Bản án số 18/2017/HSST ngày 19/09/2017 của TAND huyện Cát Hải, TP. Hải Phòng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 18/2017/HSST

Tên Bản án: Bản án số 18/2017/HSST ngày 19/09/2017 của TAND huyện Cát Hải, TP. Hải Phòng
Tội danh:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Cát Hải (TAND TP. Hải Phòng)
Số hiệu: 18/2017/HSST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 19/09/2017
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁT HẢI
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Bn án s: 18 /2017/HSST
Ngày 19 tháng 9 năm 2017
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁT HẢI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Như Quỳnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hoàng Văn Thành;
2. Ông Hoàng Văn Lợi;
Thư Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Phạm Quang Bảo - Cán bộ Toà
án nhân dân huyện Cát Hải;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cát Hải tham gia phiên toà: Ông
Nguyễn Văn Lam - Kiểm sát viên.
Ngày 19/9/2017 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cát Hải, thành phố Hải
Phòng mở phiên toà xét xử thẩm công khai vụ án hình s thụ số
15/2017/HSST ngày 04/8/2017 đối với bị cáo:
Bùi Văn T, sinh ngày 12 tháng 12 m 1977 tại Hải Phòng; Dân tộc:
Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; nơi đăng HKTT: Đường C,
phường G, quận N, thành phố Hải Phòng nơi trú: Phường Đ, quận N, thành
phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ n hoá: 12/12; con
ông Bùi Văn T Nguyễn Thị C; bị cáo 01 con sinh năm1998; tiền án, tiền
sự: Năm 2003 bị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 15 tháng về tội
Trộm cắp tài sản, tổng hợp với bản án số 79/HSST ngày 24/9/2002 của Tòa án
nhân dân quận Ngô Quyền, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt 24 tháng ; bị
cáo bị bắt tạm gitừ ngày 03/5/2017 sau đó chuyển tạm giam ngày 09/5/2017;
mặt.
NHẬN THẤY:
B cáo Bùi Văn T b Viện kiểm sát nhân dân huyện Cát Hải, thành ph Hải
Phòng truy t v hành vi phạm tội như sau:
Vào khoảng 12 giờ ngày 03/5/2017 T đi xe ôm từ nhà ra khu vực đường tàu
Cầu Đất, thành phố Hải Phòng mua của một người đàn ông không quen biết 3 gói
ma túy với số tiền 150.000 đồng rồi đi tàu khách ra Cát Bà. Đến khoảng 14 giờ
cùng ngày khi bị cáo lên bến tàu Cát thì bị tổ công tác Đồn Biên phòng Cát
bắt quả tang và thu giữ tang vật như đã nêu trên.
2
Tại kết luận giám định số 655/PC54 (MT) ngày 05/5/2017 của Phòng Kỹ
thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Trọng lượng Hêrôin có trong
0,8548 gam chất bột gửi giám định là 0,5728 gam Hêrôin
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 03/5/2017 sau đó chuyển tạm giam.
Đối với người bán ma túy cho T do không xác định được tên, địa chỉ, nên
Cơ quan Cảnh sát điều tra không có cơ sở để xử lý.
Tại Cáo trạng số 15/CT-VKS ngày 03/8/2017, Viện kiểm sát nhân n
huyện Cát Hải, thành ph Hải Phòng truy t b cáo v tội: Tàng trữ trái phép chất
ma túy căn c khoản 1 Điều 194 của B luật Hình s.
Tại phiên toà b cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo
trạng đã truy tố.
Tại phiên toà, đại điện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cát Hải thực hành
quyền công t vẫn gi nguyên quyết định truy t b cáo về tội: Tàng trữ trái phép
chất ma túy, đồng thời phân tích tính chất, hành vi phạm tội của b cáo, tình tiết
tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình s đề ngh Hội đồng xét x áp
dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều
48 của Bộ luật Hình sự x phạt b cáo từ 30 đến 36 tháng tù. Đồng thời đnghị
tịch thu, tiêu hủy toàn bộ số ma túy mà cơ quan giám định hoàn trả.
Căn cứ vào các chứng cứ các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn
cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng
cứ, ý kiến của kiểm sát viên, của bị cáo,
XÉT THẤY:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Cát Hải,
thành phố Hải Phòng, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cát Hải, thành
phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về
thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không
ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do
đó, các hành vi, quyết định của quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng
đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của b cáo tại phiên tòa phù hợp với Cáo trạng của Viện kiểm sát đã
truy tố, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với tang vật chứng
c khác có trong h sơ v án.
Bị cáo hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng, trọng lượng ma
túy khi thu giữ 0,5728 gam Hêrôin, như vậy đủ sở để kết luận bị cáo Bùi
Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy
định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự.
Như vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cát Hải truy t b cáo
là có cơ s, đúng người, đúng pháp luật, đúng hành vi phạm tội của b cáo.
Hành vi của bị cáo nguy hiểm cho hội, đã xâm phạm đến chính sách
độc quyền quản lý của Nnước về các chất ma tuý. Ma túy độc chất, những
3
hậu quả do ma túy gây ra ảnh hưởng nghiêm trọng đến phát triển kinh tế hội
và an ninh trật tự của địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình
sự, nhận thức được về tác hại của ma tuý nhưng do ý thức chấp hành pháp luật
kém, không chịu tu dưỡng, rèn luyện nên bị cáo hành vi mua trái phép chất ma
tuý nhằm mục đích sử dụng. Hành vi của bị cáo không những gây mất trật tự an
ninh của địa phương mà còn tiếp tay cho những kẻ buôn bán ma tuý khác.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo 01 tình tiết tăng nặng,
năm 2003 bị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 15 tháng về tội
Trộm cắp tài sản (bị cáo chưa nộp tiền án phí hình sự thẩm án phí hình sự
phúc thẩm), tính đến lần phạm tội này bị cáo chưa được a án tích do nên bị cáo
phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình
sự.
Về nhân thân bị cáo: Bị cáo 02 tiền án: Năm 1993, bị Tòa án nhân dân
quận NQuyền xử phạt 18 tháng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36
tháng về tội Cố ý gây thương tích. Năm 2002, bị Tòa án nhân dân quận Ngô
Quyền, thành phố Hải Phòng xử phạt 9 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Tính đến
lần phạm tội này đã được xóa án tích nhưng điều đó chứng tỏ bị cáo người
nhân thân xấu, khó giáo dục tại cộng đồng, mặt khác bị cáo là người thường xuyên
sử dụng ma túy nên cần xử nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi hội một thời
gian nhất định mới mang tính chất răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại quan điều tra cũng như tại
phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo; bbị cáo được tặng thưởng Huân chương
kháng chiến vì có công lao to lớn trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước đây là các
tình tiết giảm nhtrách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 khoản 2
Điều 46 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xsxem xét giảm nhẹ một phần
hình phạt cho bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Cần tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy quan
giám định hoàn trả.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng, không tài sản
riêng, không thu nhập ổn định vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với
bị cáo.
B cáo phải nộp án phí hình s sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các l trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Bùi Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Áp dụng khoản 1 Điều 194; Điều 33; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46;
điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự: X phạt Bùi Văn T 30 (ba mươi)
tháng tù; thời hạn tù tính t ngày tạm giữ: 03/5/2017.
Áp dụng khoản 1 Điều 41 của Bluật Hình sự; khoản 1 khoản 2 Điều 76
của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy mà cơ quan giám
định hoàn trả; vật chứng hiện đang cất giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cát
4
Hải (theo Quyết định chuyển vật chứng của vụ án hình sự số 11/QĐ-VKS ngày
03/8/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cát Hải).
Về án phí: Áp dụng Điều 99 của B luật T tụng hình s, Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về
mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ phí Tòa án, b
cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình s sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo quyền kháng cáo yêu
cầu xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân s thì
người được thi hành án dân s, người phải thi hành án dân s quyền tho thuận
thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, t nguyện thi hành án hoặc b cưỡng chế
thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân s, thời
hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân s.
Nơi nhận:
- Toà án nhân dân TP Hải Phòng;
- Viện kiểm sát nhân dân TP Hải Phòng;
- Trại giam CA TP Hải Phòng;
- PC 27 Công an TP Hải Phòng;
- Phòng cảnh sát Thi hành án hình sự HTTP
Công an TP Hải Phòng;
- Sở Tư Pháp Hải Phòng;
- Công an huyện Cát Hải;
- Viện kiểm sát nhân dân huyện Cát Hải;
- Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cát Hải;
- Bị cáo;
- Lưu: Hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Thị Như Qunh
5
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Thị Như Quỳnh
6
7
8
9
10
11
12
Tải về
Bản án số 18/2017/HSST Bản án số 18/2017/HSST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất