Bản án số 187/2025/DS-ST ngày 28/08/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau, tỉnh Cà Mau về tranh chấp đất đai

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 187/2025/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 187/2025/DS-ST ngày 28/08/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau, tỉnh Cà Mau về tranh chấp đất đai
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đất đai
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau, tỉnh Cà Mau
Số hiệu: 187/2025/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 28/08/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bà Đỗ Thị P có phần đất diện tích 32.209,1m2 tọa lạc tại ấp Đ, xã T, huyện P, tỉnh Cà Mau nay thuộc ấp Đ, xã P, tỉnh Cà Mau đã được Ủy ban nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2001. Đến ngày 06/4/2020, bà P xin cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được Ủy ban nhân dân huyện P chấp nhận cấp đổi lại nhưng không có đo đạc thực tế. Phần đất của bà P có cạnh hướng Tây giáp đất với ông Đỗ Việt T có chiều dài 273,03m nhưng quá trình sử dụng đất đến năm 2021, bà P phát hiện ông T có hành vi đo đạc, xịt nước sơn toàn bộ phần diện tích bờ ranh bao gồm cả phần căn nhà của vợ chồng anh Đỗ Thanh L, phần ao nuôi tôm của bà P lấn chiếm phần đất với diện tích 1.904,21m2 (ngang mặt tiền 4m, ngang mặt hậu 10m và chiều dài 272,03m) nên bà P khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông T trả lại phần diện tích đất nêu trên. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà P xác định được diện tích đất thực tế ông T lấn chiếm là 1.417,29m2 nên ngày 14/12/2023, bà P nộp đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện và chỉ yêu cầu ông T trả lại phần diện tích đất lấn chiếm 1.417,29m2 (ngang mặt tiền 4m, ngang mặt hậu 10m, dài 202,47m). Sau khi có kết quả đo đạc, chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Phú Tân xác định vị trí các bên chỉ ranh khi đo đạc thực tế không đúng với vị trí được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và phần đất có tổng diện tích 632,9m2 nằm trong quyền sử dụng đất đã được cấp cho bà P, phần diện tích còn lại là của ông T, ông T cũng thống nhất với quyền sử dụng được cấp là đúng nhưng quá trình giải quyết cũng như ngay tại phiên tòa, ông T vẫn cho rằng toàn bộ diện tích bờ ranh tranh chấp là của ông nên người đại diện hợp pháp của bà P thay đổi yêu cầu chỉ yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng ông T chấm dứt hành vi cản trở, xác định phần đất với tổng diện tích là 632,9 m2 thuộc thửa đất số 894 có diện tích 616,0m2, thửa đất số 893 có diện tích 16,9m2 theo biên tập mảnh trích đo của chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện Phú Tân là của vợ chồng ông T và xác định ranh đất theo mảnh trích đo là ranh đất giữa hai bên. Đồng thời, buộc vợ chồng anh T hoàn trả lại chi phí đo đạc, đình giá cho bà P. Ngoài ra, bà P không yêu cầu thêm khoản nào khác.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
KHU VỰC 3 – CÀ MAU Độc lập Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 187/2025/DS-ST
Ngày 28 8 2025
V/v tranh chấp QSD đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lâm Hoài Ân
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Vũ Minh Hoàng
2. Bà Đoàn Thị Sim
- Thư phiên toà: Ông Châu Sơn Ca Thư Toà án nhân dân khu
vực 3 - Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 Mau tham gia phiên
tòa: Ông Võ Việt Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 3 Mau
xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ số: 469/2023/TLST-DS, ngày 24
tháng 10 năm 2023 về việc tranh chấp quyền sử dụng đất theo Quyết định đưa vụ
án ra xét xử số: 77/2025/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 3 năm 2025 giữa các đương
sự:
1. Nguyên đơn: Đỗ Thị P, sinh năm 1951; Địa chỉ: ấp Đ, P, tỉnh
Mau.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Anh Hồ Văn K, sinh năm 1983;
Địa chỉ: khóm 8, C, tỉnh Mau; người đại diện theo ủy quyền của Đỗ
Thị P theo văn bản ủy quyền ngày 06/9/2023 (có mặt).
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị
H, sinh năm 1985; Luật của Công ty Luật TNHH Thiên Hoa Việt thuộc
Đoàn luật Thành phố Hồ Chí Minh tham gia bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp
của bà Đỗ Thị P (có mặt).
2. Bị đơn: Ông Đỗ Việt T, sinh năm 1960; Địa chỉ: ấp Đ, P, tỉnh Mau
( mặt).
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Đỗ Văn T1, sinh
năm 1960; Luật của Công ty Luật TNHH MTV Công Hùng cộng sự tại
Mau thuộc Đoàn luật tỉnh Mau tham gia bảo vquyền và lợi ích hợp
pháp của ông Đỗ Việt T (có mặt).
2
3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
3.1. Nguyễn Thị Ngọc Y, sinh năm 1984; Địa chỉ: khu phố 1, Phường
Bình T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông
Đỗ Việt T, sinh năm 1960; Địa chỉ: ấp Đ, P, tỉnh Mau; người đại diện
theo y quyền của Nguyễn Thị Ngọc Y theo văn bản ủy quyền ngày 28/3/2025
(có mặt).
3.2. Ông Đỗ Thanh L, sinh năm 1981 Thị N, sinh năm 1979; Địa
chỉ: ấp Đ, xã P, tỉnh Cà Mau ( mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện và lời khai trong quá trình
giải quyết vụ án được bổ sung tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên
đơn trình bày:
Đỗ Thị P phần đất diện tích 32.209,1m
2
tọa lạc tại ấp Đ, T, huyện
P, tỉnh Cà Mau nay thuộc ấp Đ, xã P, tỉnh Cà Mau đã được Ủy ban nhân dân huyện
Cái Nước, tỉnh Mau cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2001.
Đến ngày 06/4/2020, P xin cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
được Ủy ban nhân dân huyện P chấp nhận cấp đổi lại nhưng không có đo đạc thực
tế. Phần đất của P cạnh hướng Tây giáp đất với ông Đỗ Việt T chiều dài
273,03m nhưng quá trình sử dụng đất đến năm 2021, bà P phát hiện ông T có hành
vi đo đạc, xịt nước sơn toàn bộ phần diện tích bờ ranh bao gồm cả phần căn nhà
của vợ chồng anh Đỗ Thanh L, phần ao nuôi tôm của P lấn chiếm phần đất với
diện tích 1.904,21m
2
(ngang mặt tiền 4m, ngang mặt hậu 10m và chiều dài
272,03m) nên P khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông T trả lại phần
diện tích đất nêu trên. Trong quá trình giải quyết vụ án, P xác định được diện
tích đt thực tế ông T lấn chiếm 1.417,29m
2
nên ngày 14/12/2023, bà P nộp đơn
thay đổi yêu cầu khởi kiện và chỉ yêu cầu ông T trả lại phần diện tích đất lấn chiếm
1.417,29m
2
(ngang mặt tiền 4m, ngang mặt hậu 10m, dài 202,47m). Sau khi có kết
quả đo đạc, chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện Phú Tân xác định vị trí
các bên chỉ ranh khi đo đạc thực tế không đúng với vị trí được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất phần đất có tổng diện tích 632,9m
2
nằm trong quyền sử
dụng đất đã được cấp cho bà P, phần diện tích còn lại là của ông T, ông T cũng
thống nhất với quyền sử dụng được cấp là đúng nhưng quá trình giải quyết cũng
như ngay tại phiên tòa, ông T vẫn cho rằng toàn bộ diện tích bờ ranh tranh chấp
của ông nên người đại diện hợp pháp của bà P thay đổi yêu cầu chỉ yêu cầu Tòa án
buộc vợ chồng ông T chấm dứt hành vi cản trở, xác định phần đất với tổng diện
tích 632,9 m2 thuộc thửa đất số 894 diện tích 616,0m2, thửa đất số 893
diện tích 16,9m2 theo biên tập mảnh trích đo của chi nhánh Văn phòng Đăng
đất đai huyện Phú Tân là của vợ chồng ông T xác định ranh đất theo mảnh trích
đo là ranh đất giữa hai bên. Đồng thời, buộc vợ chồng anh T hoàn trả lại chi phí đo
đạc, đình giá cho bà P. Ngoài ra, P không yêu cầu thêm khoản nào khác.
Tại các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án được bổ sung tại phiên tòa,
ông Đỗ Việt T trình bày:
3
Phần đất của ông quản lý, sử dụng nguồn gốc từ ông nội của ông cho cụ
Đỗ Thị Lành (cô 5 của ông), Lành chuyển lại cho cha của ông cụ Đỗ Văn
Đởm. Sau khi, cụ Đởm chết phần đất theo đo đạc thực tế diện tích 29.390,2m
2
mẹ của ông cụ Nguyễn Thị Kén nhận thừa kế vào năm 2014. Sau đó, cụ Kén
tặng cho ông toàn bộ diện tích đất nêu trên. Đến năm 2020, ông được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông chị Nguyễn Thị Ngọc Y vợ của
ông. Quá trình quản lý, sử dụng đất bà P cho rằng ông lấn chiếm đất là không đúng
và phần đất ông quản lý, sử dụng tiếp giáp với bà P chiều dài 201,7m chứ không
phải 272,03m như trình bày của bà P, việc bà P bị mất đất nguyên nhân là do trước
đây chúng tôi đào con kênh Lung Tàng để canh tác chiều ngang 03m nhưng
hiện nay, con kênh này nơi bị xói mòn khoảng 20m dẫn đến việc đất bà P bị
thiếu trong khi giữa phần đất của ông P hiện nay bờ ranh, hai bên đều
mương nhưng phần bờ là của ông. Tính từ mặt tiền đo vào khoảng 100m con
mương ngang khoảng 1,5m nằm bên phía đất của P của ông nhưng cụ Đởm
cho bà P mượn sdụng từ hơn 30 năm nay. Vào khoảng năm 2021, ông dùng
thước dây để đo đất xịt nước sơn nên ông mới biết vợ chồng ông Đỗ Thanh
L cất nhà bờ P nuôi tôm trên phần đất của vợ chồng ông nhưng vợ chồng ông
không hành vi ngăn cản P, ông L sử dụng, hiện phần đất tranh chấp các
bên đang sử dụng. Tại phiên tòa, ông T xác định việc P cấp đổi lại giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất không đúng quy trình, không cán bộ dẫn đạc, không
các hgiáp ranh ký tên toàn bộ diện tích phần đất tranh chấp theo biên tập
mảnh trích đo của chi nhánh Văn phòng Đăng đất đai huyện Phú Tân của v
chồng ông nên không đồng ý với yêu cầu của P. Đối với căn nhà của ông Đỗ
Thanh L, Thị N yêu cầu tháo dỡ trả lại đất và ông đồng ý hỗ trợ cho vợ
chồng ông L 50% giá trị theo định giá còn cây trái, hoa màu trồng trên đất ông
không đồng ý hỗ trợ, không đồng ý bồi thường. Ngoài ra, ông T không yêu cầu
khác.
Tại biên bản ghi lời khai ngày 24/5/2025 được bổ sung tại phiên tòa,
Thị N và ông Đỗ Thanh L trình bày:
Ông bà là vợ chồng, phần đất tranh chấp là của bà Đỗ Thị P, bà P cho ông
mượn để cất nhà từ năm 2001 đến năm 2018, ông được nhà nước xây dựng
căn nhà theo chương trình của chính phủ. Trên phần đất tranh chp, ông
trồng 02 cây điệp, 04 cây mai vàng 02 cây dừa, 02 cây chanh, 01 cây gừa, 01 cây
bông trang, 01 cây nhào, 08 cây đước lớn, 16 cây đước nhỏ, 01 bụi lợp nhà
01 cây so đũa. Trường hợp Tòa án xem xét giải quyết phần đất tranh chấp thuộc
quyền sử dụng đất của ông Đỗ Việt T thì ông yêu cầu bồi thường giá trị căn nhà
cùng các cây trồng nhưng ông sẽ yêu cầu giải quyết sau, không yêu cầu trong
cùng vụ án này.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Đề nghị
Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bđơn trình bày: Đề nghị Hội
đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
4
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng nội
dung giải quyết vụ án:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư
phiên a của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi
thụ cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp
luật tố tụng dân sự. Đối với việc giải quyết vụ án, với các chứng cứ có tại hồ sơ, lời
trình bày của các đương stại phiên tòa Kiểm sát viên đnghị Hội đồng xét xử
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
[1] Về tố tụng: Ngày 11/9/2023, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại
phần đất lấn chiếm diện tích 1.904,2m
2
; Ngày 14/12/2023, nguyên đơn thay đổi
yêu cầu khởi kiện chỉ yêu cầu bị đơn trả lại diện tích đất lấn chiếm 1.417,29m
2
.
Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn chấm dứt hành vi lấn
chiếm giao trả lại cho nguyên đơn phần đất đã lấn chiếm có diện tích
1.378,5m
2
nhưng tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn, người
bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện chỉ yêu
cầu Tòa án buộc vợ chồng bị đơn chấm dứt hành vi cản trở việc quản lý, sử dụng
đất của nguyên đơn đối với phần đất diện tích 632,9m
2
bởi vào năm 2021, bị
đơn tđo đạc, xác định ranh đất của bđơn đến hết bđất cho rằng phần đất
hiện tranh chấp là của bị đơn quản lý, sử dụng đã được cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất. Tại phiên tòa, bị đơn cũng thừa nhận việc này nhưng không
hành vi cản trở đối với việc quản lý, sử dụng của nguyên đơn, hiện bờ đất hiện
trạng hai bên gia đình vẫn đang sử dụng.
Xét thấy, bị đơn tuy không thể hiện hành động cản trở đối việc quản lý, sử
dụng đất của nguyên đơn nhưng việc bị đơn xác định ranh đất của mình bao trùm
cả bờ đất đã trực tiếp làm ảnh hưởng đến quyền sử dụng đất của nguyên đơn nên
nguyên đơn có quyền yêu cầu khởi kiện đối với bị đơn là phù hợp với quy định tại
các Điều 166, 170 Luật đất đai năm 2013 (nay thuộc các điều 26, 31 Luật Đất đai
năm 2024). Riêng việc thay đổi yêu cầu khởi kiện, các đương sự đều thừa nhận
hiện đang sử dụng phần đất tranh chấp đều đó đồng nghĩa với việc các bên chưa ai
quản lý, sdụng phần bờ đất làm của riêng mình trên thực địa nên việc nguyên
đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện không vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu việc
thay đổi này phù hợp với quy định tại các Điều 186, 188, 243 của Bộ luật tố tụng
Dân sự nên căn cứ Điều 244 của Bộ luật tố tụng Dân sự Hội đồng xét xử chấp nhận
việc thay đổi yêu cầu trên của nguyên đơn.
[2] Theo mảnh trích đo đạc của chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện
Phú Tân (nay khu vực Phú Tân), phần đất tranh chấp thuộc các thửa: Thửa đất
số 893 có diện tích 16,9m
2
; thửa đất số 894 có diện tích 616,0m
2
cùng tọa lạc tại ấp
Đ, T, huyện P, tỉnh Mau nay thuộc ấp Đ, P, tỉnh Mau. Nguyên đơn
cho rằng phần diện tích đất trên thuộc quyền sử dụng của nguyên đơn đã được Sở
Tài nguyên Môi trường tỉnh Mau cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số CU 317237, CU 317241
cùng ngày 06/4/2020. Riêng bị đơn không đồng ý cho rằng phần diện ch đất
5
tranh chấp thuộc quyền sử dụng của bị đơn đã được Sở Tài nguyên Môi trường
tỉnh Cà Mau cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất số CV 907695 vào ngày 09/7/2020 nên giữa các đương sự
xảy ra tranh chấp.
[3] Xét nội dụng tranh chấp, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[3.1] Về nguồn gốc đất của nguyên đơn: Căn cứ bản đồ năm 1993, phần đất
hiện nguyên đơn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số
174 (diện tích 5.440m
2
), thửa đất số 177 (diện tích 4.050m
2
) do ông Đỗ Trung
Trực đăng ký; thửa đất số 175 (diện tích 13.000m
2
), thửa đất số 176 (diện tích
7.500m
2
) do ông Đỗ Văn đăng ký. Do ông Bé, ông Trực anh em trong gia
đình đã cho lại nguyên đơn phần đất trên nên tại bản đnăm 2006, các thửa đất
trên được nguyên đơn đăng thuộc thửa số 30 (diện tích 13.856,6m
2
), thửa số 31
(diện tích 18.343,4m
2
) bản đồ năm 2018, thuộc các thửa số 34 (diện tích
13.865,6m
2
), thửa số 56 (diện tích 18.343,5m
2
). Tổng diện tích nguyên đơn quản lý
sử dụng là 32.209,1m
2
.
[3.2] Về nguồn gốc đất của bđơn: Căn cứ bản đồ năm 1993, phần đất hiện
bị đơn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 179 (diện
tích 24.150m
2
), thửa đất số 178 (diện tích 1.000m
2
) do cụ Đỗ Văn Đởm đăng ký.
Tại bản đồ năm 2006, các thửa đất trên do bị đơn đăng thuộc thửa đất số 28
(diện tích 2.142,2m
2
), thửa số 27 (diện tích 27.538,6m
2
) bản đồ năm 2018,
thuộc thửa số 37 do bị đơn đứng tên với diện tích 29.390,2m
2
.
[3.3] Xét về quá trình quản lý, sdụng đất: Mặc dù, các đương sđều đăng
tên nh trên bản đồ năm 2006 nhưng theo hồ cấp đất do chi nhánh Văn
phòng Đăng đất đai cung cấp thể hiện phần đất bị đơn hiện đang quản , sử
dụng được cụ Nguyễn Thị Kén vợ của cụ Đỗ Văn Đởm nhận thừa kế vào ngày
12/7/2014 với tổng diện tích 29.390,2m
2
. Đến ngày 13/5/2019, bị đơn mới được cụ
Kén tặng cho toàn bộ diện tích đất trên. Ngày 23/4/2020, bị đơn cùng v
Nguyễn Thị Ngọc Y lập văn bản thỏa thuận nhập tài sản riêng vào tài sản chung
của vợ chồng nên ngày 09/7/2020, Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Mau cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền
với đất cho bị đơn cùng Y đứng tên trong khi phần đất nguyên đơn quản lý, sử
dụng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2001 (Bút lục 79,
88). Như vậy, nguyên đơn là người có quá trình canh tác, quản lý, sử dụng đất thực
tế lâu hơn so với bị đơn.
[4] Tuy khi cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2014,
diện tích đất được cấp cho cụ Kén tăng so với diện tích đăng trong tờ bản đồ
năm 1993 diện tích cụ Đởm được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào
ngày 15/9/2006 đến 3.940,2m
2
, do diện tích tăng được quan thẩm quyền
xác định tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cho cụ Đởm đã
sử dụng bản đồ thành lập năm 1993 nên độ chính xác không cao, không xác định
đúng vị trí ranh giới sử dụng (Bút lục 242 243) còn nguyên đơn khi cấp đổi giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2020, diện tích đất cũng tăng so với diện
tích đăng trong tờ bản đnăm 1993, 2006, 2018 diện tích được cấp giấy
6
chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2001 đến 2.219,1m
2
. Mặc dù, không được
quan thẩm quyền giải do diện tích đất tăng lên nhưng vào năm 2001,
nguyên đơn đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn cụ Đởm đến năm
2006 mới được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến năm 2013, cụ Đởm
chết nên cụ Kén nhận thừa kế được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào
năm 2014 nhưng đến năm 2020, nguyên đơn mới cấp đổi lại giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cả hai bên đương sự đều quản lý, sử dụng diện tích đất đều
dôi dư, trường hợp khi làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sdụng đất nếu cụ
Kén không thống nhất theo ranh đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
theo như bản biên tập mảnh trích đo hiện trạng của chi nhánh Văn phòng đăng ký
đất đai khu vực Phú Tân xác nhận thì không lý do các hộ giáp ranh trong đó
nguyên đơn tên vào bản tả ranh giới, mốc giới thửa đất (Bút lục 46) nên
việc người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn giải do thời điểm
cấp giấy đã sử dụng bản đồ năm 1993, độ chính xác không cao là sở chấp
nhận. Do đó, việc bị đơn cùng người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn
cho rằng quy trình cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của nguyên đơn
chưa đúng quy định của pháp luật nhưng trong suốt quá trình tố tụng, bị đơn cũng
không yêu cầu đối với việc cấp đất trên của nguyên đơn trong khi tại tờ bản
đồ năm 2006 thể hiện bị đơn đăng đúng với diện tích đất được cụ Kén khai
nhận thừa kế là có mâu thuẫn nên lời trình bày trên chưa đủ căn cứ để chấp nhận.
Mặt khác, các đương sđều thừa nhận Thị N và ông Đỗ Văn L đã
sinh sống cất nhà ở trên phần đất tranh chấp từ năm 2001 đến năm 2018, được Nhà
nước xây cất 01 căn nhà người nghèo theo Quyết định s33/2015/QDD-TTg
ngày 10/8/2015 của Thủ tường Chính phủ nguyên đơn cũng đang quản canh
tác phần ao nuôi tôm trên phần đất tranh chấp nhưng bị đơn không cung cấp được
tài liệu, chứng cứ để chứng minh việc ngăn cản không cho xây dựng nhà, không
cho nuôi tôm trên phần đất tranh chấp đều đó đồng nghĩa với việc bị đơn đồng ý
với việc nguyên đơn thực hiện quyền, nghĩa v của người sử dụng đất theo quy
định của Luật Đất đai. Hơn nữa, bản vẽ hiện trạng do các bên đương sự chỉ không
đúng với vị trí, ranh giới được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đã được
chi nhánh Văn phòng đăng đất đai biên tập xác định lại, các đương sự cũng đã
nhận được biên tập mảnh đo đạc chỉnh lý thửa đất do chi nhánh văn phòng đăng ký
đất đai cung cấp nhưng không ý kiến nên việc bị đơn cho rằng toàn bộ diện
tích đất thuộc thửa đất 893, 894 theo mảnh trích đo hiện trạng thuộc quyền sử dụng
của bị đơn là không có căn cứ.
[5] Từ phân tích, đánh giá tại [2], [3] [4], đối chiếu với công văn số
1476/CNVPĐKĐ ngày 03/12/2024, công văn số 288/CNVPĐngày 05/3/2025,
công văn số 812/CNVPĐngày 11/6/2025 cùng bản biên tập theo mảnh đo đạc
chỉnh thửa đất ngày 20/6/2024 (Bút lục 248 - 249, 268 - 269, 348) sở xác
định ranh đất giữa nguyên đơn bị đơn gồm các điểm M7’M17’, M32’M53’. Do
đó, một phần thửa đất số 893 gồm các cạnh M7’M8, M8M16, M16M17’,
M7’M17’ diện tích 16,9m
2
và thửa đất số 894 gồm các cạnh M3M32’, M3M47,
M47M53’, M32’M53’ diện tích 616,0m
2
thuộc quyền sử dụng của nguyên đơn,
7
riêng phần diện tích đất còn lại của thửa đất số 893, 894 thuộc quyền sử dụng của
bị đơn. Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có căn cứ, được chấp nhận.
[6] Về chi phí tố tụng, nguyên đơn đã chi trả chi phí đo đạc, định giá với
tổng số tiền 24.560.000 đồng, do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị
đơn phải chịu. Do đó, buộc bị đơn cùng người quyền lợi nghĩa vụ liên quan
bà Nguyễn Thị Ngọc Yến có trách nhiệm hoàn trả lại cho nguyên đơn là phù hợp.
[7] Về án phí dân sự thẩm, bị đơn phải chịu nhưng do bị đơn sinh năm
1960 người cao tuổi, tuy bị đơn không đơn yêu cầu miễn nộp tiền án phí
nhưng Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết s
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án quyết
định xét miễn cho bị đơn. Riêng nguyên đơn đã được miễn nộp tiền tạm ứng án phí
nên không phải hoàn trả lại.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 100, 166, 170 Điều 203 Luật Đất đai năm 2013 (nay là
Điều 26, 31, 137 và Điều 236 của Luật Đất đai năm 2024);
Căn cứ các Điều 163, 164 của Bộ luật Dân sự.
Căn cứ các Điều 147, 157 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Điều 26 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu của bà Đỗ Thị P.
Buộc ông Đỗ Việt T cùng bà Nguyễn Thị Ngọc Y chấm dứt hành vi xác định
phần đất tổng diện tích 639,2m
2
tọa lạc tại ấp Đ, xã P, tỉnh Mau thuộc các
thửa đất số 893 (có diện tích 16,9m
2
), 894 (diện tích 616,0m
2
) được xác định
ranh giới bởi các điểm M7’M17’, M32’M53’ theo biên tập mảnh đo đạc chỉnh
thửa đất ngày 20/6/2024 của chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện Phú Tân
hiện Đỗ Thị P đang quản lý, sử dụng thuộc quyền quản lý, sử dụng của ông T,
Y.
(Kèm theo mãnh đo đạc và bản biên tập mảnh đo đạc chỉnh lý thửa đất ngày
20/6/2024 của chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Phú Tân)
- Về chi phí tố tụng, buộc ông Đỗ Việt T cùng Nguyễn Thị Ngọc Y
trách nhiệm hoàn trả lại cho bà Đỗ Thị P chi phí đo đạc, định giá với tổng số tiền là
24.560.000 đồng (hai mươi bốn triệu năm trăm sáu mươi nghìn đồng).
- Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Đỗ Việt T được miễn nộp theo quy định.
Đỗ Thị P không phải nộp, đã được miễn nộp tiền tạm ứng án pnên không phải
hoàn lại.
Các đương s mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời
hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
8
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b 9 Luật Thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi
hành án dân sự.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Các đương sự; THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
- VKSND cùng cấp;
- Lưu hồ sơ vụ án. (Đã ký)
m Hoài Ân
Tải về
Bản án số 187/2025/DS-ST Bản án số 187/2025/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 187/2025/DS-ST Bản án số 187/2025/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất