Bản án số 184/2024/DS-PT ngày 29/08/2024 của TAND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu về tranh chấp về chia tài sản chung

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 184/2024/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 184/2024/DS-PT ngày 29/08/2024 của TAND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu về tranh chấp về chia tài sản chung
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về chia tài sản chung
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
Số hiệu: 184/2024/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 29/08/2024
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bà Phạm Thị T khởi kiện bà Nguyễn Thị Đ về việc
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số 184/2024/DS-PT
Ngày 29 - 8 - 2024
V/v “Tranh chấp chia tài sản chung
thừa kế về tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG U
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Xuân Long.
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Quang
Ông Cao Minh Vỹ
- Thư phiên tòa: Hồ Thị Tâm Thư Tòa án nhân n tỉnh
Rịa – Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Rịa Vũng Tàu tham gia
phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Thủy Kiểm sát viên.
Trong các ngày 22, 29 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh
Rịa – ng Tàu xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ s
110/2024/TLPT-DS ngày 07/6/2024 về việc “Tranh chấp chia tài sản chung và
thừa kế về tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 09/2024/DS-ST ngày 27/3/2024 của Tòa án
nhân dân thành phố Bà Rịa bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa ván ra xét xử số 179/2024/QĐ-PT ngày 03 tháng
7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 203/2024/QĐ-PT ngày 23
tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:
Phạm Thị T, sinh năm 1957 (vắng mặt);
Địa chỉ: Tổ F, thôn P, xã Đ, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Phùng Nguyễn L,
sinh năm 1976; địa chỉ: 2 đường P, tổ H khu phố H, phường L, thành phố B,
tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt).
2. Bị đơn:
Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1943 (vắng mặt);
Địa chỉ: Tổ G, ấp M, xã L, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
2
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Nguyễn Thanh H, sinh
năm 1983; địa chỉ: Tổ G ấp M, xã L, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Nguyễn Hồng T1, sinh năm 1980 (có mặt);
Địa chỉ: Tổ F, ấp H, xã P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
3.2. Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1966 (vắng mặt);
Địa chỉ: Tổ F, ấp H, xã P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
3.3. Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1970 (vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp M, xã L, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
3.4. Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1976 (vắng mặt);
Địa chỉ: Bưu điện M, khu phố B, phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng
Tàu.
3.5. Ông Nguyễn Sơn N1, sinh năm 1978 (vắng mặt);
Địa chỉ: Tổ A, ấp P, xã T, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
3.6. Ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1983 (có mặt);
Địa chỉ: Tổ G, ấp M, xã L, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
3.7. Ông Nguyễn Thành L1, sinh năm 1984 (vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp T, xã P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
4. Người kháng cáo:
4.1. Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1943; là bị đơn trong vụ án.
4.2. Ông Nguyễn Thành L1, sinh năm 1984; người quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Phạm Thị T người
đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn – ông Phùng Nguyễn L trình bày:
Phạm Thị T và ông Nguyễn Đức T2 (đã chết ngày 10-02-2018, không
để lại di chúc) tự nguyện chung sống với nhau từ năm 1986, không đăng kết
hôn. Quá trình chung sống ông T2 không con chung. Thời gian đầu
ông thuê (không nhớ cụ thể nơi ở), cho đến năm 1994 khi ông T2 T
được Nhà nước cấp đất L, thành phố B thì ông bà về dựng căn chòi sinh
sống tại đây.
Khoảng năm 2003, ông đã chuyển nhượng diện tích đất nói trên. Sau
đó, và ông Thu n chuyển nhượng diện tích đất 230,4m
2
thuộc thửa 574 (số
3
mới là 974), tờ bản đồ số 36 (số mới 03), tọa lạc tại xã H, thị xã B (nay là thành
phố B), tỉnh Rịa - Vũng Tàu (sau đây gọi tắt thửa 974) xây dựng căn
nhà vật kiến trúc trên đất như hiện nay. Ông chung sống cùng nhau trên n
đất này.
Ngày 08-7-2010, ông T2 T được Ủy ban nhân dân thB (nay
thành phố B) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
tài sản khác gắn liền với đất số BC 212905.
Đầu năm 2017, ông T2 bệnh nặng. Cuối năm 2017, các con ông T2 đưa
ông T2 về nhà đất L, huyện Đ chăm sóc. Ngày 10-02-2018, ông T2 chết.
Sau khi ông T2 chết vài tháng thì vông T2 Nguyễn Thị Đ cùng các con
của bà Đ, ông T2 đe dọa nên bà đã mang theo bản chính giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất đi khỏi nhà đất. Hiện nay bà đang ở nhờ nhà của người anh trai ở
Đ, huyện C.
Mặc pháp luật không thừa nhận quan hệ hôn nhân giữa ông T2
nhưng thửa đất 974 cùng căn nhà vật kiến trúc trên đấttài sản chung của ông
T2 bà T. Do vậy T yêu cầu Tòa án giải quyết chia cho được nhận ½ tài
sản chung. xin nhận nhà vật kiến trúc trên đất thanh toán lại ½ giá trị tài
sản cho các kỷ phần thừa kế của ông T2. Bà đề nghị Tòa án không cần xem xét
công sức của trong tài sản này. Trong trường hợp yêu cầu khởi kiện của
được Tòa án chấp nhận thì bà đề nghị ông Nguyễn Thanh H phải giao lại cho bà
bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà tài sản
khác gắn liền với đất số BI 778903 do Ủy ban nhân dân thị B (nay thành
phố B), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cấp lại cho ông T2 và bà T vào ngày 03-8-2012
đối với thửa đất 974.
Đối với yêu cầu độc lập của T1 tđề nghị Tòa án giải quyết theo
quy định của pháp luật.
2. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn Nguyễn Thị Đ người đại
diện theo ủy quyền của bị đơn – ông Nguyễn Thanh H trình bày:
Nguyễn Thị Đ ông Nguyễn Đức T2 chung sống nvợ chồng,
không đăng ký kết hôn từ thời điểm nào thì không nhớ.
Năm 1985-1986, do điều kiện công việc nên ông T2 bà Đ không còn
chung sống cùng nhau. Ông T2 đi làm H - L, thành phố B. Thời gian
đầu ông T2 sống đâu thì Đ không rõ. Đ không thời gian để lui tới
thăm ông T2 nhưng các con ông T2 thì vẫn lui tới thăm nom ông.
Thời gian (không cụ thể), ông T2 được Nhà nước cấp diện tích đất
thửa 93, tờ bản đồ số 17 (số thửa 14, tờ bản đồ 16) tọa lạc tại L, thị
B (nay là thành phố B) (sau đây gọi tắt là thửa 93). Khi ông T2 được cấp đất thì
chưa thấy bà T qua lại với ông T2 nhưng khi nhà trên đất thì bà T ng
ông T2. Còn nhà được làm từ thời gian nào thì Đ không rõ. Thời gian đầu
khi các con ông T2 lên thăm thì chưa thấy bà T ở nhưng sau đó thì có thấy.
4
Sau khi T về chung sống cùng ông T2 được vài năm thì ông T2
chuyển nhượng diện tích đất này để nhận chuyển nhượng diện tích đất thửa 974
xây dựng căn nhà vật kiến trúc trên đất như hiện nay, cùng T chung sống
trên nhà đất này.
Ông T2 T đi làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
ngày 08-7-2010, không biết do sao T được đứng tên cùng ông T2. Sau
khi được cấp giấy thì Triệu giữ. T yêu cầu ông T2 phải chuyển nhượng
nhà đất chia cho bà ½ nhưng ông T2 không đồng ý. T đe dọa lực với ông
T2. Biết được sự việc, con ông T2 là ông Nguyễn Thanh H tìm đến T để nói
chuyện nhưng bà T đã mang theo bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
đi khỏi nhà đất (thời điểm cụ thể T rời đi thì Đ không nhớ). Ông T2 liên
hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục cớ mất giấy chứng nhận. Ngày
03-8-2012, Ủy ban nhân dân thị B (nay thành phố B) cấp lại giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số
BI778903 cho ông T2 T đối với thửa đất này. Hiện nay ông H người đang
giữ bản chính.
Thời điểm (không nhớ cụ thể) ông T2 bệnh, cuối 2017 thì bệnh nặng. Các
con ông T2 cùng Đ thay nhau lên chăm sóc, đưa đến bệnh viện cho đến khi
yếu thì đưa ông T2 về nhà đất L, huyện Đ ông T2 chết tại đây. Sau khi
ông T2 chết thì Đ ông H về trên nhà đất thửa 974. Được thời gian
khoảng 04-05 năm thì bà Đ ông H về xã L, huyện Đ ở cho đến nay. Nhà đất cho
ở nhờ như hiện nay.
Về gia tộc của ông T2: Ông T2 chết ngày 10-02-2018, không để lại di
chúc. Ông T2 không cha mẹ nuôi, con nuôi, con riêng. Ba mẹ ruột của ông
T2 đã chết từ lâu (chết trước ông T2). Ông T2 chung sống với bà Đ 07 người
con chung các ông bà: Nguyễn Thị H1, Nguyễn Văn N, Nguyễn Văn D,
Nguyễn Sơn N1, Nguyễn Hồng T1, Nguyễn Thanh HNguyễn Thành L1.
Trước yêu cầu khởi kiện của bà T thì bà Đ chỉ đồng ý chia cho bà T được
nhận 4/10 hoặc 5/10 tài sản bằng giá trị.
Về yêu cầu độc lập của T1 thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy
định pháp luật nhưng xin cho được nhận toàn bộ nhà vật kiến trúc trên đất.
sẽ thanh toán lại giá trị tài sản cho T các kỷ phần thừa kế của ông T2.
Đ không tranh chấp yêu cầu gì trong vụ kiện.
3. Quá trình giải quyết vụ án, người quyền lợi nghĩa vụ liên quan
có yêu cầu độc lập – Nguyễn Hồng T1 trình bày:
Nguyễn Hồng T1 là con của ông Nguyễn Đức T2 và bà Nguyễn Thị
Đ. T1 xác định thống nhất với lời trình bày của Đ do ông H đại diện.
Trước yêu cầu khởi kiện của T thì chđồng ý chia cho T 4/10 hoặc
5/10 tài sản bằng giá trị.
Bà có yêu cầu độc lập là chia di sản thừa kế là phần giá trị nhà vật kiến
trúc trên đất thửa 974 của ông T2 cho các đồng thừa kế của ông T2. Cụ thể
5
sau khi xác định phần tài sản chia cho T trong khối tài sản chung với ông
T2 nhà vật kiến trúc đất nêu trên (nếu có) thì phần di sản của ông T2 đề
nghị chia làm 08 phần cho Đ các con chung của Đ ông T2 được
nhận.
đề nghị Tòa án xem xét cho Đ được nhận toàn bộ nhà vật kiến
trúc trên đất, Đ thanh toán lại giá trị tài sản cho T các kỷ phần thừa
kế của ông T2.
4. Quá trình giải quyết vụ án, những người quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan trình bày:
4.1. Nguyễn Thị H1 trình bày: H1 con của ông Nguyễn Đức T2
Nguyễn Thị Đ. Trước yêu cầu khởi kiện của T thì chỉ đồng ý phân
chia tài sản theo hướng T nhận 3/10 giá trị.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bà H1 xác định thống nhất với lời trình bày của
Đ do ông H đại diện. đồng ý chia cho T 4/10 hoặc 5/10 bằng giá trị. Đối
với yêu cầu độc lập của bà T1 thì bà đồng ý. Bà H1 đề nghị Tòa án xem xét cho
Đ được nhận toàn bộ nhà vật kiến trúc trên đất, Đ thanh toán lại giá trị tài
sản cho T các kỷ phần thừa kế của ông T2. H1 không tranh chấp,
yêu cầu gì trong vụ kiện.
4.2. Ông Nguyễn n N trình bày: Ông con của ông Nguyễn Đức T2
Nguyễn Thị Đ. Năm 1994, ông T2 được Nhà nước cấp diện tích đất 02ha
tọa lạc tại tổ E ấp P, L, thành phố B, tỉnh Rịa - Vũng Tàu. Năm 2005,
T về chung sống cùng ông T2, không đăng kết hôn. Thời điểm (không cụ
thể), ông T2 chuyển nhượng diện tích đất này nhận chuyển nhượng diện tích
đất H, thành phố B. Do thiếu hiểu biết, ông T2 đã nhờ dịch vụ làm thủ tục
chuyển nhượng nên bà T tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cùng
với ông T2.
Trước yêu cầu khởi kiện của T thì ông đồng ý phân chia tài sản theo
hướng bà T nhận 3/10 bằng giá trị.
4.3. Ông Nguyễn Văn D trình bày: Ông D không trình bày ý kiến. Đề
nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
4.4. Ông Nguyễn Sơn N1 trình bày: Ông con của ông Nguyễn Đức T2
Nguyễn Thị Đ. Ông T2 chết năm 2018, không để lại di chúc. Ông thống
nhất với lời trình bày của bị đơn bà Đ về gia tộc của ông T2.
Ông T2 có tài sản riêng là diện tích đất được Nhà nước cấp ở xã L, thành
phố B. Thời điểm (không cụ thể), ông T2 chuyển nhượng diện tích đất này
để nhận chuyển nhượng diện tích đất nay đang tranh chấp. Ông T2 cũng
người bỏ tiền ra xây dựng nhà vật kiến trúc trên đất. Do vậy nhà vật kiến trúc
trên đất tranh chấp là tài sản riêng của ông T2, không liên quan ai khác.
Về thời gian, địa điểm T bắt đầu chung sống với ông T2 thì ông N1
không rõ nhưng trước khi ông T2 chết khoảng 05-06 năm thì ông không thấy bà
6
T sống cùng ông T2 nữa. Trước khi chết ông T2 thời gian trở bệnh nặng,
sống một mình. Ông và các anh chị em thay nhau chăm sóc ông T2.
Trước yêu cầu khởi kiện của bà T thì ông không đồng ý. Đối với yêu cầu
độc lập của T1 thì ông đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Nếu ông được hưởng phần nào trong di sản của ông T2 thì ông nhận. Ông N1
không tranh chấp, yêu cầu gì trong vụ án.
4.5. Ông Nguyễn Thanh H trình bày: Ông H thống nhất với lời trình bày
của Đ do ông H đại diện trình bày. Ông không tranh chấp, yêu cầu trong
vụ án.
4.6. Ông Nguyễn Thành L1 trình bày: Ông con của ông Nguyễn Đức
T2. Trước yêu cầu khởi kiện của T thì ông đồng ý phân chia tài sản theo
hướng bà T nhận 3/10 bằng giá trị.
5. Tại Bản án dân sự thẩm số 09/2024/DS-ST ngày 27/3/2024 của
Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa đã tuyên xử:
5.1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị T về việc
tranh chấp chia tài sản chung của bà Phạm Thị T và ông Nguyễn Đức T2.
5.2. Chấp nhận yêu cầu độc lập của Nguyễn Hồng T1 về việc tranh
chấp về thừa kế tài sản của ông Nguyễn Đức T2.
5.3. Chia tài sản chung của ông Nguyễn Đức T2 Phạm Thị T, chia
di sản của ông T2 để lại như sau:
- Giao cho Phạm Thị T được quyền quản sử dụng diện ch đất
216,0 m2 thuộc thửa 974 (số cũ là 574), tờ bản đồ số 03 (số cũ là 36), tọa lạc tại
xã H, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, cùng tài sản gắn liền trên đất là nhà
một tầng loại 2, mái tôn, trần thạch cao, ô văng tông cốt thép, cửa sắt kính,
nền gạch ceramic; Mái che tôn, nền xi măng; Hàng rào lưới B40, trụ tông
cao 1,6m, dài 56m, theo đồ vị trí do Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên & Môi
trường tỉnh B lập ngày 29-01-2024 kèm theo Bản án.
- Phạm Thị T trách nhiệm thanh toán cho các ông bà: Nguyễn Thị
Đ, Nguyễn Thị H1, Nguyễn Văn N, Nguyễn Văn D, Nguyễn Sơn N1, Nguyễn
Hồng T1, Nguyễn Thanh HNguyễn Thành L1 mỗi người giá trị của một suất
thừa kế 62.986.062 đồng (sáu mươi hai triệu chín trăm tám ơi sáu nghìn
không trăm sáu mươi hai) đồng.
- Ông Nguyễn Thanh H trách nhiệm giao cho Phạm Thị T bản
chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác
gắn liền với đất số BI 778903 do Ủy ban nhân dân thị B (nay là thành phố
B) cấp cho ông Nguyễn Đức T2 Phạm Thị T vào ngày 03-8-2012. Trong
trường hợp ông H không thực hiện thì bà T được quyền liên hệ với cơ quan nhà
nước thẩm quyền để đăng điều chỉnh, chỉnh đứng tên diện ch đất
theo quy định của pháp luật và theo Quyết định của Bản án.
7
Ngoài ra, Bản án thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí quyền
kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
6. Nội dung kháng cáo:
Ngày 10/4/2024, Tòa án nhân dân thành phố Rịa nhận được đơn
kháng cáo của bà Nguyễn Thị Đ (do ông Nguyễn Thanh H đại diện ủy quyền ký
đơn) đơn kháng cáo của ông Nguyễn Thành L1, nội dung: Yêu cầu Tòa
án cấp phúc thẩm sửa một phần bản án thẩm theo hướng: Giao cho
Nguyễn Thị Đ cùng các ông (bà): Nguyễn Thị H1, Nguyễn Văn N, Nguyễn Văn
D, Nguyễn Sơn N1, Nguyễn Hồng T1, Nguyễn Thanh H Nguyễn Thành L1
được quyền quản , sử dụng diện tích đất 216,0 m2 thuộc thửa 974 (số
574), tờ bản đồ số 03 (số 36), tọa lạc tại H, thành phố B, tỉnh Rịa -
Vũng Tàu, cùng tài sản gắn liền trên đất nhà một tầng loại 2, mái tôn, trần
thạch cao, ô văng bê tông cốt thép, cửa sắt kính, nền gạch ceramic; Mái che tôn,
nền xi măng; Hàng rào lưới B40, trụ tông cao 1,6m, dài 56m, theo đồ v
trí do Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên & Môi trường tỉnh B lập ngày 29-01-
2024.
Nguyễn Thị Đ ng các ông (bà): Nguyễn Thị H1, Nguyễn Văn N,
Nguyễn Văn D, Nguyễn Sơn N1, Nguyễn Hồng T1, Nguyễn Thanh H
Nguyễn Thành L1 trách nhiệm thanh toán cho Phạm Thị T ½ giá trị
quyền sử dụng đất và ½ giá trị tài sản gắn liền với đất.
7. Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn vẫn giữ nguyên
yêu cầu kháng cáo. Các bên đương sự không thỏa thuận được việc giải quyết vụ
án và không cung cấp tài liệu, chứng cứ mới.
8. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Rịa Vũng Tàu tham gia
phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết tại phiên tòa, Thẩm phán,
thành viên Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng
quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào khoản 1
Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; bác đơn kháng cáo của người kháng cáo
giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên
sở kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử
nhận định:
[1] Về tố tụng:
8
[1.1] Đơn kháng cáo của Nguyễn Thị Đ (do ông Nguyễn Thanh H đại
diện ủy quyền đơn) đơn kháng cáo của ông Nguyễn Thành L1 đảm bảo
đúng thủ tục, nội dung nộp trong thời hạn theo quy định tại các Điều 272,
273 của Bộ luật tố tụng dân sự nên hợp lệ; Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp
nhận xem xét lại bản án sơ thẩm theo trình tự phúc thẩm.
[1.2] Sự vắng mặt của các đương sự tại phiên tòa: Tòa án đã tống đạt
quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ cho các đương
sự; các đương sự vắng mặt không do chính đáng hoặc sự kiện bất khả
kháng, một số đương sự vắng mặt đã đơn xin xét xử vắng mặt đây
phiên tòa lần thứ hai nên theo quy định tại khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng
dân sự thì Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ.
[2] Xét nội dung kháng cáo của bà Nguyễn Thị Đ (do ông Nguyễn Thanh
H đại diện ủy quyền đơn) đơn kháng cáo của ông Nguyễn Thành L1 thì
thấy:
[2.1] Xác định đối tượng tranh chấp:
Căn cứ vào yêu cầu của đương sự, đồ vị tcủa Trung tâm Kỹ thuật
Tài nguyên Môi trường tỉnh B lập ngày 29/01/2024, Biên bản thẩm định
xem xét tại chỗ ngày 06/12/2023 và Biên bản định giá tài sản ngày 06/12/2023
có cơ sở để xác định đối tượng tranh chấp là:
+ Thửa đất tranh chấp 974 có diện tích 230,4 m
2
(40m
2
đất tại nông
thôn 190,4m
2
đất trồng cây lâu năm). Qua đo đạc thực tế thì thửa đất
diện tích 216,0 m
2
; Giá trị quyền sử dụng đất theo giá thị trường được xác định
là: 788.000.000 đồng.
+ Trên đất vật kiến trúc căn nhà một tầng loại 2, mái tôn, trần
thạch cao, ô văng tông cốt thép, cửa sắt kính, nền gạch ceramic; mái che
tôn, nền xi măng; hàng rào lưới B40, trụ bê tông cao 1,6m, dài 56m, theo Biên
bản định giá tài sản ngày 06-12-2023. Giá trị vật kiến trúc trên đất theo giá
trị hiện nay là: 219.777.000 đồng.
[2.2] Xét quan hệ giữa ông Nguyễn Đức T2, bà Phạm Thị T thì thấy:
Căn cứ vào Sổ hkhẩu gia đình do T cung cấp thì T tên trong
Sổ hộ khẩu ấp B, L, thị xã B (nay thành phố B) ngày 09-5-2003 do ông
T2 làm chủ hộ, ghi quan hvới chủ hộ “Vợ”. Ngày 29-11-2007 được thay
đổi địa giới hành chính thành tổ E, ấp P, L, thị B (nay thành phố B).
Theo xác nhận của bà T các đương sự khác tại phiên tòa, thì ông T2 T
chung sống với nhau sau năm 1993, không tiến hành đăng ký kết hôn. Do đó,
căn cứ xác định giữa ông T2 T không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ
giữa vợ và chồng.
[2.3] Xác định tài sản chung của ông Nguyễn Đức T2, bà Phạm Thị T:
Căn cứ vào hồ sơ về nguồn gốc đất, xét việc cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất đối với thửa đất số 974 (số 574), tờ bản đồ số 03 (số 36) tọa
lạc tại xã H, thành phố B thì thấy:
9
Ngày 20-4-2010, ông T2 T nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn
Văn Đ1 Phạm Thị Ngọc L2 thửa đất số 974, theo Hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất số 677 quyển số 01TP/CC- SCC- HĐGD.
Ngày 08-7-2010, ông T2 T được Ủy ban nhân dân thị B (nay là
thành phố B) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
tài sản khác gắn liền với đất số BC 212905. Ngày 11-4-2012, ông T2 đơn
cớ mất giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản
khác gắn liền với đất số BC 212905 cấp ngày 08- 7-2010. Cùng tháng 4-2012,
ông T2 đơn đnghị cấp lại, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu ntài sản khác gắn liền với đất. Ngày 03-8-2012, Ủy ban
nhân dân thị B (nay thành phố B) ban hành Quyết định số 2791/QĐ-
UBND về việc hủy giấy chứng chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà tài sản khác gắn liền với đất số BC212905 ngày 08-7-2010. Cùng
ngày 03-8-2012, Ủy ban nhân dân thị B (nay thành phố B) cấp lại giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền
với đất số BI 778903 cho ông T2 T đối với thửa đất này. Các tài sản gắn
liền trên đất được tạo lập trong thời gian ông T2 và bà T sống chung.
Đồng thời, sau khi xét xử thẩm, bị đơn Đ người quyền lợi
nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn cũng xác nhận không kháng cáo về
việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định thửa đất số 974 (số 574), tờ bản đồ số 03
(số cũ 36) và tài sản gắn liền với đất là tài sản chung của ông T2, bà T.
Như vậy, việc ông T2 T cùng đứng tên trên Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số BI778903 của UBND thị xã B cấp ngày 03/8/2012, cùng
với sự thừa nhận của các đương sự, Hội đồng xét xử sở để xác định:
Thửa đất tranh chấp 974 diện tích 230,4 m
2
(40m
2
đất tại nông thôn
190,4m
2
đất trồng cây lâu năm) - đo đạc thực tế thì thửa đất diện tích
216,0m
2
và tài sản gắn liền với đất là tài sản chung của ông T2 và bà T.
[2.4] Xét việc phân chia tài sản chung của ông T2, bà T:
Ông T2 đã chết, các thừa kế của ông T2 T không cung cấp được
văn bản thể hiện sự thỏa thuận về quan hệ tài sản thửa đất số 974, tờ bản
đồ số 03, diện tích 216 m
2
và công trình kiến trúc có trên đất. Do đó, Tòa án cấp
thẩm xác định bà T, ông T2 mỗi người được hưởng ½ tài sản chung. Vì thửa
đất 974 không đủ điều kiện tách thửa để phân chia bằng hiện vật, nên căn cứ
vào Điều 219 của Bộ luật Dân sự 2015 quy định về chia tài sản thuộc sở hữu
chung, Tòa án cấp thẩm đã phân chia cho T được nhận toàn bộ nhà vật
kiến trúc trên đất, T phải thanh toán lại giá trị ½ tài sản chung cho những
người thừa kế của ông T2.
[2.5] Xét nội dung kháng cáo của Nguyễn Thị Đ (do ông Nguyễn
Thanh H đại diện ủy quyền đơn) và đơn kháng cáo của ông Nguyễn Thành
L1, nội dung yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa một phần bản án thẩm
theo hướng: Giao cho Nguyễn Thị Đ cùng các ông (bà): Nguyễn Thị H1,
Nguyễn Văn N, Nguyễn Văn D, Nguyễn Sơn N1, Nguyễn Hồng T1, Nguyễn
10
Thanh H Nguyễn Thành L1 được quyền quản lý, sử dụng diện tích đất 216,0
m2 thuộc thửa 974 (số cũ là 574), tờ bản đồ số 03 (số cũ là 36), tọa lạc tại xã H,
thành phố B, tỉnh Rịa - Vũng Tàu, cùng tài sản gắn liền với đất những
người thừa kế của ông T2 sẽ trách nhiệm thanh toán cho Phạm Thị T ½
giá trị quyền sử dụng đất và ½ giá trị tài sản gắn liền với đất thì thấy:
Căn cứ vào sổ hộ khẩu gia đình do bà T cung cấp thể hiện: Ngày
09/5/2003, ông T2 chuyển hộ khẩu sinh sống từ M, L, L đến Ấp B, L, thị
B; ngày 09/5/2003, Phạm Thị T chuyển hộ khẩu sinh sống từ Ấp B, xã H đến
Ấp B, xã L, thị xã B.
Căn cứ vào Quyết định tuyên b một người mất ch số 11/2013/QĐ-
GQVHN ngày 10/9/2013 của Tòa án nhân dân thành phố Rịa thể hiện: Bà T
biệt tích liên tục từ ngày 10/7/2010 đến nay Thời gian biệt tích đã trên 02 năm
do đó Tòa án đã chấp nhận yêu cầu độc lập của ông T2 và tuyên bố bà T đã mất
tích; giao cho ông T2 được tiếp tục quản tài sản chung gồm diện tích đất
thuộc thửa 574, tờ bản đồ số 36, tọa lạc tại H, thành phố B, tỉnh Rịa -
Vũng Tàu.
Căn cứ vào Quyết định tuyên bố một người đã chết số 14/2018/QĐST-
VDS ngày 11/10/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa thể hiện: Bà T đã
biệt tích hơn 03 năm kể tngày quyết định tuyên bố mất tích số 11/2013/QĐ-
GQVHN ngày 10/9/2013 của Tòa án nhân dân thành phố Rịa hiệu lực
pháp luật mà không có tin tức xác thực còn sống. Vì vậy, Tòa án đã tuyên bố bà
T đã chết từ ngày 10/7/2010.
Như vậy, căn cứ để xác định: Kể từ năm 2003, T ông T2 chung
sống với nhau; nhưng kể từ ngày 10/7/2010 đến nay, bà T đã bỏ đi khỏi địa
phương, không còn chung sống với ông T2 tại thửa 974 (số 574), tờ bản
đồ số 03 (số là 36), tọa lạc tại: Tổ I, Ô, ấp B, tại xã H, thành phố B, tỉnh
Rịa - Vũng Tàu.
Mặt khác, theo xác nhận của T thì nguồn tiền để hình thành nên thửa
974 (số cũ là 574), tờ bản đồ số 03 (số cũ là 36), tọa lạc tại: Tổ I, Ô, ấp B, tại xã
H, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu là do chuyển nhượng thửa đất số 93, tờ
bản đồ số 17 (cũ: thửa 14, tờ bản đồ số 16) tọa lạc tại L. Căn cứ vào hồ
sao lục từ Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B thì căn cứ để xác định thửa đất
số 93, tờ bản đồ số 17 tài sản riêng của ông T2. Như vậy, mức đóng góp của
ông T2 trong khối tài sản hiện nay là lớn hơn rất nhiều mức đóng góp của bà T.
Đồng thời, ông T2 người quản tài sản chung trong thời gian kể từ năm
2010 đến nay. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định cho bà T được chia ½ tài sản
của ông T2, T đang đứng tên chung là chưa phù hợp, không đảm bảo về cho
mức đóng góp của ông T2 trong khối tài sản chung trên Tòa án cấp thẩm
cho T được hưởng ½ tài sản bằng hiện vật thanh toán ½ giá trị cho thừa
kế của ông T2 là không đảm bảo nguyên tắc phân chia tài sản chung.
T đã bỏ đi khỏi địa phương sống nơi khác, do đó Tòa án cấp
thẩm xác định bà T nhu cầu về chỗ để phân chia tài sản chung bằng hiện
11
vật không căn cứ. Từ ngày 10/7/2010, ông T2 già yếu, bị bệnh Đ cùng
các con người trực tiếp chăm sóc lo mai táng cho ông T2. Tại phiên tòa,
người đại diện hợp pháp cho bà Đ tự nguyện giao giá trị tài sản chung cho bà T
với số tiền 600.000.000 đồng cao hơn ½ giá trị tài sản chung (503.888.500
đồng) để được nhận nhà đất là có lợi cho T.
Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận yêu cầu kháng cáo của
Nguyễn Thị Đ, ông Nguyễn Thành L1, sửa bản án thẩm để phân chia tài sản
chung theo hướng chia cho bà T 600.000.000 đồng trong khối tài sản chung của
ông T2, bà T.
Đ đồng ý quản và nhận di sản diện tích đất 216,0 m2 thuộc thửa
974 (số 574), tờ bản đồ số 03 (số 36), tọa lạc tại xã H, thành phố B,
tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, cùng tài sản gắn liền trên đất và đồng ý thanh toán cho
T 600.000.000 đồng chia cho mỗi thừa kế của ông T2 được hưởng phần
giá trị di sản của ông T2 chết để lại tương ứng số tiền: 62.986.062 đồng; nên
Hội đồng xét xử ghi nhận là phù hợp.
[3] Về chi phí tố tụng: Tại cấp thẩm hết 7.418.835 đồng; T
những người thừa kế của ông T2 mỗi bên phải chịu ½ số tiền trên. Do T đã
nộp tạm ứng nên, các thừa kế của ông T2 phải hoàn trả lại cho T số tiền:
3.709.417 đồng.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà Phạm Thị T, Nguyễn Thị Đ do là
người cao tuổi.
- Các thừa kế con của ông T2 gồm ông (bà): Nguyễn Thị H1, Nguyễn
Văn N, Nguyễn Văn D, Nguyễn Sơn N1, Nguyễn Hồng T1, Nguyễn Thanh H
ông Nguyễn Thành L1 phải chịu án phí trên số tiền được chia thừa kế, mỗi
người phải chịu 3.149.303 đồng.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm:
Do yêu cầu kháng cáo được chấp nhận nên Đ, ông L1 không phải
chịu.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;
Chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Đ và ông Nguyễn Thành L1;
Sửa một phần Bản án dân sự thẩm số 09/2024/DS-ST ngày 27/3/2024
của Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa; cụ thể:
Áp dụng: Điều 207, 219, 623, 650, 651; 660 Bộ luật Dân sự 2015; Điều
14 Luật Hôn nhân gia đình; Điều 12, 26, 27, 29 Nghị quyết s
12
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án
phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị T về việc:
Tranh chấp chia tài sản chung của bà Phạm Thị T và ông Nguyễn Đức T2.
2. Chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Hồng T1 về việc tranh chấp
về thừa kế tài sản của ông Nguyễn Đức T2.
3. Chia tài sản chung của ông Nguyễn Đức T2 Phạm Thị T chia
di sản của ông Nguyễn Đức T2 để lại như sau:
- Nguyễn Thị Đ (vợ của ông Nguyễn Đức T2 - đã chết ngày
10/02/2018) được quyền quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản chung của ông
Nguyễn Đức T2 và được chia di sản thừa kế của ông T2 chết để lại là: Diện
tích đất 216,0 m
2
thuộc thửa 974 (số 574), tờ bản đồ số 03 (số 36),
tọa lạc tại H, thành phố B, tỉnh Rịa - Vũng Tàu, cùng i sản gắn liền
trên đất nhà một tầng loại 2, mái tôn, trần thạch cao, ô văng tông cốt
thép, cửa sắt kính, nền gạch ceramic; Mái che tôn, nền xi măng; Hàng rào
lưới B40, trụ tông cao 1,6m, dài 56m, theo đồ vị trí do Trung tâm Kỹ
thuật Tài nguyên & Môi trường tỉnh B lập ngày 29/01/2024 kèm theo Bản án.
- Nguyễn Thị Đ trách nhiệm thanh toán (giá trị tài sản chung của
ông T2 T) cho Phạm Thị T số tiền 600.000.000đ (Sáu trăm triệu
đồng).
- Nguyễn Thị Đ trách nhiệm thanh toán (giá trị di sản của ông
Nguyễn Đức T2 đã chết ngày 10/2/2018 đlại) cho các ông (bà): Nguyễn
Thị H1, Nguyễn Văn N, Nguyễn Văn D, Nguyễn Sơn N1, Nguyễn Hồng T1,
Nguyễn Thanh H Nguyễn Thành L1 mỗi người 62.986.062đ (Sáu mươi
hai triệu chín trăm tám mươi sáu nghìn không trăm sáu mươi hai đồng).
- Ông Nguyễn Thanh H trách nhiệm giao cho Nguyễn Thị Đ bản
chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác
gắn liền với đất số BI 778903 do Ủy ban nhân dân thị B (nay thành phố
B) cấp cho ông Nguyễn Đức T2, Phạm Thị T vào ngày 03-8-2012. Trong
trường hợp ông H không thực hiện thì Đ được quyền liên hệ với quan
nhà nước có thẩm quyền để đăng điều chỉnh, chỉnh lýđứng tên diện tích
đất theo quy định của pháp luật và theo Quyết định của Bản án.
4. Về chi phí tố tụng:
T phải nộp: 3.709.417đ (Ba triệu bảy trăm linh chín ngàn bốn trăm
mười bảy đồng); đã nộp đủ.
Các thừa kế của ông T2 gồm các ông (bà): Nguyễn Thị Đ, Nguyễn Thị
H1, Nguyễn Văn N, Nguyễn Văn D, Nguyễn Sơn N1, Nguyễn Hồng T1,
Nguyễn Thanh H Nguyễn Thành L1 phải hoàn trả lại cho T số tiền:
3.709.417đ (Ba triệu bảy trăm linh chín ngàn bốn trăm mười bảy đồng).
13
5. Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án
cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn
phải trả cho bên được thi hành án khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành
án theo mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân stương
ứng với thời gian chưa thi hành án.
6. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà Phạm Thị T, bà Nguyễn Thị Đ.
Nguyễn Thị H1 phải nộp 3.149.303đ (ba triệu một trăm bốn mươi
chín nghìn ba trăm lẻ ba đồng).
Ông Nguyễn Văn N phải nộp 3.149.303đ (ba triệu một trăm bốn ơi
chín nghìn ba trăm lẻ ba đồng).
Ông Nguyễn Văn D phải nộp 3.149.303đ (ba triệu một trăm bốn ơi
chín nghìn ba trăm lẻ ba đồng).
Ông Nguyễn Sơn N1 phải nộp 3.149.303đ (ba triệu một trăm bốn mươi
chín nghìn ba trăm lẻ ba đồng).
Nguyễn Hồng T1 phải nộp 3.149.303đ (ba triệu một trăm bốn ơi
chín nghìn ba trăm lẻ ba đồng), khấu trừ vào số tiền 4.500.000 (bốn triệu năm
trăm nghìn) đồng bà T1 đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005451
ngày 29-6-2023 của Chi cục Thi hành án dân sthành phố Bà Rịa. Như vậy bà
T1 được hoàn trả lại số tiền 1.350.697đ (một triệu ba trăm năm mươi nghìn sáu
trăm chín mươi bảy đồng).
Ông Nguyễn Thanh H phải nộp 3.149.303đ (ba triệu một trăm bốn mươi
chín nghìn ba trăm lẻ ba đồng).
Ông Nguyễn Thành L1 phải nộp 3.149.303đ (ba triệu một trăm bốn ơi
chín nghìn ba trăm lẻ ba đồng).
7. Về án phí dân sự phúc thẩm:
Nguyễn Thị Đ, ông Nguyễn Thành L1 không phải chịu.
Hoàn trả lại cho Nguyễn Thị Đ (do ông Nguyễn Thanh H đại diện
nộp) số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001201
ngày 09/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bà Rịa.
Hoàn trả lại cho ông Nguyễn Thành L1 số tiền 300.000 đồng theo biên
lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001202 ngày 09/5/2024 của Chi cục Thi hành
án dân sự thành phố Bà Rịa.
8. Bản án phúc thẩm hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày
29/8/2024).
9. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành
án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi
14
hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b 9 Luật thi hành án dân sự;
thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án
dân sự.
(Kèm theo đồ vị trí do Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên & Môi trường
tỉnh B lập ngày 29/01/2024).
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- VKSND tỉnh BR-VT; THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND TP Bà Rịa;
- VKSND TP Bà Rịa;
- Chi cục THADS TP Bà Rịa;
- Các đương sự;
- Lưu: Hồ sơ, Tòa DS, VP.
Cao Xuân Long
Tải về
Bản án số 184/2024/DS-PT Bản án số 184/2024/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 184/2024/DS-PT Bản án số 184/2024/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất