Bản án số 174/2022 ngày 30/06/2022 của TAND cấp cao tại Đà Nẵng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
  • Bản án số 174/2022

    Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 174/2022

Tên Bản án: Bản án số 174/2022 ngày 30/06/2022 của TAND cấp cao tại Đà Nẵng
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND cấp cao tại Đà Nẵng
Số hiệu: 174/2022
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 30/06/2022
Lĩnh vực: Hành chính
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Chấp nhận kháng cáo của ông Hoàng Ngọc T1 - là người đại diện theo ủy quyền của bà Trịnh Thị N và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk; sửa bản án sơ thẩm.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI ĐÀ NẴNG
CỘNG HÒA XÃ HI CH NGHĨA VIT NAM
Độc lp - T do - Hnh phúc
Bản án số: 174/2022 /HC-PT
Ngày: 30/6/2022
V/v “Khiếu kin quyết đnh hành chính
trong lĩnh vc qun đất đai
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Lê Phước Thanh
Các Thẩm phán:
Ông Vũ Thanh Liêm
Ông Phạm Tồn
- Thư phiên tòa: Ông Lương Quang Toàn, Thư Tòa án nhân dân
cấp cao tại Đà Nẵng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên
tòa: Ông Nguyễn Xuân Thanh và ông Quách Hòa Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2022, ti tr s Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng,
xét x phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 60/2022/TLPT-HC ngày
04 tháng 4 năm 2022, về việc “Khiếu kiện Quyết định hành chính trong lĩnh vực
quản lý đất đai”.
Do bản án hành chính thm s 07/2022/HC- ST ngày 25 tháng 02 năm
2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lk b kháng cáo và bị kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra t xử phúc thm s: 1754/2022/QĐPT-HC
ngày 03 tháng 6 năm 2022 giữa các đương sự:
* Người khởi kiện: Trịnh Thị N, sinh năm 1985; địa chỉ: Số 139 đường
N1, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hoàng Ngọc T1, sinh năm 1948; địa
chỉ: Tổ dân phố 7, phường T2, thành phB, tỉnh Đắk Lắk; có mặt.
* Người bị kiện: Ủy ban nhân dân thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Địa chỉ: Số
01 đường L, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Văn H - Chủ tịch.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đại Th - Phó Chủ tịch - Xin xét xử
vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị kiện: Ông Phạm Văn
Th1 Phó Giám đốc Trung tâm phát triển quđất thành phố B - Xin xét xử
2
vắng mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh
Đắk Lắk. Địa chỉ: Số 46 đường P, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk - Xin xét xvắng
mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện của bà Trịnh Thị N và quá trình giải quyết vụ án, đại
diện theo ủy quyền của người khởi kiện ông Hoàng Ngọc T1 trình bày:
Diện tích đất của Trịnh Thị N nguồn gốc do Ủy ban nhân dân thành
phố B (Viết tắt UBND Tp. B) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Viết tắt
GCNQSDĐ) số BB 778641 ngày 25/01/2011 cho hộ ông Trịnh Văn H1,
Nguyễn Thị Ng, thửa đất số 56, tờ bản đồ số 40, diện tích 300m
2
tại phường T,
Tp. B, ngày 01/12/2016 thay đổi sở pháp lý tặng cho con gái Trịnh Thị
N.
Ngày 26/12/2019, UBND Tp. B ban hành Quyết định số 9814/QĐ-UBND
về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ chi phí tổ chức thực hiện bồi
thường, hỗ trợ, tái định khi nhà nước thu hồi đất đthực hiện dự án Hồ thủy
lợi Ea Tam, phường T, thành phố B (đợt 19).
Cùng ngày 26/12/2019, UBND Tp. B ban hành Quyết định số 9828/QĐ-
UBND về việc thu hồi đất của bà Trịnh Thị N để thực hiện dự án Hồ thủy lợi Ea
Tam, phường T, thành phố B. Vị trí, ranh giới, diện tích đất thu hồi được xác
định theo Trích lục bản đồ địa chính số 20322/TL-VPĐKĐĐ-KTĐC ngày
03/12/2019 của Văn phòng đăng đất đai tỉnh Đắk Lắk (Viết tắt VPĐKĐĐ
tỉnh Đắk Lắk), nội dung thu hồi diện tích 238,6m
2
, trong đó gồm 230,5m
2
đất
8,1m
2
đất trồng y lâu năm, thuộc một phần thửa đất số 56, tờ bản đồ số 40.
Theo đó, N được bồi thường về đất 2.389.916.025 đồng với giá đất
10.296.000 đồng/m
2
giá đất trồng cây lâu năm 2.060.250 đồng/m
2
(Giá đất
căn cứ Quyết định số 3608/QĐ-UBND ngày 02/12/2019 của UBND tỉnh Đắk
Lắk). N không đồng ý với kết quả đo đạc nên làm đơn khiếu nại. Sau đó,
VPĐKĐĐ tỉnh Đắk Lắk đã tiến hành đo đạc lại diện tích đất của bà N.
Ngày 16/4/2021, UBND Tp. B ban hành Quyết định số 2812/QĐ-UBND
về việc đề nghị điều chỉnh phương án bồi thường, hỗ trợ tại Quyết định số
9814/QĐ-UBND ngày 26/12/2019 của UBND Tp. B và Quyết định số
2814/QĐ-UBND về việc điều chỉnh Điều 1 Quyết định số 9828/QĐ-UBND
ngày 26/12/2019 của UBND Tp. B về việc thu hồi đất của bà Trịnh Thị N, thành
thu hồi của N diện tích 238,6m
2
, trong đó gồm 218,2m
2
đất 20,4m
2
đất
trồng cây lâu năm, thuộc thửa đất số 56, tờ bản đồ số 40. Vị trí, ranh giới, diện
tích đất thu hồi được xác định theo Trích lục bản đồ địa chính số 17189/TL-
VPĐKĐĐ-KTĐC ngày 14/12/2020 của VPĐKĐĐ tỉnh Đắk Lắk. Theo đó, N
3
được bồi thường về đất là 2.288.616.300 đồng, giữ nguyên mức giá bồi thường
tại Quyết định số 3608/QĐ-UBND ngày 02/12/2019 của UBND tỉnh Đắk Lắk,
tức bà N bị giảm 101.299.725 đồng tiền bồi thường về đất.
Ngày 12/7/2021, UBND Tp. B ban hành Quyết định số 4563/QĐ-UBND
V/v phê duyệt phương án tái định cư khi nhà nước thu hồi đất để xây dựng công
trình: Hồ thủy lợi Ea Tam.
Ngày 19/7/2021, UBND Tp. B ban hành Quyết định số 4717, 4718/QĐ-
UBND về việc giao 02 thửa đất tái định cư thu tiền sử dụng đất cho bà Trịnh
Thị N, gồm: Diện tích 126,6m
2
, thửa đất số 416, tờ bản đồ số 80 (thửa cũ: LK3-
01, tờ bản đồ cũ: Độc Lập), tại Khu tái định cư Tổ dân phố 07, phường Tân Lập,
Tp. B diện tích 110m
2
, thửa đất số 56, tbản đồ số 52 (thửa cũ: D01-28, tờ
bản đồ cũ: Độc Lập), tại Khu tái định cư Tổ dân phố 06, phường T3, Tp. B.
Giá đất giao tái định căn cứ vào Quyết định số 2536/QĐ-UBND ngày
22/10/2020 của UBND tỉnh Đắk Lắk Quyết định số 924/QĐ-UBND ngày
20/4/2021 của UBND tỉnh Đắk Lắk V/v phê duyệt giá đất cụ thể đthu tiền sử
dụng đất tại nơi tái định cư trên địa bàn Tp. B.
Ngày 14/8/2021, UBND Tp. B ban hành Quyết định số 6136/QĐ-UBND
về việc cưỡng chế thu hồi đất của N. Ngày 31/8/2021 đã tổ chức thực hiện
cưỡng chế thu hồi đất của bà N.
Như vậy, UBND Tp. B ban hành quyết định thu hồi đất của N từ ngày
26/12/2019, nhưng đến ngày 12/7/2021 mới ban hành quyết định phê duyệt
phương án tái định cư và ngày 19/7/2021 ban hành quyết định giao đất cho N
thu tiền sử dụng đất vi phạm quy định tại điểm a khoản 3 Điều 69; điểm a
khoản 1 Điều 79 Luật Đất đai năm 2013; điểm a khoản 1 Điều 6 Nghị Định số
47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ. Tức bà N thuộc đối tượng được
bồi thường bằng đất ở, không thuộc đối tượng bố trí tái định thu tiền sử
dụng đất. Trích lục bản đồ địa chính số 17189/TL-VPĐKĐĐ-KTĐC ngày
14/12/2020 của VPĐKĐĐ tỉnh Đắk Lắk đo đạc không đúng thực tế diện tích đất
của N. Diện tích đất thu hồi đúng phải là 238,6m
2
, trong đó gồm 230,5m
2
đất
và 8,1m
2
đất trồng cây lâu năm theo Quyết định thu hồi số 9828/QĐ-UBND
chứ không phải 218,2m
2
đất 20,4m
2
đất trồng cây lâu năm như Quyết định
điều chỉnh thu hồi số 2814/QĐ-UBND. Việc thu hồi, bồi thường, tái định cư của
UBND Tp. B không đúng quy định pháp luật và không thỏa đáng.
Do đó, bà N yêu cầu Tòa án giải quyết những nội dung sau:
- Ginguyên Quyết định số 9828/QĐ-UBND ngày 26/12/2019 của Ủy ban
nhân dân thành phố B về việc thu hồi đất để thực hiện dự án Hồ thủy lợi Ea
Tam, phường T, thành phố B.
4
- Hủy một phần Quyết định số 2814/QĐ-UBND ngày 16/4/2021 của Ủy
ban nhân dân thành phố B về việc điều chỉnh Điều 1 Quyết định số 9828/QĐ-
UBND ngày 26/12/2019 của Ủy ban nhân dân thành phố B, về phần diện tích
20,4m
2
đất trồng cây lâu năm bị thu hồi.
- Hủy một phần Điều 1 Quyết định giao đất s 4718/QĐ-UBND ngày
19/7/2021 của Ủy ban nhân dân thành phố B đối với nội dung giao đất tái định
thu tiền sử dụng đất. Buộc Ủy ban nhân dân thành phố B bồi thường bằng
đất ở khi nhà nước thu hồi đất ở.
- Buộc UBND Tp. B bồi thường diện tích đất 69,5m
2
còn lại không thu hồi
(300m
2
230,5m
2
= 69,5m
2
) theo Trích lục bản đồ địa chính số 20322/TL-
VPĐKĐĐ-KTĐC ngày 03/12/2019 của Văn phòng đăng đất đai tỉnh Đắk
Lắk.
Người bị kiện Ủy ban nhân dân thành phố B trình bày:
- Về bồi thường, hỗ trợ:
Diện tích đất của Trịnh Thị N nguồn gốc được bố mông Trịnh
Văn H1, Nguyễn Thị Ng tặng cho theo GCNQSDĐ số BB 778641 do UBND
Tp. B cấp ngày 25/01/2011 cho hộ ông Trịnh Văn H1, Nguyễn Thị Ng, thửa
đất s 56, tờ bản đồ số 40, diện tích 300m
2
tại phường T, Tp. B, ngày
01/12/2016 thay đổi cơ sở pháp lý tặng cho bà Trịnh Thị N.
Tuy nhiên, diện tích đo đạc theo hiện trạng sử dụng 308,1m
2
, tăng 8,1m
2
so với GCNQSDĐ do sai sgiữa 02 lần đo đạc. Theo Trích lục bản đồ địa
chính số 20322/TL-VPĐKĐĐ-KTĐC ngày 03/12/2019 của VPĐKĐĐ tỉnh Đắk
Lắk, diện tích đất thu hồi 238,6m
2
, trong đó gồm 230,5m
2
đất đã được cấp
GCNQSDĐ 8,1m
2
đất trồng cây lâu năm chưa được cấp GCNQSDĐ. Căn cứ
khoản 1 Điều 75 Luật Đất đai năm 2013, N đủ điều kiện được bồi thường về
đất.
Sau khi UBND Tp. B ban hành Quyết định thu hồi đất số 9828/QĐ-UBND
ngày 26/12/2019, ngày 07/9/2021 bà N đơn kiến nghị yêu cầu xem xét lại
diện tích đất còn lại sau khi thu hồi. Sau khi kiểm tra, UBND Tp. B nhận thấy
sự sai sót về diện tích đất thu hồi khi đo đạc xác định diện tích đất. UBND Tp. B
đã chỉ đạo các ban ngành thành phố đơn vị đo đạc của VPĐKĐĐ tỉnh Đắk
Lắk tiến hành họp kiểm tra đo đạc thực tế, lồng ghép bản đồ cấp GCNQSDĐ
thì thấy sự thay đổi về diện tích, sau đó thống nhất điều chỉnh diện tích đất
thu hồi theo trích lục mới là Trích lục bản đồ địa chính số 17189/TL-VPĐKĐĐ-
KTĐC ngày 14/12/2020 của VPĐKĐĐ tỉnh Đắk Lắk. Diện ch đất N bị thu
hồi 238,6m
2
, trong đó gồm 218,2m
2
đất ở đã được cấp GCNQSDĐ 20,4m
2
đất trồng cây lâu năm chưa được cấp GCNQSDĐ.
5
Ngày 16/4/2021, UBND Tp. B ban hành Quyết định số 2812/QĐ-UBND
về việc đề nghị điều chỉnh phương án bồi thường, hỗ trợ tại Quyết định số
9814/QĐ-UBND ngày 26/12/2019 của UBND Tp. B và Quyết định số
2814/QĐ-UBND về việc điều chỉnh Điều 1 Quyết định số 9828/QĐ-UBND
ngày 26/12/2019 của UBND Tp. B về việc thu hồi đất của bà Trịnh Thị N.
- Về tái định cư:
Tại thời điểm tiến hành phê duyệt thu hồi đất của Trịnh Thị N tháng
12/2019, số đất còn lại của N 69,5m
2
đất đủ điều kiện xây dựng nhà ở
nên không được xem xét giao đất tái định theo quy định. Đến năm 2021,
UBND Tp. B tiến hành điều chỉnh phương án do đo đạc lại (Sau khi kiến
nghị, thắc mắc của hộ N) thì diện tích còn lại chỉ còn 15,2m
2
đất đang sử
dụng và 46,2m
2
đất nằm ngoài đường đi chung, nên đủ điều kiện để xem xét
giao đất tái định cư theo quy định tại khoản 1 Điều 6 Nghị định số 47/2014/NĐ-
CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ Quyết định số 27/QĐ-UBND ngày
19/12/2019 của UBND tỉnh Đắk Lắk. Do đó, đến năm 2021 UBND Tp. B mới
ban hành Quyết định phê duyệt giao đất tái định cư cho bà N.
Ngày 07/5/2021, UBND Tp. B mời bà N bốc thăm vtrí đất tái định
thống nhất chọn thửa đất LK3-1 tại Khu tái định Tổ dân phố 07, phường Tân
Lập và thửa đất số D1-28 tại Khu tái định Tổ dân phố 06, phường T3, Tp. B.
Ngày 12/7/2021, UBND Tp. B ban hành Quyết định số 4563/QĐ-UBND
V/v phê duyệt phương án tái định cư khi nhà nước thu hồi đất để xây dựng công
trình: Hồ thủy lợi Ea Tam. Giá đất giao tái định cư căn cứ vào Quyết định số
924/QĐ-UBND ngày 20/4/2021 của UBND tỉnh Đắk Lắk.
Ngày 19/7/2021, UBND Tp. B ban hành Quyết định số 4717, 4718/QĐ-
UBND về việc giao 02 thửa đất tái định cư thu tiền sử dụng đất cho bà Trịnh
Thị N. Ngày 16/8/2021, bà N đã nhận quyết định giao đất và làm các thủ tục cấp
GCNQSDĐ theo quy định.
- Đối với yêu cầu bồi thường diện tích đất 69,5m
2
(300m
2
230,5m
2
=
69,5m
2
) không sở giải quyết, Trích lục bản đồ địa chính số
20322/TL-VPĐKĐĐ-KTĐC ngày 03/12/2019 của Văn phòng đăng đất đai
tỉnh Đắk Lắk đã được điều chỉnh thành Trích lục bản đồ địa chính số 17189/TL-
VPĐKĐĐ-KTĐC ngày 14/12/2020 của VPĐKĐĐ tỉnh Đắk Lắk. Căn cứ Trích
lục bản đồ địa chính số 17189/TL-VPĐKĐĐ-KTĐC ngày 14/12/2020 của
VPĐKĐĐ tỉnh Đắk Lắk, thì diện tích đất còn lại 15,2m
2
nằm trong
GCNQSDĐ N đang sử dụng diện tích 46,2m
2
đất nằm ngoài đường
ngoài hiện trạng sử dụng đất. Căn cứ Điều 12 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP
ngày 15/5/2014 của Chính phủ tchỉ bồi thường theo hiện trạng sử dụng đất
chứ không bồi thường theo diện tích trong GCNQSDĐ.
6
Từ những căn cứ trên, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xem xét
không chấp nhận đơn khởi kiện của bà Trịnh Thị N.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng đăng đất đai tỉnh
Đắk Lắk trình bày:
Ngày 27/11/2019, VPĐKĐĐ tỉnh Đắk Lắk nhận được Phiếu yêu cầu cung
cấp thông tin của Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng Tp. B về việc trích lục các
thửa đất đã được chỉnh phục vụ công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng
theo Mảnh trích đo chỉnh lý bản đồ địa chính phục vụ dự án Hồ thủy lợi Ea Tam
được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đắk Lắk duyệt ngày 21/11/2019.
VPĐKĐĐ tỉnh Đắk Lắk đã thực hiện trích lục bản đồ địa chính cung cấp cho
Ban Quản dự án đầu xây dng Tp. B, trong đó Trích lục bản đồ địa
chính số 20322/TL-VPĐKĐĐ-KTĐC ngày 03/12/2019, thửa đất số 56, tbản
đồ số 40, diện tích 308,1m
2
, tại phường T, Tp. B, mục đích sử dụng đất ở đô thị.
Theo chỉ đạo của UBND Tp. B, ngày 03/12/2020, Ban Quản dự án đầu
xây dựng Tp. B chủ trì tổ chức họp về việc xử đơn kiến nghị của bà Trịnh
Thị N. Tại cuộc họp, các thành viên tham dự đã thảo luận thống nhất đề nghị
VPĐKĐĐ thực hiện cung cấp lại trích lục bản đồ địa chính đối với thửa số 56,
tờ bản đồ số 40, kết hợp lồng ghép ranh thửa đất đã được cấp GCNQSDĐ và
ranh thửa đất theo hiện trạng. Dựa trên bản đồ địa chính đang quản và tọa độ
các đỉnh thửa đất thể hiện tại trang 03 GCNQSDĐ số BB 778641 do UBND Tp.
B cấp ngày 25/01/2011 cho hộ ông Trịnh Văn H1, Nguyễn Thị Ng, đăng
biến động tặng cho bà Trịnh Thị N ngày 01/12/2016. Sau đó, cung cấp Trích lục
bản đồ địa chính số 17189/TL-VPĐKĐĐ-KTĐC ngày 14/12/2020 thay thế cho
Trích lục bản đồ địa chính số 20322/TL-VPĐKĐĐ-KTĐC ngày 03/12/2019.
Việc VPĐKĐĐ tỉnh Đắk Lắk thực hiện trích lục bản đồ địa chính số 17189/TL-
VPĐKĐĐ-KTĐC ngày 14/12/2020 là đúng quy định.
Đối với việc quyết định thu hồi đất, quyết định phê duyệt phương án bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư đối với bà Trịnh Thị N thuộc thẩm quyền của UBND
Tp. B, không thuộc thẩm quyền của VPĐKĐĐ tỉnh Đắk Lắk nên không ý
kiến gì. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Người làm chứng ông Trịnh Văn H1, Nguyễn Thị Ng trình bày:
Thống nhất với lời khai của Trịnh Thị N, đề nghị HĐXX chấp nhận đơn khởi
kiện của bà N.
Tại bản án hành chính thẩm số: 07/2022/HC- ST ngày 25 tháng 02
năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 30; khoản 4 Điều 32; điểm a khoản 2 Điều 116;
điểm b khoản 2 Điều 157; điểm a khoản 2 Điều 193; Điều 204 và Điều 206 Luật
tố tụng hành chính năm 2015; Điều 12 Ngh định số 47/2014/NĐ-CP ngày
7
15/5/2014 của Chính phủ; khoản 1 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/NQ-
UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án
phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Không chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện của Trịnh Thị N về
việc yêu cầu: Giữ nguyên Quyết định s9828/QĐ-UBND ngày 26/12/2019 của
Ủy ban nhân dân thành phố B về việc thu hồi đất để thực hiện dự án Hồ thủy lợi
Ea Tam, phường T, thành phố B; Hủy một phần Quyết định số 2814/QĐ-UBND
ngày 16/4/2021 của Ủy ban nhân dân thành phố B về việc điều chỉnh Điều 1
Quyết định số 9828/QĐ-UBND ngày 26/12/2019 của Ủy ban nhân dân thành
phố B, về phần diện tích 20,4m
2
đất trồng cây lâu năm bị thu hồi; Hủy một phần
Điều 1 Quyết định giao đất s 4718/QĐ-UBND ngày 19/7/2021 của Ủy ban
nhân dân thành phố B đối với nội dung giao đất tái định thu tiền sử dụng
đất, buộc Ủy ban nhân dân thành phố B bồi thường bằng đất khi nhà nước thu
hồi đất ở; Buộc UBND Tp. B bồi thường diện tích đất 69,5m
2
còn lại không thu
hồi theo Trích lục bản đồ địa chính số 20322/TL-VPĐKĐĐ-KTĐC ngày
03/12/2019 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đắk Lắk.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí sơ thẩm và quyền kháng
cáo.
Ngày 08 tháng 3 năm 2022, ông Hoàng Ngọc T1 - là người đại diện theo ủy
quyền của bà Trịnh Thị N kháng cáo toàn bộ Bản án hành chính sơ thẩm.
Ngày 10 tháng 3 năm 2022, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk
Lắk ban hành Quyết định kháng nghị số 205/QĐ-VKS-HC; đề nghị Tòa án cấp
phúc thẩm sửa Bản án hành chính thẩm số 07/2022/HC- ST ngày 25 tháng 02
năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk; theo hướng:
- Hủy một phần Quyết định số 2814/QĐ-UBND ngày 16/4/2021 của Ủy
ban nhân dân thành phố B về việc điều chỉnh Điều 1 Quyết định số 9828/QĐ-
UBND ngày 26/12/2019 của Ủy ban nhân dân thành phố B, về phần diện tích
20,4m
2
đất trồng cây lâu năm bị thu hồi.
- Hủy một phần Điều 1 Quyết định giao đất số 4718/QĐ-UBND ngày
19/7/2021 của Ủy ban nhân dân thành phố B về giá đất.
- Buộc UBND Tp. B thu hồi và bồi thường diện tích đất 69,5m
2
còn lại.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Ông Hoàng Ngọc T1 không rút đơn khởi kiện và giữ nguyên kháng cáo.
- Đại diện VKSND cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị HĐXX chấp nhận kháng
nghị và sửa bản án sơ thẩm.
8
Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, kết
quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về nội dung:
[1.1] Diện tích thửa đất số 56, tờ bản đồ số 40, diện tích 308,1m
2
tại
phường T, Tp. B nguồn gốc của ông Trịnh Văn H1, Nguyễn Thị Ng
(GCNQSDĐ số BB 778641 do UBND Tp. B cấp ngày 25/01/2011 cho hộ ông
Trịnh Văn H1, Nguyễn Thị Ng) tặng cho Trịnh Thị N và ngày 01/12/2016,
Trịnh Thị N đã được chỉnh lý, đứng tên tại GCNQSDĐ số BB 778641 ngày
25/01/2011.
[1.2] Thực hiện giải phóng mặt bằng để đầu xây dựng dự án công trình
Hồ thủy lợi Ea Tam; UBND thành phố B đã căn cứ vào vị trí, ranh giới diện
tích đất bị thu hồi của Trịnh Thị N được xác định tại Trích lục bản đồ địa
chính số 20322/TL-VPĐKĐĐ-KTĐC ngày 03/12/2019 của Văn phòng đăng ký
đất đai tỉnh Đắk Lắk để ra Quyết định thu hồi đất s 9828/QĐ-UBND ngày
16/12/2019, vi diện tích đất thu hồi 238,6m
2
; trong đó gm: 230,5m
2
đất
8,1m
2
đất trồng cây lâu năm. Cùng ngày 26/12/2019, UBND thành phố B ban
hành Quyết định số 9814/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường,
hỗ trợ chi phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định khi nhà nước
thu hồi đất để thực hiện dự án Hồ thủy lợi Ea Tam, phường T, thành phố B.
Theo Quyết định số 9814/QĐ-UBND thì N được bồi thường diện tích
đất ở 230,5m
2
là 2.373.228.000 đồng diện tích đất trồng cây lâu năm 8,1m
2
là
16.688.025 đồng.
Diện tích đất còn lại không b thu hi, bồi thường là 69,5m
2
đất ở; theo
lời khai của UBND thành phố B thì diện tích 69,5m
2
đất ở, N đủ điều kiện
xây dựng nnên không b thu hi, bồi thường không được xem xét giao
đất tái định cư.
[1.3] Quá trình giải quyết việc thu hồi, bồi thường theo Quyết định thu hi
đất s 9828/QĐ-UBND Quyết định về việc phê duyệt phương án bồi thường
số 9814/QĐ-UBND; UBND thành phố B phát hiện sự sai sót, sthay đổi
về diện tích thu hồi (qua kiểm tra đo đạc thực tế, lồng ghép bản đồ cấp
GCNQSDĐ Trích lục bản đồ địa chính số 20322/TL-VPĐKĐĐ-KTĐC ngày
03/12/2019) nên điều chỉnh lại diện tích đất thu hồi theo trích lục mới Trích
lục bản đồ địa chính số 17189/TL-VPĐKĐĐ-KTĐC ngày 14/12/2020 của
VPĐKĐĐ tỉnh Đắk Lắk.
Căn cứ vào Trích lục bản đồ địa chính số 17189/TL-VPĐKĐĐ-KTĐC
ngày 14/12/2020 của VPĐKĐĐ tỉnh Đắk Lắk; UBND thành phố B ban hành
9
Quyết định số 2814/QĐ-UBND ngày 16/4/2021 về việc điều chỉnh Điều 1
Quyết định s9828/QĐ-UBND ngày 26/12/2019 của UBND Tp. B về việc thu
hồi đất của bà Trịnh Thị N; với nội dung: từ việc thu hồi “thu hồi 238,6m
2
(trong
đó 230,m
2
đất 8,1m
2
đất trồng cây lâu nămthành thu hồi thu hồi 238,6m
2
(trong đó 218,2m
2
đất 20,4m
2
đất trồng cây lâu năm”; đồng thời, ban hành
Quyết định số 2812/QĐ-UBND ngày 16/4/2021 điều chỉnh phương án bồi
thường, hỗ trợ tại Quyết định số 9814/QĐ-UBND ngày 26/12/2019 của UBND
Tp. B. Theo Quyết định số 2812/QĐ-UBND ngày 16/4/2021 thì N được bồi
thường diện tích đất 218,2m
2
2.246.587.200 đng (giảm 126.640.800 đồng)
diện tích đất trồng cây lâu năm 20,4m
2
42.029.100 đồng (tăng 25.341.075
đồng).
Do thay đi v din tích thu hồi nêu trên, diện tích còn lại không đủ điều
kiện xây dựng nhà theo quy định (theo trình bày của người b kiện 15,2m
2)
nên trường hp ca bà N đủ điu kin được giao đất tái định cư ngày
19/7/2021, UBND Tp. B ban hành Quyết định số 4717 và 4718/QĐ-UBND giao
02 thửa đất tái định cho Trịnh Thị N (thửa đất số 416, tờ bản đồ số 80,
diện tích 126,6m
2
thửa đất số 56, tbản đồ số 52, diện tích 110m
2
), thu
tiền sdụng đất theo giá đất được quy định tại Quyết định số 924/QĐ-UBND
ngày 20/4/2021 của UBND tỉnh Đắk Lắk.
Không đồng ý với các quyết định nêu trên, Trịnh Thị N khởi kiện
kháng cáo.
[2] Xét yêu cầu kháng cáo và kháng nghị:
[2.1] Lời khai tại bản tự khai ngày 02/12/2021 của Giám đốc VPĐKĐĐ
tỉnh Đắk Lắk phù hợp với nội dung Biên bản xác minh nguồn gốc đất ngày
18/12/2020 của Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố B phù hợp với Trích
lục bản đồ địa chính số 17189/TL-VPĐKĐĐ-KTĐC ngày 14/12/2020 của
VPĐKĐĐ tỉnh Đắk Lắk. HĐXX phúc thẩm sxác định: Diện tích đo đạc
theo hiện trạng sử dụng đất của N tại thửa đất số 56, tờ bản đồ số 40 diện
tích là 308,1m
2
; trong đó:
- Diện tích đất nằm trong ranh giới quy hoạch 238,6m
2
, gồm: 218,2m
2
đất đã được cấp GCNQSDĐ 20,4m
2
đất trồng cây lâu năm chưa được cấp
GCNQSDĐ.
- Diện tích đất nằm ngoài ranh giới quy hoạch 69,5m
2
, gồm: 8,2m
2
đất
đã được cấp GCNQSDĐ và 61,3m
2
không thuộc GCNQSDĐ.
Như vậy, theo như đã xác định nêu trên thì diện tích 8,2m
2
đất của N
đã được cấp GCNQSDĐ số BB 778641 ngày 25/01/2011 tuy không thuộc phạm
vi quy hoạch nhưng không đđiều kiện để theo quy định tại Quyết định s
39/2014/QĐ-UBND ngày 10/11/2014 của y ban nhân dân tỉnh Đắk Lk nên
10
phi thc hin vic thu hồi bồi thường. Ngoài ra, theo đo đạc theo hiện trạng
sử dụng đất của N tại thửa đất số 56, tờ bản đồ số 40
(Trích lục bản đồ địa
chính số 20322/TL-VPĐKĐĐ-KTĐC ngày 03/12/2019 Trích lục bản đồ địa
chính số 17189/TL-VPĐKĐĐ-KTĐC ngày 14/12/2020 đã xác định) thể hiện
N quản lý, sử dụng diện tích 308,1m
2
; sau khi trừ đi phần diện tích nằm trong
ranh giới quy hoạch bị thu hồi, được bồi thường theo các Quyết định số
2814/QĐ-UBND ngày 16/4/2021 Quyết định số 2812/QĐ-UBND ngày
16/4/2021 thì diện tích đất của N đang quản lý, sử dụng chưa được cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn còn. Do vậy, UBND thành phố B cần xem
xét, giải quyết diện tích đất này theo quy định ti Điu 75, 77, Điều 79 Luật đất
đai 2013; khon 1 Điu 6, Điều 12 Ngh định 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014
của Chính phủ Quyết định s 39/2014/QĐ-UBND ngày 10/11/2014 của y
ban nhân dân tnh Đắk Lk.
[2.2] Theo như đã nhận định phn [1.2]; căn cứ vào diện tích đt b thu
hi của bà Trnh Th N được xác định tại Trích lục bản đồ địa chính số
20322/TL-VPĐKĐĐ-KTĐC ngày 03/12/2019 của Văn phòng đăng đất đai
tỉnh Đắk Lk; UBND thành phố B xác định diện tích đt 69,5m
2
đt còn lại
ca N không bị thu hồi đ điu kiện xây dựng nhà nên không đưc xem
xét giao đất tái định cư. Tuy nhiên, sau đó do phát hiện s sai sót về diện tích
thu hi (qua kim tra lồng ghép bản đồ cấp GCNQSDĐ Trích lc bản đồ địa
chính s 20322/TL-VPĐKĐĐ-KTĐC ngày 03/12/2019) nên UBND thành phố B
điu chnh li diện tích đất thu hồi theo trích lc mới Trích lục bản đồ địa
chính số 17189/TL-VPĐKĐĐ-KTĐC ngày 14/12/2020 của VPĐKĐĐ tỉnh Đắk
Lk. Việc điều chnh li diện tích đất thu hi của UBND thành ph B dẫn đến
diện tích đất còn lại ca thửa đất số 56, tờ bản đồ số 40 không đủ điu kiện để
và có đủ điu kiện đ xem xét giao đất tái định cư; đây là li của UBND thành
ph B làm cho N không được b trí tái định ti thời điểm thu hồi đất
ngày 26/12/2019 (Quyết định s 9828/QĐ-UBND) theo quy đnh ti khon 1
Điu 85 Luật đất đai 2013 khon 1 Điu 26 Ngh định 47/2014/NĐ-CP ngày
15/5/2014 của Chính phủ đến năm 2021 mới b trí tái định cho N
(Quyết định số 4717 4718/QĐ-UBND ngày 19/7/2021) nên vic áp dụng giá
thu tiền sử dụng đất theo giá đất được ban hành tại Quyết định số 924/QĐ-
UBND ngày 20/4/2021 của UBND tỉnh Đắk Lắk không đúng xâm phạm
đến quyền lợi của bà N như kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân
tỉnh Đắk Lắk là có căn cứ.
[3] Từ các nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận
kháng cáo của ông Hoàng Ngọc T1; chp nhn Quyết định kháng nghị số
205/QĐ-VKS-HC ngày 10 tháng 3 năm 2022 của Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
11
Do sa bản án thẩm nên N không phải chịu án phí phúc thẩm sửa
li phần án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Đim a, khoản 2 Điều 241 Lut T tụng hành chính.
Chp nhận kháng cáo của ông Hoàng Ngọc T1 - là người đại diện theo y
quyền của Trịnh Thị N kháng nghị ca Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân tỉnh Đắk Lắk; sửa bản án sơ thẩm.
Áp dụng: Điu 75, Điu 77, Điều 79, khoản 1 Điều 85 Luật đất đai 2013;
Điều 12, khon 1 Điu 6, Điều 12 khon 1 Điu 26 Nghị định số
47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ; khoản 1 Điều 32 Nghị quyết số
326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Hủy một phần Quyết định số 2814/QĐ-UBND ngày 16/4/2021 của Ủy
ban nhân dân thành phố B về việc điều chỉnh Điều 1 Quyết định số 9828/QĐ-
UBND ngày 26/12/2019 của Ủy ban nhân dân thành phố B.
- Hủy một phần Điều 1 Quyết định giao đất số 4718/QĐ-UBND ngày
19/7/2021 của Ủy ban nhân dân thành phố B về giá đất buc UBND thành
ph B sửa đổi quyết định theo hướng Thu tin s dụng đất theo giá do UBND
tỉnh Đắk Lắk quyết định ti thi điểm năm 2019
- Buộc UBND Tp. B thu hồi diện tích đất còn lại của bà N quản lý, sử dụng
theo Trích lục bn đồ địa chính số 20322/TL-VPĐKĐĐ-KTĐC ngày
03/12/2019 đã xác định theo quy định của pháp luật.
Án phí:
Án phí hành chính sơ thẩm:
Ủy ban nhân dân Tp. B, tỉnh Đắk Lắk phi chịu 300.000đ.
Trịnh Thị N không phi chịu. Hoàn trả cho bà Trịnh Thị N 300.000đ,
theo các Biên lai thu tạm ng s 07519 ngày 25/8/2021 ca Cục Thi hành án dân
s tỉnh Đắk Lắk.
Án phí hành chính phúc thẩm:
Ông Hoàng Ngọc T1 không phi chịu. Hoàn trả cho ông Hoàng Ngọc T1
300.000đ, theo Biên lai thu tm ng s 017197 ngày 14/3/2022 (do ông Nguyễn
Xuân Bốn nộp thay cho ông Hoàng Ngọc T1) ca Cục Thi hành án dân s tnh
Đắk Lắk.
12
Bản án hành chính phúc thẩm có hiệu lực pháp luật k t ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND ti cao;
- VKSND cp cao tại Đà Nẵng;
- TAND tnh Đắk Lắk;
- VKSND tnh Đắk Lắk;
- Cc THADS tnh Đắk Lắk;
- Những người tham gia t tng;
- Lưu HSVA, P.HCTP, LT.
Tải về
Bản án số 174/2022 Bản án số 174/2022

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất