nhân dân thị xã Thủ Dầu Một cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cho Ông G diện tích 720,8m
2
, thuộc thửa 131, tờ
bản đồ số 22, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H43657 ngày 08-9-2008;
cấp cho Nguyễn Thị Ng diện tích 360,4m
2
, thuộc thửa 127, tờ bản đồ số 22,
Giấy chứng nhận quyền sdụng đất số H35854 ngày 12-3-2008; cấp cho ông
Nguyễn HT diện tích 360,4m
2
, thuộc thửa 126, tờ bản đồ số 22, Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số H33261 ngày 29-01-2008. Sau khi được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất Ông G cùng vợ Phan Thị X lập hợp đồng
tặng cho Nguyễn Ng H diện tích 720,8m
2
(bút lục 49); ông Nguyễn HT
chuyển nhượng cho ông Nguyễn Tr T diện ch đất 360,4m
2
(bút lục 53).
Ngày 26-5-2009, Tòa án nhân dân tối cao ban hành Quyết định Giám đốc
thẩm số 211/2009/DS-GĐT nội dung hủy Bản án phúc thẩm 76/2006/DS-PT
5
ngày 13-4-2006 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương Bản án thẩm số
98/2005/DS-ST ngày 07-10-2005 ca Toà án nhân dân thị xã Thủ Dầu Một.
Sau khi quyết định giám đốc thẩm, ngày 02-11-2012 Ông G, ông T,
Ng rút đơn yêu cầu khởi kiện, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương đình chỉ giải
quyết vụ án.
Ngày 21-7-2013, Nguyễn Thị N chết nhưng không lập di chúc tài sản
cho ai.
Nguyễn Thị H yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương giải quyết
các vấn đề sau:
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 43657 cấp ngày 08-9-
2008 cho ông Nguyễn Văn G, diện tích 720,8m
2
, thuộc thửa 131, tờ bản đồ số
22 phường Phú Thọ;
- Hủy Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn G với
Nguyễn Ng H được Phòng Công chứng số 2 tỉnh Bình Dương công chứng số
3645 ngày 04-11-2009;
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đt số CH00062 cấp ngày 25-01-
2010 cho Nguyễn Ng H, diện tích 720,8m
2
, thuộc thửa 131, tờ bản đsố 22
phường Phú Th (thửa đất do Ông G chuyển nhượng);
- Hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa Nguyễn Ng
H, ông Nguyễn Văn P với ông Đặng HQ được Văn phòng Công chứng Thủ Dầu
Một, tỉnh Bình Dương công chứng số 1468 ngày 03-7-2013;
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BU 926133 cấp ngày 26-9-
2014 cho ông Đặng HQ (thửa đất do bà H chuyển nhượng);
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H35854 ngày 12-3-2008
cấp cho Nguyễn Thị Ng diện tích 360,4m
2
, thuộc thửa 127, tờ bản đồ số 22,
phường Phú Th;
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sH33261 ngày 29-01-2008
cấp cho ông Nguyễn HT, diện tích 360,4m
2
, thuộc thửa 126, tbản đồ số 22,
phường Phú Th;
- Hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn HT
với ông Nguyễn Tr T được Ủy ban nhân dân phường PT, thành phố TDM, tỉnh
Bình Dương chứng thực số 138 ngày 18-02-2008;
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H33261 diện tích 360,4m
2
,
thuộc thửa 126, tờ bản đồ số 22, phường Phú Thọ đã chuyển nhượng (sang tên)
cho ông Nguyễn Tr T ngày 28-3-2008;
- Hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích 360,4m
2
,
thuộc thửa 126, tờ bản đồ số 22, phường Phú Thọ, giữa ông Nguyễn Ngọc T,
Đoàn Thị M. H với Nguyễn Thị T. Th được Phòng Công chứng số 1 tỉnh
Bình Dương công chứng s4525 ngày 19-6-2013;
6
- Buộc Nguyễn Ng H trả lại diện tích đất 720,8m
2
; Nguyễn Thị Ng
trả lại diện tích đất 360,4m
2
; ông Nguyễn HT, ông Nguyễn Tr T trả lại diện tích
đất 360,4m
2
cho các con của bà N là Nguyễn V. H, Nguyễn Văn H1, Nguyễn
Th. C, Nguyễn V. Th, Nguyễn Th. L1, Nguyễn Th L Nguyễn Thị H. Các tài
sản trên đất H tự tháo dỡ, di dời, chị em H không bồi thường hỗ trợ. Sau
khi trả đất, các bđơn nhu cầu làm nhà thì đến xin đất các chem H sẽ
cắt cho mi người 100m
2
.
* Bị đơn Nguyễn Ng H (đồng thời đại diện cho ông Nguyễn HT, ông
Nguyễn Tr T) trình bày:
Lúc sinh thời ông nội của H tên Nguyễn Văn M (chết năm 1974) và bà
nội tên Phạm Thị A (chết trước năm 1954) tạo lập được khối tài sản chung
diện tích 3.450,6m
2
, đất nay tọa lạc tại phường PT, thành phố TDM, tỉnh Bình
Dương. Sau khi qua đời ông M và bà Ai không để lại di chúc, đất để lại cho ông
Nguyễn Văn G (Ông G cha của H) trực tiếp quản lý, sử dụng. Do ông
Nguyễn n M (chồng N, anh ruột Ông G) chết, các con còn nhỏ nên N
xin Ông G về trên đất; các anh chị em của Ông G đồng ý cho N cùng các
con đến cất nhà ở sau giải phóng.
Năm 1983, Nhà nước yêu cầu kê khai đăng ký ruộng đất, Ông G cùng c
anh chị em đồng ý cho bà N được đại diện cho các đồng thừa kế đứng ra kê khai
ruộng đất tại Ủy ban nhân dân phường Phú Thọ. Khoảng năm 1995 1997, các
đồng thừa kế đồng ý cho H đến cất căn nhà cấp 4 trên diện tích đất khoảng
100m
2
để ở ổn định cho đến nay.
Ngày 24-7-1999, các ông bà Nguyễn Thị N, Nguyễn Văn M, Nguyễn Văn
G đại diện con của Nguyễn Thị Ch Nguyễn Thị Ng lập Tờ tự thỏa
thuận phân chia di sản thừa kế với nội dung, Nguyễn Thị N thừa nhận diện
tích đất 3.450,6m
2
là tài sản chung của các đồng thừa kế, thuộc hàng thừa kế thứ
nhất của ông Nguyễn Văn M Phạm Thị A để lại chưa chia do Nguyễn
Thị N đại diện đứng ra khai đăng ký 299 vào ngày 16-11-1983 và thống nhất
chia cho mỗi người một phần để sử dụng và đăng ký quyền sử dụng đất theo quy
định của pháp luật, cụ thể: Nguyễn Thị N đại diện cho các đồng thừa kế của
ông Nguyễn Văn M (ông M con của ông M A, chồng N), gồm:
Nguyễn V. H, Nguyễn Văn H1, Nguyễn Thu c, Nguyễn Th. L1, Nguyễn Thị
H, Nguyễn Th L, Nguyễn V. Th được hưởng phần đất hiệu khu A, diện tích
982,5m
2
(trên đất đã nhà của N, nhà của ông Thuận nhà của ông Lợi);
ông Nguyễn Văn G được hưởng phần đất ký hiệu khu B, diện tích 786,7m
2
(tn
đất đã nhà của H); ông Nguyễn Văn M được hưởng phần đất hiệu khu
C, diện tích 325,52m
2
; Nguyễn Thị Ng (con của Nguyễn Thị Ch (đã chết)
Ch con của ông M bà Ai) đại diện cho Nguyễn Th L, Nguyễn Th Ch
được hưởng phần đất hiệu khu C, diện tích 255,9m
2
. Việc chia đất được lập
“Tờ tự thỏa thuận” thực hiện trước cán bộ Tư pháp phường Phú Thọ các anh
chị em; việc bà N “Tờ tự thỏa thuận” trong trạng thái hoàn toàn khỏe mạnh,
minh mẫn, không bị ai ép buộc. Năm 2001, khi các đồng thừa kế tiến hành đo
đạc, rào ranh đất thì con của N Nguyễn V. H ngăn cản, nhổ rào, phá ranh
7
nên phát sinh tranh chấp. Tòa án đã xét xử 02 cấp và thống nhất phần đất trên
tài sản chung quyết định chia cho mỗi phần thừa kế một phần, tính công
sức cho N; bản án hiệu lực pháp luật, Ông G đã được cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số AN 585454 (số vào sổ H 43657). Năm 2010, Ông G
tặng cho H diện tích đất được chia H được cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất số BA 101000 (số vào sổ CH 00062) do Ủy ban nhân dân thị xã Thủ
Dầu Một cấp ngày 25-01-2010. Ngày 03-7-2013, H chuyển nhượng cho ông
Đặng HQ; ông Quang đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH
03216 ngày 26-9-2014. Phần đất chia cho ông Nguyễn Văn M (ông Một chết
năm 2001) do ông Nguyễn HT đứng tên Giấy chứng nhận quyền sdụng đất số
AL 711054 (số vào sổ H 33261) do Ủy ban nhân dân thị Thủ Dầu Một cấp
ngày 29-01-2008. Ngày 18-02-2008, ông T đã chuyển nhượng cho ông Nguyễn
Tr T diện tích 360,4m
2
và ông Tiến đã được đứng tên giấy chng nhận quyền sử
dụng đất. Ngày 19-6-2013, ông Nguyễn Tr T, Đoàn Thị M. H hợp đồng
chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị T. Th diện tích đất 360,4m
2
tại Phòng Công
chứng số 1 tỉnh Bình Dương nhưng chưa vào sổ đăng ký, chưa sang tên. H
đồng thời đại diện cho ông T, ông Tiến không chấp nhận yêu cầu của nguyên
đơn.
* Bị đơn bà Nguyễn Thị Ng trình bày: Thống nhất theo trình bày của bà
H. Ng trình bày thêm, bà Ng đại diện cho các chị em (bà Nguyễn Th L,
Nguyễn Th Ch) đứng tên quyền sử dụng đất được chia. Ngày 12-3-2012, Ủy ban
nhân dân thị Thủ Dầu Một cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho
Ng diện tích 360,4m
2
thuộc thửa 127, tờ bản đồ 22; hiện Ng, bà Lan, bà Châu
đang quản lý sử dụng phần đất này. Bà Ng không chấp nhận yêu cầu của Bà H.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
1. Nguyễn Th L Nguyễn Th Ch trình bày: Thống nhất lời trình
bày của bà Nguyễn Thị Ng.
2. Nguyễn Thị T. Th (bà Thu ủy quyền cho Nguyễn Ng H) trình
bày: Thống nhất lời trình bày của bà Nguyễn Ng H, ông Nguyễn Tr T.
3. Ông Nguyễn H. T ng Tấn ủy quyền cho Nguyễn Ng H) trình bày:
Thống nhất lời trình bày của bà Nguyễn Ng H.
4. Bà Nguyễn Thị T. M (bà Mai ủy quyền cho Nguyễn H. T) trình bày:
Thống nhất lời trình bày của bà Nguyễn Ng H.
5. Ông Đặng HQ: Ông Quang nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất,
gắn liền căn nhà của bà Nguyễn Ng H, và cho bà H thuê lại nhà đất.
6. Đoàn Thị M. H trình bày: Hương vợ ông Nguyễn Tr T, phần
đất ông Tiến nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn HT nay vợ chồng bà Hương,
ông Tiến đã chuyển nhượng lại cho bà Nguyễn Thị T. Th (bà Thu em ông
Nguyễn HT).
7. Ông Nguyễn Văn Phước trình bày: Ông Phước là chồng của bà Nguyễn
Ng H vsinh sống từ năm 1997 trên thửa đất của ông bên vợ để lại cho đến
8
hiện nay, bà Nguyễn Thị N không có thưa kiện gì, vì bà biết đây là đất ông bà để
lại và đã được Tòa án phân chia. H hàng thừa kế đứng sau mà kiện đòi đất
là không đúng.
8. Ông Nguyễn V. H, ông Nguyễnn H1, bà Nguyễn Th. C, ông
Nguyễn V. Th, Nguyễn Th. L1, Nguyễn Th L cùng ủy quyền cho
Nguyễn Thị H trình bày: Thống nhất lời trình bày và yêu cầu của bà Nguyễn Th
H.
9. Ủy ban nhân dân phường PT, thành phố TDM, tỉnh Bình Dương trình
bày: Ủy ban nhân dân phường Phú Thọ không ý kiến đối với yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
10. Phòng Công chứng số 2 tỉnh Bình Dương trình bày: Hợp đồng tặng
cho quyền sử dụng đất số 3645, quyển số 01TP/CC-SCC/HĐGD do công chứng
viên Phòng Công chứng số 2 tỉnh Bình Dương công chứng ngày 04-11-2009 tại
trụ sở Phòng Công chứng số 2 tỉnh Bình Dương giữa bên tặng cho ông/bà
Nguyễn Văn G, Phan Thị X với bên nhận tặng cho Nguyễn Ng H. ng
chứng viên đã chứng kiến các bên giao kết hợp đồng đọc lại hợp đồng trước
mặt công chứng viên. Các bên tự nguyện thỏa thuận giao kết hợp đồng, đã đồng
ý ký tên vào từng trang của hợp đồng. Tại thời điểm công chứng, các bên
tham gia giao kết hợp đồng hoàn toàn minh mẫn, sáng suốt, tự nguyện giao kết
hợp đồng, không bị lừa đối, không bị ép buộc. Tại thời điểm công chng, Phòng
Công chứng số 2 không nhận được bất kỳ văn bản nào của quan thẩm
quyền đề nghị ngăn chặn hoặc tạm đình chỉ thực hiện các quyền của người s
dụng đất đối với quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
AN 585454, số vào sH43657 do Ủy ban nhân dân thị xã Thủ Dầu Một cấp
ngày 08-9-2008.
11. Văn phòng công chứng Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương trình bày:
Ngày 03-7-2013, công chứng viên Văn phòng Công chứng Thủ Dầu Một
nhận được yêu cầu công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của
Nguyễn Ng H. Khi tiếp nhận hồ sơ công chứng, công chứng viên đã kiểm tra
đầy đủ hồ sơ do người yêu cầu công chứng nộp gồm: Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, giấy tờ tùy thân các giấy tờ khác liên quan đến hợp đồng theo
quy định của Luật ng chứng (có hồ kèm theo). Sau khi tiếp nhận kiểm
tra đầy đủ các hồ sơ, giấy tờ do người yêu cầu ng chứng cung cấp, Văn phòng
công chứng Thủ Dầu Một đã thực hiện việc công chứng hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất giữa bên chuyển nhượng là Nguyễn Ng H, ông
Nguyễn Hữu P, bên nhận chuyển nhượng ông Đặng HQ đúng trình tự thủ
tục của Luật Công chứng các văn bản pháp luật liên quan. Tại thời điểm
giao kết hợp đồng chuyển nhượng, ông Đặng HQ cam đoan đã xem xét kỹ, biết
về thửa đất nhận chuyển nhượng các giấy tờ về quyền sử dụng đất, đồng
thời không yêu cầu xác nhận tình trạng bất động sản. Các bên tham gia giao kết
hợp đồng đều tự nguyện, không bị lừa dối, ép buộc, đồng thời cam kết giao dịch
này đúng sự thật, không nhằm che dấu giao dịch khác, hợp đồng công chứng
bảo đảm tính xác thực, tính hợp pháp.
9
12. Phòng Công chứng số 1 tỉnh Bình Dương trình bày: Ngày 19-6-2013,
ông Nguyễn Tr T, Đoàn Thị M. H Nguyễn Thị T. Th yêu cầu công
chứng viên Phòng Công chứng số 1 tỉnh Bình Dương chứng nhận hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tọa lạc tại phường PT, thành phTDM, tỉnh
Bình ơng; đất chuyển nhượng có diện tích 360,4m
2
, thuộc thửa đất số 126, tờ
bản đồ số 22, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 711054 (vào sổ số
H33261) do Ủy ban nhân dân thị Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương cấp ngày
29-01-2008, đăng ký biến động người sử dụng đất mới ngày 28-3-2008. Các bên
giao kết hợp đồng năng lực hành vi dân sự phù hợp quy định của pháp luật,
các bên đã tự nguyện thỏa thuận giao kết hợp đồng; nội dung thỏa thuận trong
hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội; các
bên đã đọc lại hợp đồng, đã đồng ý toàn bộ nội dung ghi trong hợp đồng đã
ký vào hợp đồng trước sự có mặt của công chứng viên.
13. Ủy ban nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương trình bày
tại Văn bản số 642/TNMT ngày 01-8-2017 như sau:
Ngày 31-8-2007, ông Nguyễn n G có đơn xin cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 131, tbản đồ số 22, diện tích 720,8m
2
.
Kèm theo hồ Bản án số 98/2005/DS-ST ngày 07-10-2005 của Tòa án nhân
dân thị Thủ Dầu Một; Bản án phúc thẩm s76/2006/DS-PT ngày 13-4-2006
của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương; Quyết định thi hành án số 1008/QĐ-
TĐYC.THA ngày 14-6-2006; Biên bản thi hành quyết định cưỡng chế giao
quyền sử dụng đất ngày 25-5-2007; Biên bản kiểm tra địa chính của Văn phòng
đăng quyền sử dụng đất thị ThDầu Một về việc xác minh thực địa khu
đất của ông Nguyễn Văn G. Trên cơ sở đó, Phòng Tài nguyên và Môi trường thị
xã đã có Tờ trình số 948/TTr ngày 29-8-2008 tham mưu Ủy ban nhân dân thị
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn G thửa đất số
131, tờ bản đồ số 22, là căn cứ theo quy định tại khoản 5 Điều 50 Luật Đất đai
năm 2003. Sau đó, Ông G lập hợp đồng tặng cho Nguyễn Ng H thửa đất 131
nêu trên. Ủy ban nhân dân thị Thủ Dầu Một cấp Giấy chứng nhận quyền s
dụng đất cho bà Nguyễn Ng H thửa đất số 131 nêu trên căn cứ theo Điều 129
Luật Đất đai năm 2003.
Ngày 31-10-2007, ông Nguyễn HT gửi đơn xin cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng thửa đất số 126, tờ bản đồ số 22, diện tích 360,4m
2
. Kèm theo hồ
Bản án số 98/2005/DS-ST ngày 07-10-2005 của Tòa án nhân dân thị
Thủ Dầu Một; Bản án phúc thẩm số 76/2006/DS-PT ngày 13-4-2006 của Tòa án
nhân dân tỉnh Bình Dương; Quyết định thi hành án số 1185/QĐ-TĐYC.THA
ngày 06-7-2006; Biên bản thi hành quyết định cưỡng chế giao quyền sdụng
đất ngày 25-5-2007; Giấy cam kết không khiếu nại tranh chấp ngày 28-12-2006
xác nhận của Ủy ban nhân dân Tương Bình Hiệp ngày 29-12-2006; Tờ
cam kết xác nhận của Ủy ban nhân dân Tương Bình Hiệp ngày 28-02-
2001.
Ngày 11-12-2007, Văn phòng đăng quyền sử dụng đất thị Thủ Dầu
Một tổ chức làm việc với Ủy ban nhân dân phường Phú Thọ để lấy ý kiến liên
10
quan việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Nguyễn HT. Tại
buổi làm việc Ủy ban nhân dân phường Phú Thọ xác nhận: “Thửa đất 126, tờ
bản đồ 22 không phát sinh tranh chấp tại thời điểm xin cấp giấy; Không
thuộc quỹ đất công của phường; Nguồn gc đất theo Bản án sơ thẩm số
98/2005/DS-ST ngày 07-10-2005 của Tòa án nhân dân thị (nay là thành phố)
Thủ Dầu Một; Bản án thẩm số 76/DS-PT ngày 13-4-2006 của Tòa án nhân
dân tỉnh Bình Dương; Phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đô thị; Đủ điều kiện
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Trên cơ sở đó, phòng Tài nguyên và Môi trường đã tham mưu cho Ủy ban
nhân dân thị xã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H33261 ngày 29-01-
2008 cho hộ ông Nguyễn HT thửa đất s 126, tờ bản đồ số 22, diện tích
360,4m
2
. Ngày 18-02-2008, ông Nguyễn HT đã chuyển nhượng toàn bộ quyền
sử dụng đất nêu trên cho ông Nguyễn Tr T.
Việc Bà H yêu cầu hủy các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban
nhân dân thành phố Thủ Dầu Một cấp cho các ông nêu trên, đề nghị Tòa án
giải quyết theo quy định.
* Người làm chứng ông Nguyễn Văn H ông Nguyễn Văn B thống nhất
trình bày: Ông H và ông B là chú ruột của nguyên đơn và bị đơn. Phần đất tranh
chấp là của ông Đinh Văn Đ, vợ Nguyễn Thị T để lại khoảng 03 hecta đất;
ông Đ và T 06 người con, trong đó 02 người con riêng bà Nguyễn
Thị B ông Nguyễn Văn M, con riêng của T Đinh Thị P Đinh
Thị B. Ông M ông nội của nguyên đơn bị đơn. Sau khi cụ Đ cụ T chết,
sau năm 1976, các con của cụ Đ, cụ T tiến hành phân chia diện tích khoảng 03
hecta nêu trên, khi chia sự chứng kiến của Ủy ban nhân dân phường Phú
Hòa; khi phân chia do ông M sức khỏe yếu nên Ông G tham gia việc phân chia
nhận thay cho ông M. Sau đó, khi ông M đang Sài Gòn, thấy hoàn cảnh
ông M khó khăn phải đi kinh tế mới nên Ông G có kêu ông M về ở trên diện tích
đất được chia cho ông M Ông G đã nhận trước đó để canh tác, chờ sau này
con của Ông G, bà Cho, ông M, ông M lớn lên chia đều ra để ở.
Tại Bản án dân sự thẩm s05/2018/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2018
của Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương đã tuyên xử như sau:
Căn cứ Điều 26, 37, 147, 157, 165, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 2 Luật Đất đai năm 1993; khoản 4 Điều 49 và Điều 106 Luật
Đất đai năm 2003; Điều 201 của Bộ luật Dân sự năm 1995; Pháp lệnh án phí
lệ phí của Tòa án năm 2009,
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị H
đối với bị đơn Nguyễn Ng H, Nguyễn Thị Ng, ông Nguyễn HT, ông
Nguyễn Tr T về việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy hợp đồng tặng
cho, chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất.
11
2. Ông Nguyễn Văn G được quyền sử dụng diện tích đất 720,8m
2
, thuộc
thửa 131, tờ bản đồ số 22 phường Phú Thọ đã được cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất số H43657 ngày 08-9-2008.
Giữ nguyên Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn
G, Phan Thị X với Nguyễn Ng H được Phòng Công chứng số 2 tỉnh Bình
Dương công chứng số 3645 ngày 04-11-2009 Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cấp cho bà Nguyễn Ng H số CH 00062 ngày 25-01-2010.
Giữ nguyên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa Nguyễn
Ng H, ông Nguyễn Văn Phước với ông Đặng HQ được Văn phòng Công chứng
Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương công chứng số 1468 ngày 03-7-2013 và Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số BU 926133 cấp ngày 26-9-2014 cho ông
Đặng HQ, diện tích 720,8m
2
, thuộc thửa 131, tờ bản đồ số 22 phường PT, thành
phố TDM, tỉnh Bình Dương.
3. Ông Nguyễn HT (đồng thời đại diện cho ông Nguyễn H. T
Nguyễn Thị T. Th) được quyền sử dụng diện tích đất 360,4m
2
, thuộc thửa 126,
tờ bản đồ số 22, phường Phú Thọ đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số H33261 ngày 29-01-2008.
Giữ nguyên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông
Nguyễn HT với ông Nguyễn Tr T được Ủy ban nhân dân phường PT, thành phố
TDM, tỉnh Bình Dương chứng thực số 138 ngày 18-02-2008 Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số H33261 đã chỉnh sang tên ngày 28-3-2008 cho
ông Nguyễn Tr T diện tích 360,4m
2
, thuộc thửa 126, tờ bản đồ số 22, phường
Phú Thọ.
4. Bà Nguyễn Thị Ng (đồng thời đại diện cho bà Nguyễn Th L,
Nguyễn Th Ch) được quyền sử dụng diện tích đất 360,4m
2
, thuộc thửa 127, tờ
bản đồ số 22, phường Phú Thọ đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
số H35854 ngày 12-3-2008.
5. Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích
360,4m
2
, thuộc thửa 126, tờ bản đồ số 22, phường Phú Thọ, giữa ông Nguyễn
Ngọc T, Đoàn Thị M. H với Nguyễn Thị T. Th được Phòng Công chứng
số 1 tỉnh Bình Dương công chứng số 4525 ngày 19-6-2013 chưa phát sinh hiệu
lực pháp luật.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, các chi phí tố tụng, các quy
định về thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 05/10/2018, bà Nguyễn Thị H là nguyên đơn kháng cáo toàn bộ bản
án thẩm, yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm sửa bản án thẩm theo hướng chấp
nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện ca bà.
Ngày 10/10/2018, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương
ban hành Quyết định kháng nghị số 19/QĐ/KNPT-P9, đề nghị cấp phúc thẩm
huỷ bản án sơ thẩm.
Tại phiên toà phúc thẩm:
12
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị H không thay đổi, bổ sung, không rút đơn
khởi kiện; không thay đổi, bổ sung, gi nguyên yêu cầu kháng cáo ban đầu. Các
bị đơn gồm Nguyễn Thị Ng, Nguyễn Ng H không đồng ý với yêu cầu kháng
cáo của nguyên đơn, đề nghị giữ nguyên bản án thẩm. Nguyễn Th. L1
cùng ý kiến với nguyên đơn. Các đương sự khác vắng mặt tại phiên toà nên
không thhiện ý kiến. Các đương sự không tự thoả thuận được với nhau về việc
giải quyết v án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên toà giữ nguyên quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương.
Tại phần tranh luận:
Nguyễn Th H Luật sư trình bày:
Mặc bị đơn đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo các
bản án thẩm, phúc thẩm trước đây, nhưng các bản án này đã bị cấp giám đốc
huỷ toàn bộ. Do đó, các bị đơn không còn quyn sử dụng đất. Diện tích đất tranh
chấp do cha mẹ của nguyên đơn sử dụng từ trước 1975, có đăng ký sử dụng hợp
pháp vào năm 1983, được UBND phường xác nhận. Tờ phân chia ngày
24/7/1999 không phù hợp với pháp luật đất của chung vợ chồng bà N ông
M, một mình bà N không có quyền quyết định toàn bộ và tờ phân chia này cũng
không sự đồng ý của tất cả nhng người con của bà N, ông M. H khởi
kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất, bị đơn không có yêu cầu phản tố, người có
quyền lợi liên quan không yêu cầu độc lập, nhưng bản án thẩm xác định
quan hệ pháp luật “Tranh chấp quyền sử dụng đất” giải quyết luôn các hợp
đồng tặng cho, chuyển nhượng quyền sử dụng đất không đúng. Mặt khác,
Ông G tặng cho đất cho H sau khi quyết định giám đốc thẩm hiệu.
Đề nghị cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu kháng cáo của H, sửa bản án
thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Nguyễn Th Ng, Nguyễn Ng H và Luật sư trình bày:
Mặc các bản án sơ, phúc thẩm trước đây bị quyết định giám đốc thẩm
huỷ, nhưng cả 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đã cấp cho các bị đơn chưa bị
quan chức năng thu hồi, huỷ bỏ, do đó bản án thẩm xác định “Tranh chấp
quyền sử dụng đất” đúng. Phần đất tranh chấp là của gia tộc, N đăng
bất hợp pháp, điều này dẫn đến việc phân chia đất năm 1999 căn cứ. Diện
tích đất này là tài sản riêng của bà N, do đó bà N có quyền quyết định.
Về kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương
là không có căn cứ.
Do đó, đề nghị cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau:
Về hình thức: Đơn kháng cáo của Nguyễn Thị H làm trong hạn luật
định và hợp lệ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
13
Về nội dung kháng cáo, kháng nghị:
Về thủ tục tố tụng: Ông G, X người được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất và đã tặng cho cho bà H. Cần xác định Ông G, bà X người
quyền quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Toà án cấp thẩm không triệu tập
Ông G, bà X tham gia tố tụng là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
Về nội dung: Toà án căn cứ vào tờ phân chia đất năm 1999 để bác yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn, chưa xem xét, áp dụng đường lối xét xử tranh
chấp về đất đai chưa căn cứ vững chắc, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của
nguyên đơn.
Do đó, đề nghị cấp phúc thẩm chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương, huỷ bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐNH CỦA TOÀ ÁN:
[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo, quyết định kháng nghị: Đơn
kháng cáo của Nguyễn Thị H và quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương làm trong thời hạn, nội dung, hình thức
phù hợp với quy định của pháp luật nên đủ điều kiện để thụ lý và xét xử theo thủ
tục phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của Nguyễn Thị H và quyết định kháng nghị của
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương, nhận thấy:
[2.1] Về thủ tục ttụng: Ông Nguyễn Văn G (chết năm 2016), Phan
Thị X (chết năm 2014) là người được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
H43657 ngày 08/9/2008, đối với 720,8m
2
đất, thuộc thửa 131, tờ bản đồ s22
(là mt phần trong tổng diện tích đất tranh chấp). Sau đó, Ông G, bà X tặng cho
phần đất này cho bà Nguyễn Ng H. Do đó, cần phải xác định và triệu tập Ông G,
bà X tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Khi
Ông G, X chết, cần triệu tập những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng
của Ông G, X (gồm các ông Nguyễn N. Ph, Nguyễn Anh Vũ, Nguyễn
Ngọc Minh, Nguyễn Văn Đức, Nguyễn Ng H Nguyễn Văn Phúc) tham gia tố
tụng với tư cách người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của Ông G, X;
đồng thời họ cũng là người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tại đơn xin vắng
mặt đề ngày 25/8/2017, chữ của các ông bà Nguyễn N. Ph, Nguyễn Anh
Vũ, Nguyễn Ngọc Minh, Nguyễn Văn Đức Nguyễn Văn Phúc, nhưng nội
dung đơn thì không tên ông Đức ông Phú, nên đơn này không giá trị
pháp lý. Do đó, bản án sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng khoản 4 Điều 68, Điều
73 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2.2] Về việc áp dụng pháp luật:
Căn cứ vào lời khai của các đương sự, căn cứ vào các ngôi mcó trên đất,
bản án thẩm xác định phần đất tranh chấp nguồn gốc của gia tộc các
đương sự căn cứ. Tuy nhiên, gia đình nguyên đơn là người trực tiếp canh
tác, sử dụng đất ổn định, lâu dài từ trước 1975, với mục đích sử dụng đất thổ
và đất trồng cây lâu năm; được UBND phường xác nhận việc đăng ký năm 1983
14
hợp pháp. Theo chính sách của các Luật Đất đai qua các thời kỳ thì đây đất
của hộ gia đình N, ông M các con; các thành viên trong hộ gia đình
quyền ngang nhau về việc sử dụng, định đoạt. Do đó, bản án thẩm cho rằng
đây tài sản riêng của N căn cứ vào giấy phân chia đất năm 1999 để bác
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có nhầm lẫn về việc áp dụng pháp luật, trái
với đường lối xét xử Quyết định giám đốc thẩm số 211/2009/DS-GĐT ngày
26/5/2009 của Toà án nhân dân tối cao đã chỉ ra, gây thiệt hại đến quyền lợi của
nguyên đơn.
[2.3] Tại biên bản phiên toà sơ thẩm thể hiện, H cho rằng bản chất của
việc chuyển nhượng đất cho ông Đặng HQ là nhằm để vay tiền; ngược lại
ông Quang cho rằng đây chuyển nhượng. Toà án cấp thẩm chưa điều tra
làm rõ sự mâu thuẫn này, để giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu (nếu có).
Từ những phân tích nêu trên, xét thấy bản án thẩm có vi phạm nghiêm
trọng thủ tục tố tụng, sai lầm trong việc áp dụng pháp luật. Do đó, cần thiết
phải huỷ bản án thẩm chuyển hồ vụ án cho Toà án cấp thẩm để xét
xử lại vụ án theo trình tự sơ thẩm theo đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân
dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa.
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Hoàn trả cho Nguyễn Thị H 300.000
đồng tạm ứng đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 308, khoản 2 Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân s
năm 2015,
[1] Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị H.
[2] Chấp nhận Quyết định kháng ngh số 19/QĐ/KNPT-P9, ngày
10/10/2018 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tnh Bìnhơng.
Hu Bản án dân s sơ thẩm s 05/2018/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm
2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương chuyển hồ vụ án cho Toà án
cấp sơ thẩm xét xử lại theo thtục sơ thẩm.
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Trả cho bà Nguyễn Thị H 300.000 (ba
trăm ngàn) đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm theo biên lai thu số 26844
ngày 10/10/2018 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương.
[4] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Tải về
Bản án số 19/2021/DS-PT Bản án số 19/2021/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất