Bản án số 179/2023/HS-ST ngày 22/06/2023 của TAND TP. Dĩ An, tỉnh Bình Dương về tội tàng trữ và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 179/2023/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 179/2023/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 179/2023/HS-ST ngày 22/06/2023 của TAND TP. Dĩ An, tỉnh Bình Dương về tội tàng trữ và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy |
|---|---|
| Tội danh: | |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TP. Dĩ An (TAND tỉnh Bình Dương) |
| Số hiệu: | 179/2023/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 22/06/2023 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Hoa
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Thu Vân;
2. Bà Ngô Thị Dịu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Anh, Thƣ ký Tòa án nhân dân thành
phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông
Trần Trọng An, Kiểm sát viên.
Ngày 15 và ngày 22 tháng 6 năm 2023 tại điểm cầu Trung tâm Trụ sở Tòa án
nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng và điểm cầu thành phần nhà tạm giữ
Công an thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử trực tuyến công khai vụ án hình
sự sơ thẩm thụ lý số 163/2023/TLST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2023, theo Quyết định
đƣa vụ án ra xét xử số 188/2023/QĐXX-HS ngày 05/6/2023 đối với các bị cáo:
1. Hà Văn H, sinh năm 1998, tại tỉnh Thanh Hóa; thƣờng trú: thôn Th, xã Th,
huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Thợ sơn; trình độ học vấn: 11/12;
quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: nam; con ông Hà
Văn Th, sinh năm 1977 và bà Lê Thị H, sinh năm 1981; bị cáo có 01 anh ruột, sinh
năm 1978 và chƣa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ
ngày 05/12/2022 đến nay, có mặt tại phiên tòa, vắng mặt khi tuyên án và có đơn yêu
cầu giải quyết vắng mặt.
2. Phan Văn M, sinh năm 1995, tại tỉnh Kiên Giang; thƣờng trú: S, thị trấn S,
Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch:
Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: nam; con ông Phan Văn Ch,
sinh năm 1977 và bà Nguyễn Thị Nh, sinh năm 1978; bị cáo không có anh, chị, em
ruột và chƣa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày
05/12/2022 đến nay, vắng mặt khi tuyên án và có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Người làm chứng:
1. Đoàn Minh D. Vắng mặt.
2. Phạm Thị M. Vắng mặt.
3. Nguyễn Nguyên Bảo Ng. Vắng mặt.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN
TỈNH BÌNH DƢƠNG
——————————
Bản án số: 179/2023/HS-ST
Ngày 22- 6 -2023
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
———————————————————
2
4. Hoàng Gia H. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án
đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 04/12/2022, bị cáo M bắt taxi từ nhà trọ tại
phƣờng Bình Nhâm, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đi đến nhà số 78/6 đƣờng
số 1, khu dân cƣ Thạnh Tân, khu phố Tân Phƣớc, phƣờng Tân Bình, thành phố Dĩ
An, tỉnh Bình Dƣơng gặp Hà Văn H để lấy xe mô tô do M gửi trƣớc đó. Khi đến nơi,
M thấy có Đoàn Minh D và Hoàng Gia H1, tại đây M nói “Buồn quá”. Nghe vậy, H
rủ M hùn tiền mua ma túy về sử dụng, M đồng ý. M sử dụng tài khoản số
68281295888868 của M, đăng ký tại Ngân hàng Quân Đội (MB) chuyển vào tài
khoản số 3989999999993 của H đăng ký tại Ngân hàng Quân Đội (MB) số tiền
10.000.000 đồng, trong đó 8.000.000 đồng (tám triệu đồng ) là tiền M trả nợ cho H,
còn 2.000.000 đồng (hai triệu đồng ) là tiền góp cho H để mua ma tuý về sử dụng.
Sau khi M chuyển tiền, H lấy 01 túi ma tuý có sẵn (do trƣớc đó H mua của một đối
tƣợng nam không rõ nhân thân, lai lịch tại thành phố Hồ Chí Minh với giá 5.000.000
đồng và đã sử dụng hết một phần), H cất giấu ma túy vào túi quần rồi bắt xe taxi đi
lòng vòng để M tin là H đi mua ma tuý bằng số tiền mà M góp cùng với H. Khoảng
20 phút sau H về nhà và nói cho M biết đã có ma túy đồng thời đƣa túi ma tuý cho M
xem. Tiếp đó H lấy một cái đĩa sứ đốt lửa cho nóng rồi bỏ một ít ma tuý ra đĩa, dùng
thẻ nhựa màu xanh để xào ma tuý và lấy tờ 10.000 đồng cuộn tròn thành ống hút
đem lên phòng ngủ của H cho M cùng sử dụng. Trƣớc khi sử dụng ma tuý, M nói
muốn có bạn gái ngồi tâm sự nói chuyện cho vui nên H hỏi Đoàn Minh D có ai không
rủ đến ngồi chơi với M thì D đồng ý và gọi điện thoại cho Nguyễn Nguyên Bảo Ng
đến chơi. Khi Ng đến thì H cùng với bạn gái là Phạm Thị M1, Ng, M, D và H1 cùng
đi dự sinh nhật ở quán “ Lê Thuật 2” thuộc phƣờng An Phú, thành phố Thuận An,
tỉnh Bình D. Khoảng 03 giờ ngày 05/12/2022, tại quán “ Lê Thuật 2” H kêu Ng,
M1, M, D và H1 về nhà H sử dụng ma túy, tất cả đồng ý và di chuyển về nhà H, khi
về đến nhà trọ của H thì H, Ng, M1, M, D và H1 đi vào phòng ngủ của H để sử dụng
ma túy. H lấy túi nylon miệng kéo dính chứa chất ma túy do M và H hùn tiền mua, H
đổ một phần ma tuý ra đĩa sứ xào lên, đồng thời H lấy thêm 03 viên ma tuý MDMA
của H mua trƣớc đó để H, M, D, Ng, H1 và M1 sử dụng. Số ma túy còn lại trong túi
nylon miệng kéo dính H để trong phòng ngủ gần nơi sử dụng ma túy. Sau khi sử dụng
ma túy xong thì mọi ngƣời đi ngủ. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, lực lƣợng Công an
tỉnh Bình Dƣơng phối hợp với Công an phƣờng Tân Bình, thành phố Dĩ An kiểm tra
nhà số 78/6 đƣờng số 1, khu dân cƣ Thạnh Tân, khu phố Tân Phƣớc, phƣờng Tân
Bình, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng phát hiện có chất màu trắng trên đĩa sứ
(Ketamine) và túi nylon dạng miệng kéo dính có chất màu trắng (Ketamine), trong
phòng ngủ của H. Cơ quan Công an đổ ma túy trên đĩa sứ vào vào chung túi nylon
miệng kéo dính chứa chất màu trắng rồi lập biên bản bắt giữ ngƣời có hành vi phạm
tội quả tang.
Vật chứng thu giữ:
- 01(một) túi nylon miệng kéo dính chứa chất màu trắng;
3
- 01(một) đĩa sứ màu trắng;
- 01(một) thẻ nhựa màu xanh có chữ VALUE STANDARD;
- 01(một) loa nhạc, 01(một) đèn màu trắng
- 01(một) tờ tiền polyme mệnh giá 10.000 đồng không còn nguyên vẹn đƣợc
cuộn tròn thành hình ống hút.
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 số emei: 358686326706532 số sim
0396636123.
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 promax số emei: 353890100654240 số
sim 0901669134.
Tại bản Kết luận giám định số: 565/KL-KTHS – MT ngày 12/12/2023 của
Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng xác định: mẫu tinh thể gửi giám
định là ma túy loại Ketamine có tổng khối lƣợng là: 2,3982 gam
Tại cáo trạng số 187/CT – VKS – DA ngày 15 tháng 5 năm 2023, Viện kiểm
sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Hà Văn H và Phan
Văn M về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều
249 Bộ luật Hình sự và tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại
điểm b khoản 2 Điều 155 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại
diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề
nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm g khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ
luật Hình sự xử phạt bị cáo Hà Văn H mức án từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng đến 01
(một) năm 06 (sáu) tháng tù và xử phạt bị cáo Phan Văn M mức án 01 (một) năm 03
(ba) tháng đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù; áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255,
điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hà Văn H mức án từ 07 (bảy)
năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm tù và xử phạt bị cáo Phan Văn M mức án từ 07
(bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm tù; Tổng hợp hình phạt bị cáo Hà Văn H
phải chấp hành từ 08 (tám) năm 09 (chín) tháng tù đến 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng
tù, mức hình phạt bị cáo Phan Văn M phải chấp hành từ 08 (tám) năm 09 (chín) tháng
tù đến 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù.
* Xử lý vật chứng:
Đối với số ma túy còn lại sau giám định là M = 2,1329 gam đƣợc niêm phong
trong một bì thƣ của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng có ghi số
565/PC09 đề nghị tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 đĩa sứ màu trắng; 01 thẻ nhựa màu xanh có chữ VALUE
STANDARD; 01 tờ tiền polyme mệnh giá 10.000 đồng không còn nguyên vẹn đƣợc
cuộn tròn thành hình ống hút, đề nghị tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 số emei: 358686326706532 số sim
0396636123 của Phan Văn M và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 promax số
emei: 353890100654240 số sim 0901669134 của Hà Văn H; 01 loa nhạc, 01 đèn màu
trắng các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội đề nghị tịch thu sung vào ngân sách Nhà
nƣớc.
4
- Đối với đối tƣợng bán ma túy cho bị cáo H hiện chƣa rõ nhân thân lai lịch,
Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
- Đối với Nguyễn Nguyên Bảo Ng, Đoàn Minh Dƣơng, Hoàng Gia H1, Phạm
Thị M1 đều là ngƣời sử dụng ma túy. Qua điều tra xác định D, H1, Ng, M1 không liên
quan đến hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo M và H nên Công
an thành phố Dĩ An lập hồ sơ xử phạt hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất
ma túy” quy định tại khoản 1, Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021.
Đối với Đoàn Minh D gọi điện thoại cho Ng đến ngồi chơi với M để tâm sự còn
sử dụng ma túy là do Ng tự quyết định, D không yêu cầu bắt buộc nên Cơ quan Cảnh
sát điều tra Công an thành phố Dĩ An không xử lý.
Tại phiên tòa, các bị cáo không tranh luận.
Các bị cáo nói lời nói sau cùng: xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức án cho các
bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an
thành phố Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát
viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ
tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo,
ngƣời làm chứng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ
quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố
tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp
pháp.
[2] Căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Ngày 04/12/2022, M rủ H
góp 2.000.000 đồng mua ma túy. Sau khi có ma túy khoảng 03 giờ ngày 05/12/2022,
M, H đã tổ chức cho Ng, D, H1, M1 và chính mình sử dụng ma túy, đến 12 giờ cùng
ngày, khi lực lƣợng Công an kiểm tra hành chính phòng trọ của H sinh sống thì phát
hiện có ma túy trong phòng ngủ của H. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp
với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của ngƣời làm
chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nhƣ Biên bản bắt ngƣời
phạm tội quả tang, Biên bản xác định hiện trƣờng, Sơ đồ hiện trƣờng, Kết luận giám
định…. Nhƣ vậy, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội tàng trữ trái phép
chất ma túy quy định tại điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và tội tổ chức sử
dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình
sự. Cáo trạng số 187/CT – VKS – DA ngày 15 tháng 5 năm 2023 của Viện kiểm sát
nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị
đối với các bị cáo là có căn cứ đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do các bị cáo thực hiện là nghiêm
trọng đã trực tiếp xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nƣớc về chất ma túy,
gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo với mức án tù
5
tƣơng xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng
nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, đủ để giáo dục, cải tạo
và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.
[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng nhƣ tại
phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là những tình tiết giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Hội
đồng sẽ xem xét áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo thể hiện
chính sách khoan hồng của pháp luật đối với ngƣời phạm tội.
[6] Vụ án này có tính chất đồng phạm nH đồng phạm giản đơn, bị cáo H là
ngƣời chuẩn bị ma túy, công cụ sử dụng ma túy và là ngƣời rủ mọi ngƣời về nhà sử
dụng ma túy, bị cáo M đồng phạm vì là ngƣời hùn tiền mua ma túy và cung cấp ma
túy cho các con nghiện khác sử dụng. Vì vậy, khi cá thể hóa hình phạt bị cáo H phải
chịu mức án cao hơn bị cáo M.
[7] Về nhân thân: Các bị cáo là ngƣời nghiện ma túy
[8] Vật chứng:
- 01(một) đĩa sứ màu trắng; 01(một) thẻ nhựa màu xanh có chữ VALUE
STANDARD; 01(một) loa nhạc, 01(một) đèn màu trắng; 01(một) tờ tiền polyme mệnh
giá 10.000 đồng không còn nguyên vẹn đƣợc cuộn tròn thành hình ống hút; 01 (một)
sim số 0396636123 và 01 (một) sim số 0901669134 không còn giá trị sử dụng cần
tuyên tịch thu tiêu hủy.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 14 số emei 358686326706532; 01
(một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 promax số emei: 353890100654240 là phƣơng
tiện các bị cáo dùng để phạm tội nên cần tuyên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nƣớc.
- Số ma túy còn lại sau giám định là M = 2,1329 gam đƣợc niêm phong trong
một bì thƣ của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng có ghi số 565/PC09
là vật nhà nƣớc cấm tàng trữ lƣu hành nên tuyên tịch thu tiêu hủy.
[9] Đối với hành vi bị cáo H có sẵn ma túy, khi bị cáo M chuyển cho H số tiền
2.000.000 đ (hai triệu đồng) với mục đích hùn tiền mua ma túy sử dụng, H không nói
cho M biết H có ma túy vì sợ M hiểu nhầm rằng H là ngƣời bán ma túy. Nhƣ vậy,
nhận thức của H tại thời điểm đó (theo lời khai của H) là hùn ma túy với M để cùng
sử dụng chứ không phải hành vi bán ma túy cho M, điều này cũng phù hợp với các
tình tiết có trong vụ án nhƣ: Khi đi ra ngoài về H đã đƣa toàn bộ số ma túy của H còn
lại cho M để M biết H đã mua ma túy, sau đó H, M cùng các con nghiện khác cũng
đã cùng nhau sử dụng số ma túy này. Ngoài việc đƣa số ma túy còn lại thì H còn đƣa
ma túy dạng MDMA (thuốc lắc) của mình sử dụng còn thừa để cho mình và các con
nghiện cùng sử dụng chứ không bán. Vì vậy, Cơ quan điều tra không xử lý hành vi
mua, bán ma túy của M và H mà xử lý hành vi phạm tội tổ chức sử dụng trái phép
chất ma túy là có cơ sở.
[10] Đối với đối tƣợng bán ma túy cho bị cáo H hiện chƣa rõ nhân thân lai lịch,
Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
6
[11] Đối với Nguyễn Nguyên Bảo Ng, Đoàn Minh D, Hoàng Gia H1, Phạm
Thị M1 đều là ngƣời sử dụng ma túy. Qua điều tra xác định D, H1, Ng, M1 không liên
quan đến hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của các bị cáo M và H nên
Công an thành phố Dĩ An lập hồ sơ xử phạt hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép
chất ma túy” quy định tại khoản 1, Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày
31/12/2021.
[12] Đối với Đoàn Minh D gọi điện thoại cho Ng đến ngồi chơi với M để tâm sự
còn việc Ng sử dụng ma túy là do Ng tự quyết định, D không yêu cầu bắt buộc nên Cơ
quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An không xử lý.
[13] Mức hình phạt nhƣ đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với các bị cáo
là chƣa tƣơng xứng và chƣa phân hóa hành vi phạm tội của các bị cáo nhƣ đã phân
tích tại mục [6] của phần nhận định. Vì vậy, mức hình phạt đại diện Viện kiểm đề
nghị đối với bị cáo M là nghiêm khắc so với hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội
đồng xét xử sẽ áp dụng mức hình phạt thấp hơn so với mức đại diện Viện kiểm sát đề
nghị. Mức hình phạt đề nghị đối với bị cáo H là nhẹ so với hành vi phạm tội của bị
cáo nên Hội đồng xét xử sẽ xử mức án cao hơn mức đại diện Viện kiểm sát đề nghị.
[10] Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Hà Văn H và bị cáo Phan Văn M phạm tội “Tàng trữ trái
phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
1.1. Áp dụng điểm g khoản 1 Điều 249; điểm b, khoản 2 Điều 255; điểm s
khoản 1 Điều 51, Điều 58 và khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ
sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Hà Văn H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái
phép chất ma túy” và 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái
phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Hà Văn H phải chấp hành chung
cho cả hai tội là 10 (mƣời) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/12/2022.
- Xử phạt bị cáo Phan Văn M 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất
ma túy” và 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng
hợp hình phạt buộc bị cáo Phan Văn M phải chấp hành chung cho cả hai tội là 08
(tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/12/2022.
2. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm
2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
năm 2015.
2.1. Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì thƣ đƣợc niêm phong ghi số 565/PC09 có
khối lƣợng mẫu vật niêm phong: M = 2,1329 gam ma túy loại Ketamine.
2.2. Tịch thu tiêu hủy 01 đĩa sứ màu trắng; 01 thẻ nhựa màu xanh có chữ
VALUE STANDARD; 01 tờ tiền polyme mệnh giá 10.000 đồng không còn nguyên
7
vẹn đƣợc cuộn tròn thành hình ống hút; 01 (một) số sim 0396636123, 01 (một) số sim
0901669134.
2.3. Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nƣớc 01 (một) điện thoại di động hiệu
Iphone 14 số emei: 358686326706532 và 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11
promax số emei: 353890100654240; 01 (một) loa nhạc, 01 (một) đèn màu trắng.
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình
sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý
và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Phan Văn M và bị cáo Hà Văn H, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai
trăm nghìn) đồng.
Bị cáo vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày
nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết theo quy định pháp luật.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND thành phố Dĩ An; THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Công an thành phố Dĩ An;
- Chi cục THA dân sự thành phố Dĩ An; Đã ký
- Trại tạm giam CA tỉnh BD;
- TAND tỉnh BD;
- UBND nơi bị cáo cƣ trú;
- Phòng PV 06 CA tỉnh BD;
- Phòng PC 10 CA tỉnh BD; Trần Thị Kim Hoa
- Ngƣời tham gia tố tụng;
- Sở tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng;
-VKS nhân dân tỉnh Bình Dƣơng;
- Lƣu: VT, HS.
8
9
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND thành phố Dĩ An; THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Công an thành phố Dĩ An;
- Chi cục THA dân sự thành phố Dĩ An;
- Trại tạm giam CA tỉnh BD;
- TAND tỉnh BD;
- UBND nơi bị cáo cƣ trú;
- Phòng PV 27 CA tỉnh BD;
- Phòng PC 81 CA tỉnh BD;
- Ngƣời tham gia tố tụng;
- Sở tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng;
-VKS nhân dân tỉnh Bình Dƣơng;
- Lƣu: VT, HS.
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 28/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 20/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 16/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm