Bản án số 180/2023/DS-PT ngày 20/04/2023 của TAND cấp cao tại Hà Nội về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 180/2023/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 180/2023/DS-PT ngày 20/04/2023 của TAND cấp cao tại Hà Nội về tranh chấp về thừa kế tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND cấp cao tại Hà Nội
Số hiệu: 180/2023/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 20/04/2023
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: huỷ BẢN ÁN
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CP CAO
TI HÀ NI
Bn án s: 180/2023/DS-PT
Ngày 20 - 4 - 2023
V/v: “Tranh chp chia di sn tha kế;
đòi tài sản và hy giy chng nhn
quyn s dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lp - T do - Hnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Phan Thị Vân Hương
Các Thẩm phán: Ông Hồ Sỹ Hưng
Ông Nguyễn Mạnh Tiến.
- Thư phiên tòa: Đặng Xuân Thành, Thư Tòa án nhân dân cấp
cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Nội: Thị Anh,
Kiểm sát viên tham gia phiên a.
Ngày 20 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Nội
xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số: 144/2021/TLPT-DS
ngày 20 tháng 5 năm 2021 về “Tranh chấp chia di sản thừa kế, đòi tài sản và hủy
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” .
Do Bn án dân s thẩm s 07/2021/DS-ST ngày 20 tháng 5 năm 2021
ca Tòa án nhân dân tnh H b kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 3863/2023/QĐPT-DS
ngày 04 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: C Nguyn Th B, sinh năm 1917, chết ngày 05/12/2022.
Người kế tha quyền và nghĩa vụ t tng:
1. Ông Văn AB4, sinh năm 1948; địa ch: Khu 8, Y, huyn X, tnh
H;
2. Bà Nguyn Th AB2, sinh năm 1940; địa ch: Khu 8, xã Y, huyn X, tnh
H.
3. Bà Cù Th AB3, sinh năm 1947; địa ch: Tp th nhà máy chè Kim Anh,
huyện Sóc Sơn, thành ph A.
2
4. Nguyn Th AB5, sinh năm 1952; đa ch: phòng 1604, khu tp th
K, đường Đ, quận HM, thành ph A.
5. Bà Nguyn Th AB6, sinh năm 1958; địa ch: S nhà 15, ngõ 45 ph C,
phưng T, qun T, thành ph A.
6. Ông Nguyễn Văn AB7, sinh năm 1960 Nguyễn Th S, sinh năm
1962; địa ch: S 450 đường H, phưng Nguyn P, tnh ph Y.
7. Các con ca ông Cù Văn AB1.
Người đại din theo u quyn ca AB6, ông AB7, ông Thái, AB2
ông AB4 (Văn bản u quyn ngày 07/3/2023). Có mt ông AB4 ti phiên toà.
* B đơn: Nguyn Th C, sinh năm 1947; địa ch: Khu 8, Y, huyn
X, tnh H. Vng mt.
Người đại din theo y quyn: Ông Nguyễn Văn D1, sinh năm 1978; đa
ch: Khu 8, xã Y, huyn X, tnh H. Có mt ti phiên toà.
Người bo v quyn và li ích hp pháp ca b đơn: Luật sư Đàm Quốc C,
lut sư Ngô T - Công ty luật TNHH, Đoàn luật sư tỉnh H. Có mt ti phiên toà.
* Người có quyn lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. U ban nhân dân huyn X, tnh H;
2. UBND xã Y, huyn X, tnh H;
3. Ch Nguyn Th D2, sinh năm 1968 và anh Đ Văn Thủy, sinh năm 1968;
địa ch: Khu 8, xã Y, huyn X, tnh H.
4. Ch Nguyn Th D3, sinh năm 1971; đa ch: N142, s 01 đường M,
phưng T, thành ph V, tnh H.
5. Anh Nguyễn Văn D1, sinh năm 1978 chị Đỗ Th Chung, sinh năm
1984; địa ch: Khu 8, xã Y, huyn X, tnh H.
6. Anh Nguyễn Văn D4 (sinh năm 1973, chết năm 2022).
7. Nguyn Th AB2, sinh năm 1940; đa ch: Khu 8, Y, huyn X,
tnh H.
8. Th AB3, sinh năm 1947; địa ch: Tp th nhà máy K, huyn S,
thành ph A.
9. Nguyn Th AB5, sinh năm 1952; đa ch: CT 11, phòng 1604 tng
16, khu tp th K, đường Đ, quận HM, thành ph A.
10. Bà Nguyn Th AB6, sinh năm 1958; địa ch: S nhà 15, ngõ 45 ph C,
phưng T, qun T, thành ph A.
11. Ông Nguyễn Văn AB7, sinh năm 1960; Nguyễn Th S, sinh năm
1962.
3
Cùng địa ch: S 450 đường H, phường N, thành ph Y.
12. Bà Nguyn Th H; ông Cù Đăng K;
Cùng địa ch: Khu 8, xã Y, huyn X, tnh H.
13. Ông Cù Văn AB4, sinh năm 1948; đa ch: Khu 8, xã Y, huyn X, tnh
H.
Người đại din theo u quyn ca AB6, ông AB7, ông T, AB2 là ông
AB4 (Văn bn u quyn ny 07/3/2023). mt ông AB4 ti phiên toà.
NI DUNG V ÁN:
Các đương sự thng nht v quan h huyết thống như sau: C Nguyễn Văn
A (chết năm 1979) và cụ Nguyn Th B 7 con chung là ông Văn AB1 (ông
AB1 chết năm 2012; v ông AB1 là bà Nguyn Th C, con chung là Nguyễn Văn
D1, Nguyễn Văn D4, Nguyn Th D3 và Cù Th D5), bà Nguyn Th AB2, bà Cù
Th AB3, ông Văn AB4, Nguyn Th AB5, bà Nguyn Th AB6, ông
Văn AB7.
Năm 2018, c Nguyn Th B khi kin v án hành chính, yêu cu Tòa án
hu mt phn Giy chng nhn quyn s dụng đất (sau đây viết tt là GCNQSD)
s P658750 do y ban nhân dân huyn X cp cho ông Văn AB1 ngày
15/8/2000 (phn cp GCNQSD thửa đất s 60, t bản đồ 09 din tích 924m2).
Tòa án nhân dân tnh H đã giải quyết sơ thẩm ti Bn án s 02/2019/HC-ST ngày
15/3/2019, chp nhn yêu cu khi kin ca c B. C kháng cáo. Ti Bn án
hành chính phúc thm s 319/2019/HC-PT ngày 15/11/2019, Tòa án nhân dân cp
cao ti Nội đã quyết định hu toàn b bản án sơ thm và giao Tòa án cấp
thm th lý li.
Căn cứ ni dung tranh chấp quy đnh ca B Lut t tng dân s, Lut
T tng hành chính, Tòa án nhân dân tnh H đã thụ v án dân s Tranh chp
chia di sn tha kế, đòi tài sản và hy giy chng nhn quyn s dụng đất”.
Các đơn khi kin ca c Nguyn Th B, trình bày của đại din theo y
quyn ca c B trong quá trình t tng, có ni dung:
Sinh thi v chng c B, c A có to dựng được khong 1.375m
2
đất trên
đất ngôi nhà cp 4 bng g để , th cúng t tiên ti Khu 8, Y, huyn X,
tnh H. Năm 1979, c A chết không để li di chúc, c B tiếp tc qun lý s dng
nhà đt. Các con lần lượt tởng thành đi nơi khác, riêng ông AB1 kết hôn vi
bà C và gia đình ông AB1 cùng các con vi c tại đây.
Năm 1995, c B tách cho con gái là bà Nguyn Th AB2 260m
2
đất, ngày
15/8/1994 UBND huyn X cp 260m
2
đt , mang s tha 57 t bản đồ 96
(chng bà AB2 là ông Nguyễn Văn X đứng tên).
4
Năm 1998 cụ tiếp tc tách cho con trai ông Nguyễn Văn AB7 180m
2
đt,
sau đó ông AB7 đã tách làm 2 thửa và đã chuyển nhượng cho người khác, người
nhn chuyển nhượng đã được cp GCNQSD (đứng tên h anh Cù Văn Khoa tha
đất mang s 303 T bản đồ s 9 din tích 90m
2
GCNQSD cp ngày 15/8/2000;
đứng tên h Th Hnh thửa đất s 56 T bản đồ s 9 din tích 90m
2
GCNQSD đất cp ngày 15/8/2000).
C B cho rng: Do v chng ông AB1, C cùng vi c nên ông AB1
đã tự khai đứng tên trong s qun lý đất đai năm 1986, sau đó đưc UBND
huyn X cấp GCNQSD đất vào năm 1994 năm 2000, c B không biết vic này,
đến năm 2017, khi cụ mun tách cho con trai ông Văn AB4 250m
2
đất thì
c mi biết. C B cho rng vic cấp các GCNQSD đt cho ông AB1 là trái pháp
lut, do không s đồng ý ca c cũng như các thừa kế khác đối vi phn di sn
ca c A.
C Nguyn Th B yêu cu Tòa án gii quyết:
- Buc C phi tr li cho c B c A đt các tài sản trên đất thuc
di sn tha kế ca c A;
- Hy mt phần GCNQSD đất s P658750 do y ban nhân dân huyn X
cp cho ông n AB1 ngày 15/8/2000 (din tích 924m
2
tha s 60, T bn
đồ s 09 Khu 8 xã Y, huyn X, tnh H trong đó 300m
2
đt , còn lại đất
n).
- Chia di sn tha kế ca c A quyn s dụng đất (trong đó 150m
2
đất ) và giá tr tài sản trên đất cho các tha kế.
B đơn là bà Nguyn Th C trình bày:
Bà kết hôn vi ông AB1 năm 1966, v chng bà cùng vi các c tại căn
nhà làm t những năm 1960 (căn nhà đó được dng ti v trí thửa đất mà sau này
ông AB1 đã tách cho em trai ông AB7 din tích 180m
2
, s hiu thửa đất tách
56). Sau đó, do điều kin kinh tế khó khăn nên đến năm 1978 vợ chng dng
đưc mt nếp ng lp cọ, nơi sinh sng duy nht của gia đình t đó đến
nay (khu nhà đó gia đình vẫn đang qun s dụng và thường xuyên tu b đ làm
nơi ở và th phng t tiên).
Năm 1979, c A chết, c B do cao tui, sc khe gim sút cùng vi v
chng tại căn nhà đó. Vài năm sau, căn nhà được d b để làm nơi trồng
hoa màu, tăng gia sản xut phc v cho cuc sống gia đình.
Năm 1987, ông AB1 đã tiến hành đăng khai din tích 2.254m
2
trên
Bản đồ 299, bản đồ gii tha, s mc kê, s địa chính mang tên Văn AB1, quá
trình khai c B cùng giúp đỡ vic khai c đã tặng cho ông AB1. Nhà
c tiến hành lp bản đồ địa chính, bản đồ gii tha, cán b Phòng Tài nguyên
và Môi trường huyn và xã xung ti ch để thc hin lp bản đ và làm các th
5
tục đăng (vì thời điểm này khai tng th c xã). Hằng năm, ông AB1 np
thuế đầy đ cho Nhà nước. Đến năm 1994, ông AB1 làm th tc cp giy chng
nhn quyn s dụng đất: Đây cấp lần đu theo Luật đất đai 1993, UBND huyện,
Phòng Tài nguyên và Môi trường, UBND xã và địa chính xung thực địa ti ch
để lp bản đồ gii tha, giáp ranh, c B cùng nht trí không ý kiến, không
phản đối.
Năm 1999, ông AB1 làm th tc tách tha cho ông AB7, ông X, UBND
huyn và xung thực đa, không ai phản đối gì. V chồng đã làm nhà,
xây dng các công trình, vt kiến trúc kiên c và trồng cây lâu năm trên toàn bộ
diện tích đất, c B không có ý kiến, không phản đối, không tranh chp.
Trong quá trình s dụng đất t trước đến nay ông AB1 np thuế cho Nhà
ớc đầy đủ; c B không np thuế vì đã tặng cho, không còn là đất ca c B, như
vy là c B đã không thc hin các quyền và nghĩa vụ của người s dụng đt theo
Luật đất đai.
Mt khác, c B còn nhiu ln lp di chúc, khẳng định đã tặng cho đất đ v
chng bà và các cháu , gi n lâu dài.
C cho rng: Toàn b đất và tài sản trên đất v chồng bà đã và đang qun
lý, s dụng làmi ở và th cúng t tiên liên tc, công khai, ngay tình, hp pháp
tính t thi điểm năm 1986 đến nay là 35 năm. Ông AB1 đã đăng ký kê khai năm
1989, năm 1994 đã được cp GCNQSD lần 1, vào năm 2000 cấp bìa đỏ lần 2), đã
hoàn thành nghĩa v tài chính vi Nnước. Như vậy, Nhà ớc đã công nhận
quyn s dụng đất cho chồng bà, tương tự Án l 03/2016/AL ca Hội đồng Thm
phán đã ban hành nên v chng ch s dng hp pháp. Mt khác, Bn án
hành chính phúc thm s 319/2019/HC-PT ngày 15/11/2019 ca Tòa án nhân dân
cp cao ti Nội đã xác định ông AB1 đăng khai đã được cp GCNQSD
vào năm 1994, năm 2000 bn thân c B, các con biết phi biết không ý kiến,
không phản đối.
Bà Nguyn Th C cho rng yêu cu khi kin ca c B không có căn cứ.
C đơn phn t, cho rng ngay c nếu không vic tặng cho đt thì c A
chết hơn 40 năm tính đến thời điểm c B khi kin thì thi hiu chia tha kế cũng
đã hết, nên nguyên đơn không quyền kiện đòi toàn bộ diện tích đất. Nếu phi
chia tha kế thì gp toàn b phần đất ca ông X (chng bà AB2) và ca ông AB7
để chia.
Tại phiên tòa thẩm, đại din theo y quyn ca bà C đề ngh a án chp
nhn mt phn yêu cu khi kin và yêu cu phn t ca b đơn, buộc các tha kế
ca ông AB1 phi tr li cho các tha kế khác phần đất chênh lệch được hưởng
tha kế 91,5m
2
đất vườn, buc thanh toán bng tin mt cho các tha kế gm
ông AB4, c B, bà AB6, AB3. Buc ông Ngc Vi phi tr li phn chênh
6
lệch vượt tha kế là: 160,9m
2
(gm 60m
2
đt còn lại đất vườn) cho các tha
kế gm ông AB4, c B, bà AB6, AB3 và không chp nhn yêu cu khi kin
hủy GCNQSDĐ mà chỉ kiến ngh y ban nhân dân huyn X đính chính lại
GCNQSDĐ đã cấp.
UBND huyn X trình bày:
V ngun gốc đất: S đăng ký ruộng đất ca UBND xã Y lập năm 1986 có
thửa đt s 60, t bản đồ s 09 ghi tên ông Văn AB1, din tích 1888,0m
2
. Năm
1999 - 2000, khi thc hin cp giy chng nhn quyn s dụng đất đã tách thửa
đất trên cp cho ông Nguyễn Văn X (Ông X chng Nguyn Th AB2) din tích
260 m
2
ly s hiu thửa đt là 57, ông Nguyễn Văn AB7 din tích 180m
2
ly s
hiu thửa đất 56, cp cho ông Văn AB1 din tích 924 m
2
ly s hiu tha
đất là 60. Tt c các giy chng nhn cp cho ông X, ông AB7, ông AB1 qua c
minh đất ngun gc do c B, c A s dng t trước.
H lưu trữ v vic cấp GCN có: Đơn xin đăng quyền s dụng đất ca
ông AB1 ngày 20/11/1999 (UBND xác nhận đủ điu kin cp giy chng
nhn quyn s dụng đất); s địa chính, s mc kê th hin tên ông Cù Văn AB1
đối vi thửa đất s 60, t bản đồ 09.
Quan điểm ca UBND: B m ông AB4 c Nguyễn Văn A (mất năm
1979), m là c Nguyn Th B (hin còn sng) thửa đt s 60, t bản đồ 09.
Năm 2000, ông AB1 ( cùng c B) đi lp th tc cp giy chng nhn quyn s
dụng đất thửa đất trên đứng tên ông Văn AB1, din tích 924 m
2
t 300 m
2
,
còn lại đất vườn).
V việc đo đạc thc tế: Thửa đt s 60, T bản đồ 09 được xác đnh bng
máy đo đạc điện t sau khi s thng nht v mc gii, ranh gii s dụng đất
vi các h lin khành lang giao thông, hin tại tăng so với diện tích được cp
giy chng nhn quyn s dụng đất, là do sai s tính toán. Trường hp phi chia
di sản cho các đồng tha kế là đất i 50m
2
kèm theo đất vườn: Để đưc cp
giy chng nhn quyn s dụng đất, ch s dng phi chuyn mục đích s dng
đất b sung t đất vườn (CLN) sang đất để đảm bo diện tích đất ti thiu theo
quy định hin hành.
UBND huyn X đề ngh Tòa án căn cứ vào h thực tế s dụng đất
xem xét gii quyết v án theo quy đnh ca pháp lut.
Đại din UBND Y trình bày: Theo đơn đề ngh ca ông AB4, ngày
08/11/2017, UBND đã tiến hành mi ông AB4 ông Th (con trai ông AB1).
Ti bui làm vic ý kiến ca ông AB4: Đề ngh UBND hướng dn th tc
chuyển nhượng đất theo đúng quy định, mi th tục gia đình chấp hành theo lut
định. Qua phân tích đng chí ch trì hi ngh đã kết lun giy chng nhn quyn
s dụng đất của gia đình ông AB1 chưa làm th tc tách, chnh nào trên giy,
7
đề ngh gia đình có biên bản họp gia đình để làm th tc chuyển nhượng 01 phn
đất cho h ông AB4 để làm nhà . Hai bên có ý kiến là gia đình sẽ hp và thng
nht ý kiến lp biên bản gia đình gi UBND làm th tc chuyển nhượng cho
ông AB4. Sau khi UBND xã gii quyết xong đơn năm 2017, đến năm 2018 hộ gia
đình C chưa thực hin cắt đất th cho ông AB4. Đến ngày 09/4/2018 gia
đình ông AB4 đơn và lập biên bn họp gia đình ông AB4 (trong Biên bn hp
gia đình ngày 17/2/2018 các thành phn m, anh em ông AB4 nht trí tên, riêng
03 người con ca C không trong biên bản) đến UBND đề ngh gii
quyết xin được làm s s dụng đất.
Ngày 16, 17/4/2018 UBND tiến hành mi h gia đình ông AB4 h
bà C v ông AB1 là ch h đưc cp giy chng nhn quyn s dụng đất nhưng
h bà C không đến gii quyết nên hòa gii không thành.
Ngày 19/4/2018 gia đình ông AB4 có đơn lên UBND huyện X đề ngh gii
quyết xin được làm s s dụng đất. UBND huyn X Công văn s 1005 ngày
4/6/2018 v vic hướng dn gii quyết đơn của ông AB4 gi v UBND xã Y hòa
gii, gii quyết. Đến ngày 18/6/2018 UBND xã đã tiến hành mi h gia đình ông
AB4, h C nhưng h C không đến, không chp hành nên hòa gii không
thành.
Ngày 18/7/2018, gia đình ông AB4, ông AB7 đơn lên UBND Y đề
ngh gii quyết chia cắt đất. Đến ngày 20/7/2018 UBND xã tiến hành mi h gia
đình ông AB4, C nhưng không đến nên hòa gii không thành. H chuyển
cho Tòa án nhân dân huyn X gii quyết và sau đó chuyển lên TAND tnh H.
Th hai, v ngun gc s dụng đất: Năm 1986 ông AB1 đứng tên din tích
1.888m
2
. Đến năm 1999 theo hồ sơ địa chính, gia đình có tách thửa đất ca c B,
c A thành 03 thửa đất như sau: Tách cho con trai Nguyễn Văn AB7 180 m
2
đất th cư, ông AB7 đã chuyển nhượng cho ch D2 90m
2
nay tha 56, T bn
đồ 9 và cho ông Khoa 90m
2
nay tha 303, t bản đồ 09 đã được cp giy chng
nhn quyn s dụng đất; tách cho AB2, ông X 260m
2
đất th nay tha
57, t bản đồ 09 đã được cp giy chng nhn quyn s dụng đất; diện tích đất
còn lại được cp cho ông AB1 924m
2
ti tha s 60, t bản đồ 09 đã được cp
giy chng nhn quyn s dụng đất (kèm theo giy chng nhn quyn s dng
đất, s địa chính, s mc kê, Bản đồ 299 phô tô kèm theo).
UBND xã Y cho rng ngun gc s dụng đất trên là đt ca cha ông, trình
t th tục gia đình t đề ngh cp giy chng nhn quyn s dụng đất trong đợt
cp tp trung ca xã theo Quyết định s 667 ngày 15/8/2000 ca UBND huyn X.
Các con ca ông AB1, Th ch Nguyn Th D3, ch Nguyn Th D2,
anh Nguyễn Văn D1, anh Nguyễn Văn D5thng nht vi ý kiến ca bà C.
8
Ngày 20/4/2021, anh D1 và anh D4 cung cp chng c là mt USB ghi âm
ghi hình bn trích ni dung chuyển thành văn bn cuộc trao đổi ngày 17/3/2020
gia anh D1 và c B, có đoạn th hin c B tr li câu hi ca anh D1 (c không
khi kiện…đất ca c đã cho bố, m anh D1…cụ rút đơn…”) đon c B tr li
câu hi ca anh D4 (c không khi kiện…đất ca c đã cho bố, m anh D4…phải
gìn giữ, không có cho ai, không có ai đụng chạm gì đến đấy…”).
Ch Nguyn Th D2 trình bày: Ông AB7 đã bán lại cho ch 90 m
2
đất, v
chng ch đã được UBND huyn X cp giy chng nhn quyn s dụng đất ngày
15/8/2000, v chng ch đã xây nhà kiên c trên đất t đó đến nay.
Nguyn Th AB5 trình bày: không nhn bt k phn tha kế nào trong
mảnh đất 924 m
2
và không chu bt k trách nhiệm gì liên quan đến v vic.
Bà Nguyn Th AB2 trình bày: Năm 1990, c B có cho v chng ông X, bà
AB2 260m
2
đất làm nhà ở, đến năm 2000 vợ chồng ông đã đưc cp GCN. Din
tích này không phải đất di sn ca c A ca c B. V chồng ông đã làm nhà
kiên c, ổn định t năm 1990 ti nay không có ý kiến gì. Phn di sản bà được
ng t c A, bà Nguyn Th AB2 tng li cho c B.
Ông Nguyễn Văn AB7 v bà Nguyn Th S trình bày: Năm 1998, c
B cho v chng 180m
2
đất. Năm 2000, v chồng đã bán cho vợ chng ch
D2 (con ông AB1) là 90m
2
; còn li 90m
2
cũng đã bán cho v chng ch Hi anh
Khoa, người mua làm nhà đã ở ổn định. Ông AB7 nht trí vi vic c B khi kin
nguyn vọng được hưởng phn di sn ca c A bng quyn s dụng đất theo
quy định ca pháp lut.
Anh Cù Đăng Kvch Nguyn Th H trình bày: Năm 2000, vợ chng
anh nhn chuyển nhượng 90m
2
đất ca ông Nguyễn Văn AB7 (là đt c B cho
ông AB7), UBND huyn X đã cấp giy chng nhn quyn s dụng đất ngày
02/7/2019. Anh ch đã làm n kiên c, ổn định và s hu t năm 2000 tới nay,
không liên quan gì đến di sn ca c Nguyễn Văn A.
Đại din theo y quyn ca Nguyn Th AB2, Th AB3, bà Nguyn
Th AB6, ông Nguyễn Văn AB7 (ông Văn AB4) trình bày: Nht trí vi ni
dung khi kin ca c Nguyn Th B. Đề ngh chia di sn tha kế ca c A cho
các tha kế thuc hàng tha kế th nht theo pháp lut; hy giy chng nhn
quyn s dụng đt (01 phn v din tích 924m
2
) s P658750 do UBND huyn X
cp ngày 15/8/2000 cho h ông Cù Văn AB1.
Ông Văn AB4 trình bày: Phn di sn ông được hưởng ca c Nguyn
Văn A, ông t nguyn tng li cho c Nguyn Th B.
Tòa án cấp thẩm đã triệu tp anh Nguyễn Văn D4, ch Phm Th Hng
(v anh D4), ch Đỗ Th Chung Thy (v anh D1), nhưng các đương sự không
đến Toà án trình bày ý kiến.
9
Tòa án nhân dân tnh H đã ủy thác cho Tòa án nhân dân huyn X tiến hành
xem xét thẩm đnh ti ch và định giá tài sn tranh chp.
Bản án dân sự thẩm số 07/2021/DS-ST ngày 20/5/2021, Tòa án nhân dân
tỉnh H đã quyết định:
Áp dụng khoản 2, 5 Điều 26, khoản 4 Điều 34, Điều 35, Điều 37 của Bộ
luật tố tụng dân sự. Điều 609, 610, 611, 612, 613, 614, 618, 620, 623, 649, 650,
651 Bộ luật dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí lệ phí toà án. Xử:
[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của cụ Nguyễn Thị B về yêu cầu chia Di
sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn A; đòi lại tài sản và hủy giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất.
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P 658750 do Ủy ban nhân
dân huyện X, tỉnh H cấp ngày 15/8/2000 đứng tên chủ hộ Văn AB1, Y,
huyện X, tỉnh H; Đối với phần diện tích đất ở và đất vườn tại số tờ bản đồ 09, số
thửa 60; đất ở 300m
2
, đất vườn 624m
2
.
- Về những người được hưởng di sản thừa kế theo pháp luật của cụ Nguyễn
Văn A bao gồm 07 người: cụ Nguyễn Thị B; (bà Nguyễn Thị C các con Nguyễn
Thị D2, Nguyễn Thị D3, Nguyễn Văn D4 Nguyễn Văn D1 được hưởng phần
của ông Cù Văn AB1 (đã chết); ông Cù Văn AB4; Nguyễn Thị AB2; Cù Thị AB3;
Nguyễn Thị AB6; Nguyễn Văn AB7.
* Xác định tài sản chung của cụ Nguyễn Thị B cụ Nguyễn Văn A
1.590,1m2 đất đo thực tế (trong đó đất 300 m
2
, đất vườn 1.290,1 m
2
) 2/3 ngôi
nhà gỗ 04 gian, diện ch 82,84m 2 mái lợp ngói đỏ, tường xây 110 cm gạch chỉ
bao quanh, nền lát gạch men trị giá 80.000.000đ (Tám mươi triệu đồng).
Tài sản đất được chia đôi trong đó cụ B ½ 1/3 giá trị ngôi nhà;
của cụ A ½ diện tích đất 1/3 giá trị ngôi nhà. Còn lại 1/3 giá trị ngôi nhà
của vợ con ông AB1.
1.590,1m
2
đất : 2 = 795,05m
2
; cụ B đã cho ông AB7 và bà AB2 là 487,5m
2
đất; cụ B còn lại 307,55m
2
(trong đó có 150m
2
đất ở và 157,55 m
2
đất vườn).
Di sản của Cụ A còn lại 795,05m
2
( trong đó đất 150 m
2
X
6.300.000đ/01m
2
= 945.000.000đ; đất vườn 645,05m
2
X 2.500.000đ/01m
2
=
1.612.625.000đ) 1/3 ngôi nhà trị giá 26.666.000đ. Tổng cộng
2.584.291.00: 8 suất = 323.036.375đ của mỗi suất thừa kế được hưởng. Trong
đó Nguyễn Thị C các con được hưởng 02 suất, còn lại các thừa kế khác
được hưởng bằng nhau mỗi người 01 suất.
* Xác định tài sản chung của vợ chồng ông Văn AB1 (đã chết)
Nguyễn Thị C cùng các con gồm có:
10
1/3 giá trị ngôi nhà gỗ 04 gian, diện tích 82,84 m
2
,mái lợp ngói đỏ, tường
xây 110 cm gạch chỉ bao quanh, nền lát gạch men.Trị giá: 26.666.000đ; 01 nhà
bếp xây tường 10 cấp 4 diện tích 29,15 m
2
, mái lợp tôn, mái lợp pờ xi măng
nền gạch đỏ. Trị giá: 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng); 01 nhà xây cấp 4, khu
vực vệ sinh khép kín diện tích 30,74 m
2
, mái lợp tôn, nền lát gạch men. Trị giá
50.000.000đ ( Năm Mươi triệu đồng); Sân lát gạch đỏ diện tích 55 m
2
. Trị giá
25.000.000đ (Hai mươi lăm triệu đồng); Tường rào y gạch dày 10 cm, dài 11,6
, cao 1,7 m. Cổng sắt lưới B40 cao 1,8m; rộng 1 m; cổng 2,2 m; cao 1,8 m. Rào
cản dài 11m; cao 0,7m. Trị giá: 18.000.000đ (Mười tam triệu đồng); Cổng
tông dài 12,2 m; rộng 3,7 m diện tích 45,14 m
2
. Trị giá: 3.500.000đ (Ba triệu năm
trăm triệu đồng); 07 gian ki ốt ban hàng xây diện tích 152 m
2
, mái lợp plô xi măng
tôn, nền lát gạch men đổ tông xi măng; 04 cửa hàng bằng Hoa Sắt, 03
cửa khung nhôm nh, 01 cửa cường lực, 01 cửa bằng tôn. Trị giá: 150.000.000đ
( Một trăm năm mươi triệu đồng); Nhà xây 04 diện tích 111,3 m
2
mái lợp pờ lô xi
măng, trần nhựa, cửa đi khung nhôm + Kính cường lực, nền lát gạch men. Trị
giá: 180.000.000đ ( Một trăm tám mươi triệu đồng); Khu sân + giếng nước diện
tích 48 m
2
đổ bê tông cốt thép tròn trên mái lợp tôn. Trị giá : 10.000.000đ (Mười
triệu đồng); Khu vệ sinh + Kho tường xây gạch chỉ, 01 phòng khi, 01 phòng vệ
sinh, nền lát gạch chống trơn tường ốp gạch men, mái lợp tôn xốp. Trị giá:
25.000.000đ ( Hai mươi lăm triệu đồng); 03 cây vải phi 35, trị giá: 4.368.000đ/3
cây (Bốn triệu ba trăm sau mươi tám nghìn đồng ); 01 cây quất hồng phi 35,
trị giá : 303.000đ ( Ba trăm linh ba ngàn đồng); 01 cây sữa phi 5, giá trị:
485.000đ( Bồn trăm tám mươi lăm ngàn đồng); 01 cây quất hồng phi 5, trị giá:
61.000đ (Sáu mươi mốt nhìn đồng ); 01 cây đào tiên phi 10, trị giá: 121.000đ
(một trăm hai mươi mốt nghìn đồng); 01 cây mít phi 20, trị giá: 485.000đ (Bốn
trăm tám mươi lăm nhìn đồng); 01 cây móc mật phi 5, trị giá : 5.000đ (Năm nghìn
đồng); 01 cây bưởi phi 5, trị giá : 61.000đ (Sáu mươi mốt nghìn đồng); 06 gốc
cây đinh lăng khoảng 2 năm tuổi, trị giá: 43.800đ/ 6 gốc (Bốn mươi nghìn tám
trăm đồng); 01 cây mít phi 10, trị giá: 243.000đ ( Hai trăm bốn mươi ba nghìn
đồng); 01 cây Khế phi 10, trị giá: 121.000đ (một trăm hai mươi mốt nghìn đồng);
02 cây Bưởi phi 5, trị giá: 122.000đ/2 cây (một trăm hai mươi nghìn đồng ); 05
cây Cau A, trị giá: 910.000đ/5 cây (Chín trăm mười nghìn đồng); 01 cây Đào
Tiên phi 18, trị giá:243.000đ ( Hai trăm bốn mươi bà nghìn đồng ); 06 cây Xoan
bình quân phi 15, trị giá: 60.000đ/ 6 cây (Sáu mươi nghìn đồng).
Tổng giá trị tài sản là: 525.797.800đ (Năm trăm hai mươi lăm triệu bảy
trăm chín bảy nghìn tám trăm đồng).
[2] Chia di sản thừa kế cụ thể như sau:
[2.1] Chia cho cụ Nguyễn Thị B (trong đó cụ B được hưởng 01 suất thừa
kế của ông AB4 bằng hiện vật 01 suất thừa kế của AB2 bằng tiền) được
11
hưởng phần di sản của cụ Nguyễn Văn A là 239,95m
2
đất vườn x 2.500.000đ/01
m
2
= 599.875.000đ; Số diện tích đất này được nhập với diện tích đất của cụ B
307,55m2 ( trong đó đất 150 m
2
, đất vườn 167,95m
2
); Tổng diện tích là 547,5m
2
Theo các chỉ giới 8, 9; 19, 20, 21, 22, 8 (có sơ đồ kèm theo) và được sở hữu 01
ngôi nhà gỗ 04 gian, diện tích 82,84m 2 mái lợp ngói đỏ, tường xây 110cm gạch
chỉ bao quanh, nền lát gạch men trị giá 80.000.000đ (Tám mươi triệu đồng)
(Trong đó có 1/3 giá trị ngôi nhà là của cụ B, 1/3 giá trị ngôi nhà là của cụ A
1/3 giá trị ngôi nhà của vợ chồng ông AB1 và các con) là 26.666.000đ. Tổng giá
trị di sản cụ B được chia là: 626.541.000đ (Sáu trăm hai mươi sáu triệu năm trăm
bốn mươi mốt nghìn đồng) và được nhận 19.213.625đ (Mười chín triệu hai trăm
mười ba nghìn sáu trăm hai lăm đồng) tiền chênh lệch di sản thừa kế do AB6
thanh toán;
[2.2]. Chia cho ông Nguyễn Văn AB7 được hưởng phần di sản của cụ
Nguyễn Văn A là 97,8 m
2
đất; Trong đó có 30 m
2
đất ở trị giá: 189.000.000đ và
67,8 m
2
đất vườn trị giá: 169.500.000đ. Tổng là 358.500.000đ, theo các chỉ giới
7, 8, 22, 23, 7 (có sơ đồ kèm theo) phải có nghĩa vụ thanh toán tiền chênh lệch
di sản thừa kế cho cụ B là 35.463.625đ (Ba mươi lăm triệu bốn trăm sáu mươi ba
nghìn sáu trăm hai lăm đồng).
[2.3]. Chia cho Nguyễn Thị AB6 được hưởng phần di sản của cụ Nguyễn
Văn A 95,3 m
2
đất; Trong đó 30m
2
đất ở trị giá: 189.000.000đ và 65,3 m
2
đất vườn trị giá: 163.250.000đ. Tổng là 352.250.000đ, theo các chỉ giới 6, 7, 23,
24, 27, 28, 29, 30, 6 (có đồ kèm theo) phải nghĩa vụ thanh toán tiền chênh
lệch di sản thừa kế cho cụ B là 29.213.62(Hai mươi chín triệu hai trăm mười
ba nghìn sáu trăm hai lăm đồng).
[2.4]. Chia cho Thị AB3 được hưởng phần di sản của cụ Nguyễn Văn
A 126,5 m
2
đất; Trong đó 30 m
2
đất trị giá: 189.000.000đ 96,5m
2
đất
vườn trị giá: 241.250.000đ. Tổng 430.250.000đ, theo các chỉ giới
10,11,15,16,17,18,10 (có đồ kèm theo) phải nghĩa vụ thanh toán tiền
chênh lệch di sản thừa kế cho cụ B là 107.213.625đ (Một trăm linh bảy triệu hai
trăm mười ba nghìn sáu trăm hai lăm đồng).
[2.5]. Chia cho (ông AB1 đã chết) do Bà Nguyễn Thị C cùng các con được
hưởng phần di sản gồm:
+ Diện tích 108, 9 m
2
đất; Trong đó 30m
2
đất trị giá: 189.000.000đ
78,9m
2
đất vườn trị giá: 197.250.000đ. Tổng 386.250.000đ. Theo các chỉ
giới 1,2,3,4,26,1 (có đồ kèm theo) và được shữu 01 nhà xây 04 gian diện tích
111,3m
2
mái lợp pờ lô xi măng, trần nhựa, cửa đi khung nhôm +kính cường lực,
nền lát gạch men tài sản của vợ chồng C, ông AB1 cùng các con có trị giá
180.000.000đ (Một trăm tám mươi triệu đồng) trên phần diện tích đất được
hưởng.
12
+ Diện tích 126,5 m
2
đất; Trong đó có 30m
2
đất trị giá: 189.000.000đ và
96,5 m
2
đất vườn trị giá: 241.250.000đ. Tổng 430.250.000đ; Theo các chỉ giới
11,12,13,14,15,11 (có đồ kèm theo) được sở hữu 06 cây Xoan bình quân
phi 15, tài sản của vợ chồng C, ông AB1 cùng các con trị giá: 60.000đ/ 6
cây (Sáu mươi nghìn đồng) trên phần diện tích đất được hưởng.
Tổng cộng di sản được hưởng 816.500.000đ (Tám trăm mười sáu triệu
năm trăm nghìn đồng) phải có nghĩa vụ thanh toán tiền chênh lệch di sản thừa
kế cho cụ B 170.427.250đ (Một trăm bảy mươi triệu bốn trăm hai mươi bảy
nghìn hai trăm năm mươi đồng).
[3]. Giao các tài sản thuộc quyền sở hữu của vợ chồng Nguyễn Thị C
cùng các con của bà C và ông AB1 gồm:
[3.1]. Giao cho cụ Nguyễn Thị B được sở hữu các tài sản của vợ chồng
Nguyễn Thị C cùng các con của C ông AB1 gồm: 1/3 giá trị ngôi nhà
26.666.000đ; 4,5 gian ki ốt trị giá 96.428.570đ; ; Sân lát gạch đỏ diện tích 55
m
2
. Trị giá 25.000.00(Hai mươi lăm triệu đồng); Tường rào xây gạch dày 10
cm, dài 11,6 , cao 1,7 m. Cổng sắt lưới B40 cao 1,8m; rộng 1 m; cổng 2,2 m; cao
1,8 m. Rào cản dài 11m; cao 0,7m. Trị giá: 18.000.000đ (Mười tám triệu đồng);
Cổng bê tông dài 12,2 m; rộng 3,7 m diện tích 45,14 m
2
. Trị giá: 3.500.000đ (Ba
triệu năm trăm triệu đồng); 1/3 nhà bếp xây tường 10 cấp 4 diện ch 29,15m
2
,
mái lợp pờ rô xi măng, nền lát gạch đỏ. Trị giá: 10.000.000đ (Mười triệu đồng);
03 cây vải phi 35, trị giá: 4.368.000đ/3 cây (Bốn triệu ba trăm sáu mươi tám
nghìn đồng ); 01 y quất hồng phi 35, trị giá : 303.000đ ( Ba trăm linh ba
nghìn đồng); 01 cây sữa phi 5, trị giá : 485.000đ( Bốn trăm m mươi lăm
nghìn đồng); 01 cây quất hồng phi 5, trị giá: 61.000đ (Sáu mươi mốt nghìn
đồng ); 01 cây đào tiên phi 10, trị giá: 121.000đ (một trăm hai mươi mốt nghìn
đồng); 01 cây mít phi 20, trgiá: 485.000đ (Bốn trăm tám mươi lăm nghìn đồng);
01 cây móc mật phi 5, trị giá : 5.000đ (Năm nghìn đồng); 01 cây bưởi phi 5, trị
giá : 61.000đ (Sáu mươi mốt nghìn đồng); 06 gốc cây đinh lăng khoảng 2 năm
tuổi, trị giá: 43.800đ/ 6 gốc (Bốn mươi ba nghìn tám trăm đồng); 01 cây mít phi
10, trị giá: 243.000đ ( Hai trăm bốn mươi ba nghìn đồng); 01 cây Khế phi 10, trị
giá: 121.000đ (một trăm hai mươi mốt nghìn đồng); 02 cây Bưởi phi 5, trị giá:
122.000đ/2 cây (một trăm hai mươi hai nghìn đồng ); 05 cây Cau A, trị giá:
910.000đ/5 cây (Chín trăm mười nghìn đồng); 01 cây Đào Tiên phi 18, trị giá:
243.000đ ( Hai trăm bốn mươi ba nghìn đồng ). Tổng số tài sản trị giá
187.166.370đ (Một trăm tám mươi bảy triệu một trăm sáu mươi sáu nghìn ba
trăm bảy mươi đồng).
[3.2]. Giao cho ông Nguyễn Văn AB7 được shữu các tài sản của vợ chồng
Nguyễn Thị C ng các con của C ông AB1 gồm: 1,3 gian kit trị giá:
27.857.145đ; 2/3 nhà bếp y tường 10 cấp 4 diện tích 29,15m
2
, mái lợp pờ rô xi
13
măng, nền lát gạch đỏ. Trị giá : 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng); 1/4 ngôi nhà
xây cấp 4, khu vực vệ sinh khép kín diện tích 30,74 m
2
, mái lợp tôn, nền lát gạch
men. Trị giá 12.500.000đ ( Mười hai triệu năm trăm nghìn đồng); 2/5 Khu sân +
giếng nước diện tích 48 m
2
đổ tông cốt thép tròn trên mái lợp tôn. Trị giá :
4.000.000đ (Bốn triệu đồng);1/2 khu vệ sinh+kho tường xây gạch chỉ, 01 phòng
kho, 01 phòng vệ sinh, nền lát gạch chống chơn tường ốp gạch men, i lợp tôn
xốp, trị giá: 12.500.000đ. Tổng số tài sản trị giá 76.857.145đ (Bảy mươi sáu
triệu tám trăm năm bảy nghìn một trăm bốn mươi lăm đồng).
[3.3]. Giao cho bà Nguyễn Thị AB6 được sở hữu các tài sản của vợ chồng
Nguyễn Thị C ng các con của C ông AB1 gồm: 1,2 gian kit trị giá:
25.714.285đ; 3/5 Khu sân + giếng nước diện tích 48 m
2
đổ bê tông cốt thép tròn
trên mái lợp tôn. Trị g: 6.000.000đ (Sáu triệu đồng); 3/4 ngôi nhà xây cấp 4,
khu vực vệ sinh khép kín diện tích 30,74 m
2
, mái lợp tôn, nền lát gạch men. Trị
giá 37.500.000đ ( Ba mươi bảy triệu năm trăm nghìn đồng); 1/2 khu vệ sinh+kho
tường xây gạch chỉ, 01 phòng kho, 01 phòng vệ sinh, nền lát gạch chống chơn
tường ốp gạch men, mái lợp tôn xốp, trị giá: 12.500.000đ. Tổng số tài sản có trị
giá 81.714.285đ (Tám mươi mốt triệu bảy trăm mười bốn nghìn hai trăm tám
mươi lăm đồng).
[4]. Buộc những người được sở hữu tài sản của vợ chồng bà Nguyễn Thị C
cùng c con của C và ông AB1 phải có nga vụ thanh toán gồm:
[4.1]. Buộc cụ Nguyễn Thị B phải nghĩa vụ thanh toán cho Nguyễn
Thị C ng các con của C và ông AB1 số tài sản trị giá 187.166.370đ (Một
trăm tám mươi bảy triệu một trăm sáu mươi sáu nghìn ba trăm bảy mươi đồng).
[4.2]. Buộc ông Nguyễn Văn AB7 phải nghĩa vụ thanh toán cho
Nguyễn Thị C cùng các con của C ông AB1 số tài sản trị giá 76.857.145đ
(Bảy mươi sáu triệu tám trăm năm bảy nghìn một trăm bốn mươi lăm đồng).
[4.3]. Buộc Nguyễn Thị AB6 phải nghĩa vụ thanh toán cho Nguyễn
Thị C cùng các con của bà C và ông AB1 số tài sản có trị giá 81.714.285đ (Tám
mươi mốt triệu bảy trăm mười bốn nghìn hai trăm tám mươi lăm đồng).
Ghi nhận sự tự nguyện của cụ Nguyễn Thị B do ông Văn AB4 đại diện
về việc Nguyễn Thị C được quyền ngôi nhà diện tích đất của cụ B được
chia suốt đời.
Sau khi đối trừ nghĩa vụ tcụ B còn phải nghĩa vụ thanh toán cho
Nguyễn Thị C cùng các con của C và ông AB1 số tiền 16.739.120đ (Mười sáu
triu bảy tm ba mươi chín ngn mt trăm hai mươi đồng).
Ngày 04/6/2021, bị đơn Nguyễn Thị C, người quyền lợi nghĩa vụ
liên quan (đứng về phía bị đơn) chị Nguyễn Thị D2, chị Nguyễn Thị D3, anh
Nguyễn Văn D1, kháng cáo toàn bộ bản án thẩm; đề nghị Tòa án cấp phúc
14
thẩm sửa bản án thẩm, bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận
yêu cầu phản tố của bị đơn. Đơn kháng cáo cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm chia tài
sản cho gia đình bà C cả vào phần nhà đã xây dựng kiên cố của ông X.
Sau khi xét x thẩm, ti phiên toà phúc thẩm ngày 02/11/2022 các đương
s mặt đều xác nhn anh Nguyễn Văn D4 đã chết; ti phiên toà phúc thm ngày
24/2/2023, đều xác nhn ngày 05/12/2022 c Nguyn Th B chết. Toà án cp phúc
thẩm đã yêu cầu các đương sự cung cp Giy chng t ca anh Nguyễn Văn D4,
c Nguyn Th B nhưng các đương sự ch cung cp Giy chng t ca c B.
Ngày 06/3/3023, Nguyn Th C và anh Nguyễn Văn D1, ch Th Thu
Hương và chị Nguyn Th D2 có đơn trình bày ý kiến vn gi nguyên quan điểm
khẳng định c B đã định đoạt hết phn ca c cho ông AB1, cho AB2 cho
ông AB7; nay c B đã chết trường hp phi chia tha kế tđề ngh Toà án gii
quyết.
Ngày 27/3/2023, ông AB4, ông AB7, AB3, AB6, AB2 đơn
trình bàyđưa ra ý kiến phn tài sn ca c B để li mi tha kế đưc 78m
2
, đề
ngh phn ca ông AB1 (chng C được hưởng) chia hin vt vào phn giáp
ranh vi nhà bà AB2, phn còn lại để làm nơi thờ cúng.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về
việc giải quyết vụ án:
Anh Nguyễn Văn D1 và các Luật sư bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho
Nguyễn Thị C trình bày: Toà án cấp thẩm nhiều vi phạm nghiêm trọng
thủ tục tố tụng trong việc thu thập đánh giá chứng cứ (đo đạc thẩm định xác
định vị trí các thửa đất không đúng với hồ địa chính các thửa đất; phân chia
nhà chia đất rất bất hợp lý, ảnh hưởng đến quyền lợi của bà C và các con; công
nhận cụ B cho AB2, ông AB7 đất nhưng lại không công nhận cho ông AB1,…).
Nay cụ B đã chết, nên đề nghị Hội đồng xét xử huỷ toàn bộ bản án thẩm để
giải quyết lại.
Ông Văn AB4ông Nguyễn Văn AB7 cho rằng bản án sơ thẩm đã xét
xử căn cứ, đề nghị Toà án cấp phúc thẩm giải quyết bảo đảm đúng quy định
của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Nội tham gia phiên tòa phát
biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng t xử áp dụng Điều
310 Bộ luật Tố tụng dân sự hủy Bản án dân sự thẩm số 07/2021/DS-ST ngày
20/5/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh H để giải quyết thẩm lại, với phân tích:
Các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cơ sở xem xét việc cụ B đã có ý chí
cho ông AB1 tài sản của cụ. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận việc cụ B tặng đất cho
ông AB7, bà AB2 nhưng lại không chấp nhận việc cụ B tặng đất cho ông AB1 là
giải quyết ván không đồng nhất, mâu thuẫn, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của
15
gia đình C và xét xử chấp nhận đơn khởi kiện đòi tài sản của cụ B, là chưa có
sở vững chắc. Bản án thẩm không đồ phân chia kèm theo Bản án
vi phạm và gây khó khăn cho công tác thi hành án sau này. Do vậy, cần huỷ bản
án thẩm để giải quyết lại bảo đảm quyền lợi hợp pháp của đương sự. Trong
giai đoạn xét xử phúc thẩm, cụ B chết, các đương skế thừa quyền nghĩa vụ
của nguyên đơn có đưa ra yêu cầu chia thừa kế của cụ B để lại, giữ lại đất được
chia để làm nhà thờ cúng. Các nội dung trên cấp phúc thẩm không thể khắc phục
được nên cần huỷ bản án thẩm, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp thẩm
giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu tài liệu hồ vụ án, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại
phiên tòa; các chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa; nghe ý kiến trình bày của
các bên quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp
cao tại phiên tòa; sau khi thảo luận và nghị án;
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
[1] Các đương sự đều thống nhất về tài sản chung của vợ chồng cụ Nguyễn
Thị B và cụ Nguyễn Văn A (cụ A chết 1979) có gian nhà gỗ và thửa đất số 60, do
ông Văn AB1 (chồng Nguyễn Thị C) đứng tên sử dụng đất trong sổ địa
chính lập năm 1986. Các đương sự đều thống nhất xác định cụ A chết không để
lại di chúc, nên phần của cụ A là ½ khối tài sản chung vợ chồng.
Sau đó theo ý kiến của cụ B, ông AB1 đã làm thủ tục UBND huyện X đã
tách thửa và cấp các GCNQSD đất cho bà Nguyễn Thị AB2 (1995), Nguyễn Văn
AB7 (năm 1998), phần còn lại ông Cù Văn AB1 tiếp tục đứng tên trong
GCNQSD. Cụ B cho rằng cụ chỉ cho bà AB2, ông AB7; còn bà C cho rằng cụ đã
cho cả ông AB1.
[2] Để giải quyết nội dung yêu cầu khởi kiện của cụ Nguyễn Thị B, yêu cầu
phản tố của bà Nguyễn Thị C, ngoài việc cần xem xét đánh giá toàn diện các
chứng cứ về việc cụ B đã định đoạt riêng hay được sự đồng ý nhất trí không phản
đối của các thừa kế khác và định đoạt cho những ai; từ đó xem xét chia hiện vật
cho các bên bằng diện tích đất cụ thể bảo đảm việc tiếp tục sử dụng ổn định, theo
nhu cầu; bảo đảm các thửa đất phải phù hợp hồ địa chính để thi hành án không
có vướng mắc.
[2.1] Nội dung của bản án thẩm “Sơ đồ đo đạc hiện trạng dự chia
thửa đất” (Toà án cấp thẩm đã gửi bổ sung cho các đương sự sau khi gửi bản
án sơ thẩm), tToà án cấp thẩm đã phân chia toàn bộ phần đất 740,6m
2
của
thửa số 60 cho cụ B, AB6 và ông AB7 những người này thanh toán giá trị
xây dựng cho bà C; chia cho ông AB1 (do bà C cùng các con được hưởng) 2 phần
đất không có nhà công trình gì. Trong khi vợ chồng ông AB1, bà C kết hôn và
đây từ năm 1966, đã xây dựng nhà ở và công trình trên đất tại phần đất đứng tên
16
ông AB1, cụ B những người con khác của cụ B, cụ A, không ai ý kiến gì.
Toà án cấp sơ thẩm chỉ công nhận cụ B cho bà AB2, ông AB7 đất không xem
xét đến các chứng cứ C đưa ra về việc cụ B nhiều lần thể hiện ý chí cho gia
đình ông AB1, bà C đất, là không đánh giá toàn diện chứng cứ.
Ngoài ra, đối chiếu hình thể các thửa đất GCNQSD đất trong “Sơ đồ đo đạc
hiện trạng dự chia thửa đất” với “Sơ đồ đo đạc hiện trạng các thửa đất” kèm
Biên bản xem xét thẩm định với vị trí các thửa đất theo hồ địa chính (bút
lục 567), có nhiều điểm không phù hợp nhau.
[2.2] Hiện trạng thửa đất của cụ B, cụ Thược trước đây, theo Biên bản xem
xét thẩm định tại chỗ ngày 21/8/2020 “Sơ đồ đo đạc hiện trạng các thửa đất”
kèm theo, thể hiện: Phần đất ông AB1 được cấp GCNQSD gồm 3 phần tách biệt:
1 phần diện ch 108,9m
2
, 1 phần giữa 740,6m
2
1 phần 253,1m
2
; trong đó
phần đất 740,6m
2
ngoài gian nhà gỗ 4 gian của các cụ, còn ncấp 4, nhà bếp,
công trình phụ nhà vệ sinh,… của vợ chồng ông AB1, C xây dựng ổn định
từ trước đến nay.
Phần đất ông AB7, bà AB2 được cấp GCNQĐ đất nằm xen giữa 3 phần của
thửa 60 còn lại do ông AB1 đứng tên.
[3] C con là anh D1, anh D4, chị D3 kháng cáo toàn bộ bản án thẩm,
vẫn giữ nguyên ý kiến cho rằng cụ B đã nhiều lần khẳng định cho vợ chồng bà C
đất. Tại phiên toà phúc thẩm, đại diện theo uỷ quyền của bà C giữ nguyên kháng
cáo.
[4] Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: Toàn bộ thửa đất tranh chấp nguồn
gốc của vợ chồng cụ A, cụ B. Toà án cấp sơ thẩm xét xử chia thừa kế phần cụ A
phân chia giao cụ B được quyền sdụng đất, tài sản trên đất. Sau khi xét xử
thẩm, cụ B chết; tại cấp phúc thẩm, thừa kế của cụ B tuy phát sinh nội dung
tranh chấp mới nhưng gắn liền với nội dung tranh chấp đã phát sinh trước đây, do
vậy cần được giải quyết lại trong cùng một vụ án từ giai đoạn thẩm, mới giải
quyết được toàn diện, triệt để vụ án.
[5] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Nội đã phát
biểu sở chấp nhận. Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy toàn bộ bản án
thẩm, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý giải quyết theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 308; khoản 1 Điều 310; Điều 313; khoản 3 Điều 148
Bộ luật T tụng dân sự; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
17
1. Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2021/DS-ST ngày 20/5/2021 của Tòa
án nhân dân tỉnh H và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh H giải quyết
lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
2. V án phí: Hoàn tr ch Nguyn Th D3 300.000 đng tm ng án phí
phúc thẩm đã nộp ti Biên lai thu s AA/2019/0004362 ngày 22/6/2021; anh Li
Đức Th 300.000 đồng đã np theo Biên lai thu s AA/2019/0004363 ngày
22/6/2021. ca Cc Thi hành án dân s tnh H.
Nghĩa vụ chu án phí dân s sơ thẩm được xác định li khi Tòa án nhân dân
tnh H gii quyết li v án theo th tục sơ thẩm.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 20/4/2023.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND cấp cao tại Hà Nội;
- VKSND tỉnh H;
- TAND tỉnh H;
(Kèm hồ sơ vụ án);
- Cục THADS tỉnh H;
- Lưu HSVA; P.HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Phan Thị Vân Hương
Tải về
Bản án số 180/2023/DS-PT Bản án số 180/2023/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất