Bản án số 17/2022/DS-PT ngày 27/01/2022 của TAND tỉnh Bắc Giang về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 17/2022/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 17/2022/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 17/2022/DS-PT ngày 27/01/2022 của TAND tỉnh Bắc Giang về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Bắc Giang |
| Số hiệu: | 17/2022/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 27/01/2022 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Tranh chấp chia tài sản chung và chia di sản thừa kế |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨAVIỆTNAM
TỈNH B Độc lập - Tự do - Hạnh phúc.
Bản án số: 17/2022/DS-PT.
Ngày 27/01/2022.
V/v “Tranh chấp chia tài sản chung
và chia di sản thừa kế”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH B
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:Bà Trần Thị Hà.
Các thẩm phán: - Bà Hoàng Thị Hải Hường.
- Bà Phạm Thị Minh Hiền.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Vân -Thư ký Tòa án nhân dân
tỉnh B.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh B: Bà Nguyễn Thị Tuyết - Kiểm sát
viên.
Trong ngày 27/01/2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh B xét xử phúc thẩm
công khai vụ án thụ lý số: 160/2021/TLPT-DS ngày 17/11/2021 về việc “Tranh
chấp chia tài sản chung và chia di sản thừa kế”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 40/2021/DS-ST ngày 24/9/2021 của Toà án
nhân dân huyện Tân Y có kháng cáo, kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:173/2021/QĐ-PT ngày 21/12/2021,
giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Cụ Nguyễn Thị V, sinh năm 1948(Có mặt).
Nơi cư tại: thôn An Lạc, xã Việt Ng, huyện Tân Y, tỉnh B.
* Đồng bị đơn:
1. Ông Nguyễn Mạnh T, sinh năm 1969 (Có mặt).
2. Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1975(Vắng mặt).
Đều trú tại: thôn An Lạc, xã Việt Ng, huyện Tân Y, tỉnh B.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1.Ông Nguyễn Minh H, sinh năm 1971.(Có mặt).
2. Ông Nguyễn Việt L, sinh năm 1973. (Có mặt).
3. Ông Nguyễn Việt Kh, sinh năm 1975. (Có mặt).
4. Anh Nguyễn Duy T2, sinh năm 1993. (Có mặt).
5. Chị Trần Thị D, sinh năm 1993.(Vắng mặt).
6. Chị Nguyễn Thị Ng T, sinh năm 1998.(Xin vắng mặt).
Đều trú tại: thôn An Lạc, xã Việt Ng, huyện Tân Y, tỉnh B.
7. Bà Nguyễn Thị Th, sinh năm 1978.(Có mặt).
2
Nơi cư trú: thôn Ngọc Cụ, xã Hoàng Th, huyện Hiệp H, tỉnh B.
8. Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1944. (Vắng mặt).
Nơi cư trú: Thôn Lam Sơn, xã Lam Cốt, huyện Tân Y, tỉnh B.
9. Bà Nguyễn Thị Th1, sinh năm 1953. (Vắng mặt).
Nơi cư trú: Thôn Yên Sơn, xã Hoàng Th, huyện Hiệp H, Bắc Giang.
10. Bà Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1960. (Vắng mặt).
Nơi cư trú: Thôn Việt Hùng, xã Việt Ng, huyện Tân Y, Bắc Giang.
11. Ông Nguyễn Việt A, sinh năm 1966.(Vắng mặt).
Nơi ở hiện nay: Khu phố 2, phường Đông Lễ, thành phố Đông Hà, tỉnh
Quảng Trị.
12. Ủy ban nhân dân xã Việt Ng, huyện Tân Y, Bắc Giang.
(Do bà Đoàn Thị Th2– cán bộ địa chính đại diện theo ủy quyền) (Vắng mặt-
Có đơn xin xét xử vắng mặt).
13. UBND huyện Tân Y.
(Do ông Nguyễn Văn H2– Phó trưởng phòng Tài nguyên và môi trường
huyện Tân Yên đại diện theo ủy quyền). (Vắng mặt).
14. Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh
Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Tân Y, tỉnh B.
Do ông Hoàng L1- TP. KHKD là đại diện theo ủy quyền. (Tại giấy ủy quyền
số 508 ngày 17/11/2020). (Vắng mặt)
*Người kháng cáo: Cụ Nguyễn Thị V- là nguyên đơn; BàNguyễn Thị Th là
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
* Kháng nghị: Quyết định số 19/QĐKNPT-VKS-DS ngày 25/10/2021 của
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh B.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ thì nội dung vụ án như
sau:
* Trong đơn khởi kiện ngày 10/3/2020của nguyên đơnvà các lời khai tiếp
theocụ Nguyễn Thị V trình bày:
Vợ chồng cụ Nguyễn Thị V và cụ Nguyễn Văn Cđã được Nhà nước cấp cho
diện tích đất là 6.396m
2
đất trong đó có 360m
2
đất ở, 2.477m
2
đất vườn, 224m
2
đất
KTGĐ, còn lại là đất canh tác các loại. Trong thời gian chung sống vợ chồng cụ đã
tạo lập được các tài sản trên đất gồm 01 nhà ở cấp bốn 04 gian, 01 gian bếp và các
công trình phụ. Vợ chồng cụ sinh được 05 người con đẻ (không có con nuôi) gồm:
Nguyễn Mạnh T, Nguyễn Minh H, Nguyễn Việt L, Nguyễn Việt Kh, Nguyễn Thị
Th. Năm 1994 ôngNguyễn Mạnh T là con trai cả của vợ chồng cụ đã tự tách đất
của vợ chồng cụ ra để làm thủ tục cấp GCNQSD đất mang tên ông Nguyễn Mạnh
T, diện tích bao nhiêu cụ không nhớ, cụ chỉ biết vợ chồng cụ có đồng ý cho đất
ông T theo chiều rộng đất là 11m, chiều dài tính từ tim đường vào 42m.
3
Ngày 26/02/2007 vợ chồng cụ đã tặng cho ông Nguyễn Minh H diện tích 306
m
2
(đất ở 90 m
2
,đất vườn 216 m
2
); ông Nguyễn Việt Kh diện tích 306 m
2
(đất ở 90
m
2
, đất vườn 216 m
2
); ông Nguyễn Việt L diện tích 380 m
2
(đất ở 90 m
2
, đất vườn
290 m
2
).Sau đó, vợ chồng cụ tiếp tục sống trên phần đất còn lại đến ngày
10/10/2017 chồng cụ là cụ Nguyễn Văn Cchết (không để lại di chúc).Bố mẹ đẻ của
cụ Clà cố Nguyễn Văn Thực chết năm 1982 (chết trước cụ Cường) và cố Nguyễn
Thị Ninh chết ngày 09/01/2018 (chết sau cụ Cường). Vợ chồng cố Thực và cố
Ninh có 05 người con đẻ,( không có con nuôi) là: cụ Nguyễn Thị H1, cụ Nguyễn
Văn Cường, cụ Nguyễn Thị Th1, cụ Nguyễn Thị Ng, cụ Nguyễn Việt A.
Tại thời điểm cụ Cchết thì vợ chồng cụ có tài sản chung bao gồm:
Diện tích sau khi tách cho các con còn lại là 1.845m
2
đất lâu dài (90m
2
đất ở
và 1.755m
2
đất vườn) thuộc thửa số 191 tờ bản đồ số 4 (bản đồ giải thửa năm
1992) thuộc thôn An Lạc, xã Việt Ng, huyện Tân Y, tỉnh B đã được cấp
GCNQSDĐ số D0144537 ngày 15/4/1994 cho chủ sử dụng đất là Nguyễn Văn
Cường. Diện tích đang sử dụng theo bản đồ hiện trạng năm 2011là 2.346,6m
2
thuộc các thửa số 140 diện tích 2226,6m
2
và thửa số 143 diện tích 120m
2
.
Đối với phần diện tích đất 3,9m mặt tiền tại thửa số 143 diện tích 120m
2
mà
ông T, bà T1 làm nhà 02 tầng trên đất thì đất vẫn mang tên cụ Nguyễn Văn Ctrên
GCNQSDĐ nhưng trên thực địa thì ông T, bà T1 đã làm 01 nhà 02 tầng, thời gian
làm vào khoảng năm 2015. Khi vợ chồng ông T xây nhà thì cụ Clà chồng cụ V vẫn
còn sống và có sang trông nom công trình xây dựng cho ông T đi lái xe, bà T1 đi
làm công nhân. Tại thời điểm ông T, bà T1 xây nhà cụ V có biết nhưng không
ngăn cản mà nghĩ rằng nếu ông T, bà T1 không hỗn láo thì vợ chồng cụ V cũng
cho nhưng nay sau khi cụ Cchết đi thì ông T không chịu ký vào biên bản họp gia
đình để sang tên sổ đỏ chuyển từ tên cụ Csang tên cụ V nên cụ V không cho phần
diện tích đất 3.9m mặt tiền ở thửa 143 diện tích 120m
2
này nữa mà cụ yêu cầu chia
thừa kế. Sau khi cụ Cchết thì khoảng 02 tháng thì mẹ chồng cụ là cố Nguyễn Thị
Ninh chết.
Do không thống nhất trong quá trình phân chia đất đối với phần đất còn lại
của vợ chồng cụ (diện tích đất hiện này cụ đang quản lý) nên nay cụ yêu cầu chia
tài sản chung và chia thừa kế tài sản là diện tích 1.845m
2
đất (90m
2
đất ở và
1.755m
2
đất vườn) thuộc thửa số 191, tờ bản đồ số 4 (bản đồ giải thửa năm 1992)
và phần diện tích sau đo có tăng thêm 40m
2
theo kết quả đo đạc năm 2007, theo
bản đồ hiện trạng năm 2011là 2.346,6m
2
thuộc các thửa số 140 diện tích 2226,6m
2
và thửa số 143 diện tích 120m
2
và các tài sản gắn liền trên đất.Địa chỉ thửa đất:
thôn An Lạc, xã Việt Ng, huyện Tân Y. Cụ đề nghị phân chia tài sản chung cho cụ
là 1/2 diện tích đất và tài sản gắn liền trên đất, chia thừa kế phần tài sản của chồng
cụ cho cụ và các con cụ theo quy định của pháp luật, ngoài ra cụ không yêu cầu gì
khác.
Đối với ý kiến của ông H, ông L, ông Kh, bà Thđược hưởng phần di sản và
cho cụ V thì cụ đồng ý nhận.
4
Kể từ khi cụ Ccòn sống cho đến hiện nay vợ chồng cụ không còn nợ ai và
cũng không cho ai vay nợ, ngoài ra vợ chồng cụ không còn quyền tài sản nào khác,
cụ Ccũng không còn quyền tài sản nào khác, cụ Ckhông còn nghĩa vụ về tài sản
nào khác với ai mà chưa thực hiện được, cụ Ckhông có con riêng.
Sau ngày mở phiên tòa ngày 24/8/2021 thì ông H, ông L, ông Kh, bà Th có ý
kiến được hưởng kỷ phần di sản thì không cho cụ V nữa mà các ông H, ông L, ông
Kh có ý kiến nhận kỷ phần di sản của mình và tự nguyện cho bà Th hưởng phần di
sản này. Đồng thời cụ V đồng ý với ý kiến của bà Th yêu cầu chia cho bà Th
306m
2
đất như đã chia cho ông L, ông H, ông Kh trong tổng diện tích 1.729,7m
2
.
Về tiền công sức trông nom, bảo quản, chi phí mai táng cụ không yêu cầu
chia. Tại phiên tòa cụ V có mặt và trình bày cụ nhất trí chia cho chị Thủy 306 m
2
đất giáp với đất của ông L.
Tại bản tự khai và các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án, bị
đơn là ông Nguyễn Mạnh T và bà Nguyễn Thị T1 thống nhất trình bày:
Bố mẹ ông là cụ Nguyễn Thị V và cụ Nguyễn Văn C(cụ Cchết ngày 10 /10/
2017),(không để lại di chúc). Cụ V, cụ Ccó 05 người con gồm: Nguyễn Mạnh T;
Nguyễn Minh H; Nguyễn Việt L; Nguyễn Việt Kh; Nguyễn Thị Th. Ông là con trai
trưởng và sống cùng cụ Cường, cụ V đến 1990 thì lấy vợ được cụ Cường, cụ V cho
ở riêng tại01 gian nhà ngang, đến năm 1993 cụ Cường, cụ Vcho vợ chồng ông đất
ở riêng. Năm 1994 vợ chồng ông được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
mang tên Nguyễn Mạnh T. Vợ chồng ông sinh sống ổn định trên diện tích đất
không có tranh chấp với ai về ranh giới. Năm 2015 cụ Cường, cụ V có cho thêm
phần đuôi đất là phần đất đồi phía sau để vợ chồng ông xây nhà 02 tầng. Quá trình
ông, bà xây dựng nhà ở thì cụ Clà người chỉ mốc giới đào múc móng nhà và trông
nom công trình xây dựng cho vợ chồng ông còn cụ V có qua lại cùng giúp đỡ công
việc xây dựng nhà ở. Ông xác định đối với diện tích 3,9m mặt tiền ông đang quản
lý sử dụng thực tế đất đã có ranh giới, khuôn viên rõ ràng, không có tranh chấp hộ
liền kề nào.
Sau khi cụ Cchết thì mẹ con ông xẩy ra trục trặc về vấn đề đất đai do cụ V
muốn chuyển quyền sử dụng đất cho một mình cụ đứng tên để toàn quyền sử dụng
nhưng vợ chồng ông không đồng ý. Ông, bà xác định tài sản của cụ Cường, cụ V là
diện tích đất còn lại khoảng 12m chiều rộng bám mặt đường 297, còn chiều dài,
diện tích đất vườn ông không biết, trên đất có 01 nhà 4 gian trần hiên, 01 nhà bếp,
01 gian công trình phụ, toàn bộ tài sản này do cụVấn đang quản lý sử dụng. Nay cụ
V yêu cầu phân chia thừa kế diện tích đất thì ông đồng ý chia phần diện tích đất cụ
V đang quản lý nhưng không đồng ý chia thửa đất số 143 và phần diện tích ông đã
xây dựng công trình. Ông đồng ý nhận kỷ phần của ông được hưởng và đề nghị
được nhận bằng hiện vật là đất.
Tại thời điểm cụ Cchết thì còn cố nội là cố Nguyễn Thị Ninh chết ngày
09/01/2018 (chết sau cụ Cường). Đối với phần tài sản ông Nguyễn Việt A, bà
Nguyễn Thị Ng, bà Nguyễn Thị Th1, bà Nguyễn Thị H1 được nhận thừa kế từ cố
Ninh mà họ đã tự nguyện tặng cho ông nên ông đồng ý nhận.
5
Về việc trích chia công sức trông nom, về chi phí mai táng phí vợ chồng ông
không có ý kiến gì.
Tại phiên tòa ông T có mặt trình bày: ông chỉ đồng ý chia thừa kế phần diện
tích đất mà cụ V đang sử dụng còn phần đất thuộc vợ chồng ông sử dụng ông
không đồng ý chia.
* Tại bản tự khai và các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án,
những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông L, ông Kh, ông H, bà Th đều
thống nhất trình bày:
Các ông, bà đều nhất trí với yêu cầu chia tài sản chung, chia thừa kế tài sản
của cụ V là diện tích đất 1.845m
2
đất (90m
2
đất ở và 1.755m
2
đất vườn) thuộc thửa
số 191, tờ bản đồ số 4 và phần diện tích sau đó có tăng thêm 40 m
2
theo kết quả đo
đạc năm 2007. Địa chỉ tại thôn An Lạc, xã Việt Ng, huyện Tân Y, tỉnh B và các tài
sản gắn liền trên đất.Các ông, bà đồng ý nhận kỷ phần được hưởng theo pháp luật
và tự nguyện cho kỷ phần của mình để cụ V được nhận.
Sau ngày mở phiên tòa ngày 24/8/2021:
+ Bà Th có bản tự khai ngày 13/9/2021 trình bày ý kiến: Trong quá trình giải
quyết vụ án bà Th không yêu cầu chia công sức đóng góp đối với các tài sản trên
đất và không đồng ý để phần di sản thừa kế được hưởng cho cụ V nữa. Bà Th xác
định tại thời điểm UBND huyện Tân Y công nhận QSDĐ ngày 15/4/1994 cho cụ
Nguyễn Văn Cnhưng theo quy định của pháp luật là thuộc QSDĐ của hộ gia đình.
Các ông H, ông L, ông Kh đã được bố mẹ tặng cho và tách QSDĐ như đang sử
dụng hiện nay thì bà Th nhất trí không có ý kiến gì. Bà Th xác định bà là một trong
các đồng sử dụng đất nhưng chưa được chia QSDĐ nên bà Th yêu cầu chia cho bà
Th 306m
2
đất như đã chia cho ông L, ông H, ông Kh trong tổng diện tích
1.729,7m
2
và đề nghị chia cho phần đất có mặt đường Tỉnh lộ 297 tiếp giáp với
nhà ông L. Đối với ý kiến của ông H, ông L, ông Kh được hưởng kỷ phần di sản và
cho bà Th thì bà đồng ý nhận.
+ Ông L, ông H, ông Kh có bản tự khai và tại phiên tòa đều thống nhất trình
bày: Các ông đều được tặng cho đất nên không có ý kiến gì và đồng ý với ý kiến
của bà Th yêu cầu chia cho bà Th 306m
2
đất trong tổng diện tích 1.729,7m
2
, đồng
thời các ông có ý kiến đối với kỷ phần di sản mà các ông được nhận thì không cho
cụ V nữa và tự nguyện tặng cho bà Th nhận.
* Tại bản tự khai và các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án,
những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Việt A, bà Nguyễn
Thị Ng, bà Nguyễn Thị Th1 trình bày:
Ông Nguyễn Việt A, bà Nguyễn Thị Ng, bà Nguyễn Thị Th1 đều thống nhất
trình bày các ông, bà là con của cố Nguyễn Thị Linh chết ngày 09/01/2018 (chết
sau cụ Cường). Cụ Clà anh, em ruột của các cụ, do cụ Cchết trước mẹ đẻ các ông,
bà khoảng hơn 01 tháng nên các ông bà được hưởng phần thừa kế chuyển tiếp từ
trong kỷ phần của cố Ninh. Nay cụ V có yêu cầu phân chia tài sản chung và phân
chia di sản của cụ Ccho cụ V và các con theo quy định của pháp luật các ông, bà
6
đồng ý nhận phần thừa kế di sản của cố Linh được chia chuyển cho các ông, bà và
tự nguyện tặng cho ông Nguyễn Mạnh T nhận toàn bộ phần của các ông, bà.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị H1 trình bày: Bà
là con gái của cố Nguyễn Thị Linh, chết ngày 09/01/2018 và là chị gái ruột của cụ
Cường. Do cụ Cchết trước mẹ đẻ bà khoảng hơn 01 tháng nên bà được hưởng phần
thừa kế chuyển tiếp từ trong kỷ phần của cố Linh. Nay cụ V có yêu cầu phân chia
tài sản chung và phân chia di sản của cụ Ccho cụ V và các con theo quy định của
pháp luật cụ đồng ý nhận phần thừa kế, cụ tự nguyện cho cụ V nhận nhưng đến
ngày 25/7/2021 bà H1 thay đổi ý kiến về việc tặng cho kỷ phần được hưởng phần
di sản thì không cho cụ V nữa mà bà H1 tự nguyện cho ông T hưởng phần di sản
này.
Về công sức đóng góp duy trì, tôn tạo, bảo quản di sản, chí phí mai táng các
cụ không ý kiến gì.
* Tại bản tự khai và các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Duy T2, chị Trần Thị D, chị
Nguyễn Thị Ng T trình bày:
* Chị Nguyễn Thị Ng T:Chị là con của ông T, bà T1 và lớn lên trên mảnh đất
bố mẹ đang quản lý sử dụng có nguồn gốc đất do ông bà nội tách đất cho bố mẹ
chị từ năm 2001 và mang tên bố chị là ông Nguyễn Mạnh T. Năm 2019 chị kết hôn
và về nhà chồng sống. Chị Tú xác định không có đóng góp gì trên diện tích đất của
bố mẹ nên không có yêu cầu gì, chị xác định không liên quan gì đến vụ án này.
* Anh Nguyễn Duy T2, chị Trần Thị D:Anh T2 là con của ông T, bà T1, còn
chị D là con dâu,vợ chồng anh ở chung với ông T, bà T1 và có công sức đóng góp
đối với các tài sản trên đất mà cụ V cho rằng đất của cụ V đang còn 3,9 m đất mặt
tiền tương ứng với diện tích là 120m
2
nhưng trên thực tế bố mẹ anh đã được cụ V,
cụ Ccho từ trước nên anh không đồng ý chia thừa kế đối với diện tích đất này.
* Tại bản tự khai và các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là UBND huyện Tân Y do ông Nguyễn Văn
H2đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ông nhất trí đại diện theo ủy quyền của Chủ tịch UBND huyện Tân Y tham
gia tố tụng trong vụ án này.
- Về nguồn gốc và trình tự thủ tục cấp Giấy CNQSD đất đối với thửa 191, tờ
bản đồ số 04 đo đạc năm 1994 có nguồn gốc là của cụ Cường, cụ V tự khai hoang
sử dụng trước năm 1992.
Năm 1994, thực hiện chủ trương cấp Giấy CNQSD đất sau đo đạc hộ cụ Cđi
kê khai và được cấp GCNQSD đất D0144537 ngày 15/4/1994 mang tên Nguyễn
Văn Cường, diện tích 2.837m
2
đất (trong đó 360 m
2
đất ở và 2.477 m
2
đất vườn)
thuộc thửa 191, tờ bản đồ số 04 (bản đồ giải thửa năm 1992), cùng năm 1994 ông
Nguyễn Mạnh T đã đi kê khai và được đăng ký cấp Giấy CNQSD đất diện tích 360
m
2
đất ở thuộc thửa 191, tờ bản đồ số 04 (bản đồ giải thửa năm 1992). Thửa số 191
theo bản đồ giải thửa năm 1992 có tổng diện tích 3.557 m2 đã được cấp giấy
chứng quyền sử dụng đất cho cả 02 hộ cụ Cvà ông T với diện tích ghi trên giấy

7
chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng không ghi rõ các cạnh hình thành thửa đất,
không có ranh giới.
Quá trình sử dụng hộ cụ Cường, cụ V đã tặng cho ông Nguyễn Minh H diện
tích 306 m
2
(đất ở 90 m
2
,đất vườn 216 m
2
); ông Nguyễn Việt Kh diện tích 306 m
2
(đất ở 90 m
2
, đất vườn 216 m
2
); ông Nguyễn Việt L diện tích 380 m
2
(đất ở 90 m
2
,
đất vườn 290 m
2
). Theo bản đồ đo đạc năm 2011 thì thửa đất số 191 đã được đo
đạc tách thành 140+141+142+143+144+159+241 tờ bản đồ số 06, các thửa đất
chưa được cấp đổi lại GCNQSD đất cho các hộ gia đình, cá nhân nên chưa có căn
cứ xác định thửa số 143, diện tích 120m
2
được cấp cho ai.
* Tại bản tự khai và các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là UBND xã Việt Ng do bà Đoàn Thị
Th2đại diện theo ủy quyền trình bày:
Bà nhất trí đại diện theo ủy quyền của ông Trần Văn Việt – Chủ tịch UBND
xã Việt Ng tham gia tố tụng trong vụ án này.
Về nguồn gốc thửa đất 191, tờ bản đồ số 04 có nguồn gốc do cụ Cường, cụ V
được nhà nước công nhận và cấp Giấy CNQSD đất ngày 15/4/1994. Về việc cấp
Giấy CNQSD đất cho hộ hộ cụ Cường, ông T đối với thửa 191, tờ bản đồ số 04 tại
thời điểm năm 1994 hiện UBND xã Việt Ngọc không còn lưu trữ đủ các loại giấy tờ.
Hiện UBND xã chỉ còn lưu trữ bản đồ giải thửa năm 1992, Sổ đăng ký ruộng đất, Sổ
mục kê năm 1994. Trong sổ mục kê, sổ địa chính cũng như trên bản đồ giải thửa
năm 1992 hiện đang lưu giữ tại xã thì có thể hiện.
Năm 1994 cụ Cđược cấp GCNQSDĐ, năm 1994 ông T cũng được cấp
GCNQSDĐ nhưng tại thời điểm cấp giữa hai thửa đất không có ranh giới hình thửa
giữa thửa đất cụ Cvà thửa đất ông T mà hai diện tích đất được cấp cho cụ Cvà ông
T năm 1994 cùng thể hiện trên cùng một thửa đất 191 có diện tích 3.557m
2
trên
bản đồ giải thửa đất năm 1992, cũng không vạch ranh giới đất ở và đất vườn. Từ
khi cấp GCNQSDĐ cho hai hộ thì UBND xã Việt Ng chưa nhận được đơn thư liên
quan đến việc tranh chấp đất giữa hai hộ cho đến nay. Trong sổ mục kê, sổ địa
chính cũng như trên bản đồ giải thửa năm 1992 hiện đang lưu giữ tại xã thì hộ cụ
Cđược cấp 360m
2
đất ở và 2.477m
2
đất vườn còn hộ ông T được cấp 360m
2
đất
loại “T”, tổng diện tích đất của hộ cụ Cường, ông T thể hiện trong cùng một thửa
191 theo bản đồ giải thửa năm 1992 là 3.557m
2.
Như vậy, thì trong thửa 191 vẫn
còn thừa 360m
2
diện tích đất chưa cấp cho ai, do hiện nay không có hồ sơ lưu giữ
của hộ cụ Cường, ông T từ thời điểm năm 1994 nên UBND xã không biết diện tích
đất 360m
2
nằm ở phần đất của ai.
Năm 2007 vợ chồng cụ Cường, cụ V đã tặng cho các con Long, Khoa, Hồng
các diện tích gồm: 306m
2
; 306m
2
; 380 m
2
, Sau khi tách đất cho các con thì diện
tích đất của cụ V, cụ Ccòn lại 1.845m
2
trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
được cấp năm 1994 (trong đó 90m
2
đất ở và 1.755m
2
đất vườn). Kết quả đo đạc
hiện trạng sử dụng đất thì cụ V tự xác định tại hiện trạng sử dụng đất trên thực địa
của cụ V và của các con hiện nay so với năm 2007 thì thấy vị trí mốc giới của các
thửa đất đã tặng cho các con có sự thay đổi về kích thước, tứ cận giải thửa, có sự

8
sai lệch về độ dài các cạnh. Như vậy hiện trạng sử dụng đất của các hộ thuộc các
thửa số 244,141,142, 245 so với sơ đồ vẽ tay tách thửa cho các con năm 2007 có
thay đổi về tứ cận thửa đất, nguyên nhân của việc thay đổi là do có sự sai số khi đo
tay và đo máy hoặc là trong quá trình xây dựng các hộ tự chỉ ranh giới, tự cắm mốc
giới xây dựng không đúng theo vị trí trên bản đồ tách thửa năm 2007 và trên thực
địa.
Qua kiểm tra thực địa và đo đạc thẩm định, định giá thì hiện trạng sử dụng
đất hộ ông T thì không có ranh giới phân chia diện tích đất giữa thửa 143 và thửa
144 mà thực tế ông T đang sử dụng cả 02 thửa này.Do sau khi đo đạc theo hiện
trạng sử dụng năm 2011 các hộ chưa làm thủ tục cấp đổi GCNQSDĐ theo quy định
nên chưa có căn cứ xác định thửa đất 143 là cấp cho ai và thửa số 143 có cấp
chồng lấn vào thửa số144 hay không.
Đối với diện tích 360 m
2
đất còn lại thuộc thửa 191 chưa được nhà nước
công nhận cho hộ nào nên không phải là di sản thừa kế nên đề nghị Tòa án không
phân chia diện tích đất này.
* Tại văn bản ngày 07/8/2020, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là
Ngần hàng nông nghiệp do ông Hoàng L1là đại diện theo ủy quyền trình bày:
Qua xác minh hố sơ vay vốn, hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp của hộ
ông T, ngân hàng xác định có cho hộ ông T vay tiền và thế chấp tài sản là quyền sử
dụng đất và các tài sản gắn liên trên đất để đảm bảo nghĩa vụ với ngân hàng. Qua
thẩm định, định giá tài sản gắn liền trên đất thấy rằng có một phần tài sản là 01 nhà
02 tầng nằm trên thửa đất 143 mà các bên đang tranh chấp chia thừa kế. Đối với
vấn đề này ngân hàng có quan điểm nếu việc chia thừa kế gây ảnh hưởng đến việc
thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì không hàng không đồng ý chia mà phải để ông T thực
hiện xong việc trả nợ cho ngân hàng còn nếu chia thừa kế mà không ảnh hưởng
đến nghĩa vụ trả nợ thì ngân hàng không có ý kiến gì.
* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn cụ Nguyễn Thị V
là luật sư Lê Thị Ngọc Lý trình bày:
- Về diện tích đất 120m
2
thửa số 143 thì bà cho rằng khi tiến hành các thủ
tục liên quan đến việc tách thửa tặng cho đất cho các con là ông H, ông L và ông
Kh vào ngày 26/02/2007 thì cơ quan có thẩm quyền đã xác định cụ thể ranh giới vị
trí đất của cụ Cường, cụ V và ông T theo các trích đo thửa đất cùng ngày
26/02/2007. Thủ tục tặng cho đã hoàn thành, đã được cơ quan có thẩm quyền công
nhận. Ông T cũng công nhận ranh giới này và đã ký nhận tại các trích đo thửa đất.
Khi thực hiện tách thửa, cơ quan có thẩm quyền đã xác định chiều mặt
đường tỉnh lộ 297 là 48 m, sau khi tách cho các con thì chiều mặt đường còn lại
của cụ V là 18,8 m. Hiện tại, theo đo đạc chỉ còn 15.54 m. Do vậy, không có căn
cứ để xác định thửa đất số 143 diện tích 120 m
2
đo đạc năm 2011 ( thửa đất có diện
tích 120 m
2
theo kết quả đo đạc hiện trạng ngày 03/8/2021) là đất thuộc quyền sử
dụng của ông T như ông T trình bày.
+ Tại Đơn yêu cầu đăng ký thế chấp ngày 01/11/2018 , bên thế chấp là ông
Nguyễn Mạnh T, bà Nguyến Thị Toan cũng đã xác nhận tài sản thế chấp là thửa

9
đất số 191 tờ bản đồ số 4 (nay thuộc thửa số 144 tờ bản đồ số 06 đã được cấp
GCNQSDĐ số M 016798 ngày 15/4/1994 diện tích 360 m
2
đất ở).
+ Chi nhánh NHNN và PTNT huyện Tân Y – Phòng giao dịch Ngọc Thiện
đã xác định thửa đất số 143 không khớp với tài sản là quyền sử dụng đất đã được
cấp GCNQSSDĐ cho ông T.
Bà nhất trí với yêu cầu của cụ V và đề nghị chia cho bà Th 306 m
2
trong
tổng diện tích 1.729,7 m
2
, sau khi trừ đi diện tích tách cho bà Th thì chia cho cụ V
½ , còn lại ½ là di sản của cụ Cchia cho các đồng thừa kế theo quy định. Bà đề
nghị chia cho ông T 02 kỷ phần bằng hiện vật là phần diện tích 120 m
2
thửa số 143
và phần đất đã xây dựng nhà 02 tầng đồng thời yêu cầu ông T trích chia chênh lệch
tài sản cho cụ V theo quy định.
Toà án đã tiến hành cho các đương sự hoà giải nhiều lần nhưng không được
và các đương sự không thống nhất việc giải quyết vụ án. Các đương sự đề nghị giải
quyết theo pháp luật.Tại phiên toà hôm nay, các đương sự không thoả thuận được
với nhau việc giải quyết vụ án.
Với nội dung nêu trên, bản án dân sự sơ thẩm số: 40/2021/DS-ST ngày
24/9/2021 của Toà án nhân dân huyện Tân Y đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 5 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 147; khoản 2
Điều 157; Điều 165; Điều 166; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Khoản 1 Điều 273
của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 213; Điều 219; Khoản 2 Điều 468; Điều 609; Điều 610;
Điều 611; Điều 612; Điều 613; Điều 614; Điều 623; Điều 649; Điều 650; Điều
651; Điều 652; Điều 660 Bộ luật dân sự; Khoản 2 Điều 66 Luật Hôn nhân và gia
đình;Khoản 29 Điều 3; Điều 100; khoản 1 Điều 166 Luật Đất đai;Căn cứ vào Điều
4 Nghị quyết số: 02/2016/NQ-HĐTP ngày 30/6/2016 của Hội đồng thẩm phán
TANDTC; Mục 1 phần II Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 7
Điều 27 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc
hội.Xử:
[1] .Về yêu cầu khởi kiện:
1.1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của cụ Nguyễn Thị V về yêu cầu
chia tài sản chung và chia thừa kế đối với phần di sản của cụ Nguyễn Văn Ctheo
quy định của pháp luật.
1.2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của cụ Nguyễn Thị V yêu cầu chia
tài sản chung và chia thừa kế phần di sản của cụ Nguyễn Văn Cđối với diện tích
120m
2
thửa đất số 143 và diện tích đất 115,5m
2
cùng toàn bộ các tài sản gắn liền
trên các diện tích đất trên (do ông T, bà T1 đang quản lý, sử dụng). Địa chỉ thửa
đất: thôn An Lạc, xã Việt Ng, huyện Tân Y, tỉnh B.
- Công nhận sự tự nguyện tặng cho kỉ phần thừa kế tài sản giữa ông Nguyễn
Mạnh T và cụ Nguyễn Việt A, cụ Nguyễn Thị Ng, cụ Nguyễn Thị Th1, cụ Nguyễn
Thị H1.

10
- Công nhận sự tự nguyện tặng cho kỉ phần thừa kế tài sản giữa bà Nguyễn
Thị Th và ông Nguyễn Minh H, ông Nguyễn Việt Kh, ông Nguyễn Việt L.
- Chia và giao cho cụ Nguyễn Thị V quản lý, sử dụng toàn bộ diện tích
1.464,6 m
2
đất (trong đó 90 m
2
đất ở và 1.374,6 m
2
đất vườn ) tại thửa số 191, tờ
bản đồ số 04 (bản đồ giải thửa năm 1992) nay là thửa 245, tờ bản đồ số 06 (bản đồ
giải thửa năm 2011). Địa chỉ thửa đất: thôn An Lạc, xã Việt Ng, huyện Tân Y, tỉnh
B (có trích sơ đồ hiện trạng thửa đất kèm theo).
- Chia và giaocho cụ Nguyễn Thị V quản lý sử dụng các tài sản trên phần
diện tích đất được giao gồm: 01 nhà ở cấp bốn 04; 01 gian bếp; khu chăn nuôi; 01
nhà tắm; Sân bê tông; Tường bao phía trước và sau, tường hoa; 08 khóm chuối; 03
cây na; cánh cổng sắt, tổng giá trị138.811.800 đồng.
- Tạm giao cho cụ Nguyễn Thị V quản lý diện tích 29,6m
2
đất nằm trong
hành lang giao thông tại tại thửa số 191, tờ bản đồ số 04 (bản đồ giải thửa năm
1992) nay là thửa 245, tờ bản đồ số 06 (bản đồ giải thửa năm 2011). Địa chỉ thửa
đất: thôn An Lạc, xã Việt Ng, huyện Tân Y, tỉnh B nhưng hạn chế cụ Nguyễn Thị
V xây dựng công trình kiên cố trên đất.
- Cụ Nguyễn Thị V có trách nhiệm trích chia 02 kỷ phần thừa kế cho ông
Nguyễn Mạnh T tương ứng số tiền 293.346.256 đồng (Hai trăm chín mươi ba triệu,
ba trăm bốn mươi sáu nghìn, hai trăm năm mươi sáu đồng).
- Cụ Nguyễn Thị V có trách nhiệm trích chia 04 kỷ phần thừa kế cho bà
Nguyễn Thị Th tương ứng số tiền 586.650.512 đồng (Năm trăm tám mươi sáu
triệu, sáu trăm năm mươi nghìn, năm trăm mười hai đồng).
- Cụ Nguyễn Thị V có nghĩa vụ liên hệ với Cơ quan có thẩm quyền đăng ký,
kê khai sự thay đổi, biến động đối với thửa đất số 191, tờ bản đồ số 04 (bản đồ giải
thửa năm 1992) nay là thửa 245, tờ bản đồ số 06 (bản đồ giải thửa năm 2011). hiện
trạng diện tích theo kết quả đo đạc là 1.464,6 m
2
đất (trong đó đất ở 90 m
2
; đất
vườn1.374,6 m
2
và 29.6 m
2
đất hành lang giao thông. Địa chỉ thửa đất: thôn An
Lạc, xã Việt Ng, huyện Tân Y, tỉnh B(có trích sơ đồ hiện trạng thửa đất kèm theo).
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng,lãi suất chậm thi hành
án, quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo cho các bên đương sự.
Ngày 05/10/2021, cụ Nguyễn Thị V là nguyên đơn kháng cáo và được miễn
nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm. Nội dung kháng cáo: Yêu cầu xác định diện
tích 120m
2
thuộc thửa số 143 và diện tích 115,5m
2
mà vợ chồng ông T, bà T1 đã
kiến thiết tài sản trên đất là tài sản chung của vợ chồng cụ và con gái Nguyễn Thị
Th để phân chia tài sản chung và chia thừa kế tài sản theo quy định; Không đồng ý
chia số tiền 293.346.256 đồng cho ông Nguyễn Mạnh T; Yêu cầu chia tài sản
chung và chia thừa kế bằng đất cho chị Nguyễn Thị Th chứ không đồng ý chia số
tiền 586.650.512đồng.
Ngày 05/10/2021 bà Nguyễn Thị Th là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan kháng cáo. Nội dung kháng cáo: Yêu cầu xác định diện tích 120m
2
thuộc thửa
số 143 và diện tích 115,5 m
2
mà vợ chồng ông T đang quản lý sử dụng là của vợ
chồng cụ Nguyễn Thị V và bà Nguyễn Thị Th để phân chia di sản thửa kế theo
11
quy định; Yêu cầu chia quyền sử dụng đất cho bà là thành viên trong hộ gia đình
và chia thừa kế cho bà và các anh trai là Nguyễn Minh H, Nguyễn Việt L và
Nguyễn Việt Kh để lại cho bà bằng đất để bà sử dụng.
Ngày 25/10/2021 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh B có Quyết định kháng nghị
số 19/QĐKNPT-VKS-DS. Nội dung kháng nghị:
- Về việc giải quyết yêu cầu của bà Vấn yêu cầu chia tài sản chung, chia di
sản thừa kế thửa đất số 143, diện tích 120m
2
: Diện tích đất 3.557m
2
tại thửa đất
191, tờ bản đồ số 4 (bản đồ năm 1992) có nguồn gốc là của cụ Cường, cụ V sử
dụng từ trước năm 1992. Cụ Cường, cụ V đã cho ông T quản lý, sử dụng một phần
diện tích của thửa đất này. Năm 1994 cụ Cđược cấp GCNQSDĐ trong đó có diện
tích 2.837m
2
đất (360m
2
đất ở và 2.477m
2
) ông T được cấp GCNQSDĐ diện tích
360m
2
đất ở đều tại thửa 191.Có cơ sở xác định thửa đất 143 diện tích 120m
2
là tài
sản chung của cụ Cường, cụ V. Cụ V yêu cầu chia tài sản chung, chia thừa kế di
sản của cụ Cường, phần diện này là có căn cứ. Việc Tòa án xác định phần diện tích
120m
2
tại thửa đất 143 đã được cụ Cường, cụ V định đoạt khi cụ Ccòn sống và xử
bác yêu cầu này của cụ V là không có căn cứ, không đảm bảo quyền lợi của cụ V.
- Về việc phân chia di sản: Tòa án xác định phần diện tích đất các đương sự
yêu cầu giải quyết phân chia là 1.464,6m
2
và phần bà Th được hưởng 418,44m
2
(25,71m
2
đất ở; 392,73m
2
đất vườn); phần ông T được hưởng 209,22m
2
(12.856m
2
đất ở; 196,38m
2
đất vườn). Cụ V, bà Th, ông T đều yêu cầu chia, được hưởng phần
tài sản bằng đất. Hiện trạng đất các đương sự yêu cầu phân chia có thể chia cho các
bên được bằng đất. Nhưng Tòa án không giải quyết phân chia cho ông T, bà Th
được hưởng phần tài sản bằng đất, mà lại giao toàn bộ đất cho cụ V, cụ V trích trả
bằng tiền cho ông T, bà Th là không đúng với yêu cầu đề nghị của đương sự và
không đúng quy định tại khoản 2 Điều 660 Bộ luật dân sự.
- Về việc định giá tài sản, xác định giá trị tài sản phân chia: Việc Hội đồng
định giá đất vườn giữa hai lần định có sự chênh lệch quá lớn về đơn giá; Hội đồng
định giá chỉ căn cứ Quyết định số 1025/QĐ-UBND ngày 30/12/2019 của UBND
tỉnh B về việc ban hành bảng giá đất giai đoạn 2020-2024; Nghị định số
45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ để định giá; không định giá theo
thực tế chuyển nhượng tại địa phương và việc Tòa án căn cứ kết quả định giá ngày
6/9/2021 để xác định giá đất vườn các đương yêu cầu giải quyết là
1.000.000đồng/m
2
và phân chia là chưa đủ căn cứ, không đúng quy định củapháp
luật và hướng dẫn về việc định giá tài sản của TAND tối cao, ảnh hưởng đến
quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự.
- Kháng nghị toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 40/2021/DS-ST ngày
24/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Tân Y, tỉnh B. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh
B giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm, xử hủy bản án dân sự sơ thẩm số
40/2021/DS-ST ngày 24/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Tân Y, tỉnh B; chuyển
hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án.
12
Ngày 18/01/2022 Hội đồng định giá tiến hành định giá lại giá trị thửa đất
vườn có tranh chấp theo đơn yêu cầu của cụ Nguyễn Thị V. Theo biên bản định giá
thì giá diện tích đất vườn như sau:
- Giá theo quy định của nhà nước là 42.000đồng/1m
2
.
- Giá chuyển nhượng thực tế tại địa phương: Đất vườn có đất ở cùng thửa
giá bình quân là: 7.000.000đồng/1m
2
.
- Hội đồng định giá nhất trí biểu quyết giá đất vườn trong thửa đất ở là:
+ Vị trí 1 (từ ranh giới cấp giấy giáp đường tỉnh lộ vào thửa đất 20m) có giá
là 1.000.000đồng/1m
2
(cả nhà cấp 4) x diện tích 270m
2
= 270.000.000đồng.
+ Vị trí 2: Giáp vị trí 1 vào sâu 20m của thửa đất có giá 600.000đồng/1m
2
x
(có nhà công trình phụ) diện tích 491m
2
= 294.600.000đồng.
+ Vị trí 3: Tiếp giáp vị trí 2 đến hết thửa đất có giá là 360.000đồng/1 m
2
x
613,6m
2
= 220.896.000đồng.
Tính bình quân là 571.436đồng/1m
2
đất vườn x 1374,6m
2
=
785.496.000đồng.Tổng giá trị thửa đất vườn là 785.496.000đồng.
Tại phiên Toà phúc thẩm, đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh B rút một
phần kháng nghị, đề nghị sửa án sơ thẩm, cụ Nguyễn Thị V là nguyên đơn vẫn giữ
nguyên yêu cầu khởi kiện và thay đổi yêu cầu kháng cáo, chỉ đề nghị xem xét lại
giá của thửa đất vườn, đồng ý trích trả bằng tiền cho bà Th, không đồng ý trả tiền
cho ông T, đề nghị xác định diện tích 120m
2
là tài sản chung của cụ và cụ Cđể chia
tài sản chung, chia thừa kế theo quy định của pháp luật; Người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Th thay đổi yêu cầu kháng cáo, đồng ý được nhận
bằng tiền và đề nghị trả cho bà giá trị tài sản bà được nhận bằng tiền theo giá của
hội đồng định giá đã định giá lại. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau
về giải quyết vụ án.
* Cụ Nguyễn Thị V trình bày: Yêu cầu xác định diện tích 120m
2
thuộc thửa
số 143 và diện tích 115,5m
2
mà vợ chồng ông T, bà T1 đã kiến thiết tài sản trên đất
là tài sản chung của vợ chồng cụ và con gái Nguyễn Thị Th để phân chia tài sản
chung và chia thừa kế tài sản theo quy định; Không đồng ý chia số tiền
293.346.256 đồng cho ông Nguyễn Mạnh T; Cụ đồng ý chia tài sản chung và chia
thừa kế bằng tiền cho chị Nguyễn Thị Th theo giá của Hội đồng định giá ngày
18/01/2022.
* Bà Nguyễn Thị Th trình bày:Yêu cầu xác định diện tích 120m
2
thuộc thửa
số 143 và diện tích 115,5 m
2
mà vợ chồng ông T đang quản lý, sử dụng là của cụ
V, cụ Cvà bà Nguyễn Thị Th để phân chia di sản thửa kế theo quy định; Yêu cầu
chia quyền sử dụng đất cho bà là thành viên trong hộ gia đình và chia thừa kế cho
bà và các anh trai là Nguyễn Minh H, Nguyễn Việt L và Nguyễn Việt Kh để lại
cho bà bằng đất để bà sử dụng, phần di sản thừa kế bà xin được nhận bằng tiền
theo giá của Hội đồng định giá ngày 18/01/2022, đề nghị sửa bản án sơ thẩm.
* Bị đơn là ông Nguyễn Mạnh T trình bày: Năm 2015 cụ Cường, cụ V có
cho thêm vợ chồng ông diện tích 120m
2
để vợ chồng ông xây nhà 02 tầng. Quá
trình ông, bà xây dựng nhà ở thì cụ Clà người chỉ mốc giới, đào múc móng nhà và
13
trông nom công trình xây dựng cho vợ chồng ông và cụ V có qua lại cùng giúp đỡ
công việc xây dựng nhà ở, diện tích 120m
2
có mặt tiền là 3,9m, hiện nay ông đang
quản lý sử dụng, thực tế đất đã có ranh giới, khuôn viên rõ ràng, được bố mẹ cho,
nên ông đã xây dựng tài sản trên đất, không có tranh chấp với hộ liền kề nào, còn
diện tích 115,5m
2
ông đã kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và xây
dựng nên ông không đồng ý với yêu cầu đòi và chia diện tích 120m
2
và diện tích
115,5m
2
của cụ V.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh B phát biểu ý kiến: Việc tuân theo
pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm của
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng
dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được
đảm bảo đúng quy định của pháp luật, bà T1, chị D, cụ Hải, cụ Thu, cụ Ngọc, cụ
Việt Anh, Ủy ban nhân dân xã Việt Ng, Ủy ban nhân dân huyện Tân Y, Ngân hàng
nông nghiệp và phát triển huyện Tân Y vắng mặt không có lý do.
Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố
tụng dân sự xử: chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh B, chấp
nhận một phần kháng cáo của cụ V, bà Th, sửa án sơ thẩm xử: Đề nghị giải quyết
diện tích 120m
2
tại thửa số 143 là của cụ V và cụ Cường, giải quyết phân chia ½
giá trị tài sản của cụ Cvà phân chia thừa kế, tính giá trị 571.436đồng/1 m
2
đất
vườn, giao cho ông T được quản lý, sử dụng phần diện tích 120m
2
đất này và ông
T phải có nghĩa vụ trích trả cụ V và các đồng thửa kế khác bằng tiền; Phần diện
tích đất 115,5m
2
đất vườn ông T, bà T1 đã xây dựng nhà kiên cố, nên xác định cụ
Cường, cụ V đã cho ông T nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo đòi
lại diện tích 115,5m
2
của cụ V, bà Th; Viện kiểm sát xin rút nội dung kháng nghị
về việc phân chia di sản bằng đất do các đương sự rút yêu cầu kháng cáo và thống
nhất được với nhau về việc trả bằng tiền.
- Về án phí: Do sửa án sơ thẩm nên các đương sự không phải chịu án phí
dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra
tại phiên tòa, ý kiến tranh luận tại phiên toà. Sau khi nghe ý kiến phát biểu của đại
diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh B. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Bị đơn là bà Nguyễn Thị T1; người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan là chị D, bà H1, bà Th1, bà Ng, ông Việt Anh, Ủy ban nhân dân xã Việt
Ng, Ủy ban nhân dân huyện Tân Y, Ngân hàng nông nghiệp và phát triển huyện
Tân Y đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy, những
người này đã được triệu tập hợp lệ và không liên quan đến việc xét kháng cáo,
kháng nghị căn cứ khoản 2 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các
đương sự.
[2]. Về nội dung:
14
[2.1]. Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh B, kháng cáo của cụ
V, bà Th về việc đề sửa bản án sơ thẩm, Hội đồng xét xử xét thấy:
- Về nội dung kháng nghị, kháng cáo: Đề nghị xác định thửa đất 143 diện
tích 120m
2
là tài sản chung của cụ Cường, cụ V, chia tài sản chung, chia thừa kế
theo quy định. Việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định phần diện tích đất 120m
2
tại thửa
143 đã được cụ Cường, cụ V định đoạt khi cụ Ccòn sống và xử bác yêu cầu này
của cụ V là không có căn cứ, không đảm bảo quyền lợi của cụ V, Hội đồng xét xử
xét thấy:
Năm 2007 cụ Cường, cụ V lập hợp đồng tặng cho ông L, ông Kh, ông H đất.
Theo sơ đồ đất có trong hồ sơ cụ Cường, cụ V tặng cho các con đất thì đất của cụ
Cường, cụ V có chiều rộng mặt đường là 48m. Giữa phần đất của ông H được tặng
cho với đất của ông T còn một phần đất của cụ Cường, cụ V có chiều rộng mặt
đường là 3,9m. Ông T có lời khai thừa nhận, ông có tham gia cùng cụ Cđo đạc,
cắm mốc ranh giới làm thủ tục tặng cho ông H đất, nên có cơ sở để xác định ông T
đã thừa nhận phần đất này là của cụ Cường. Theo bản đồ đo đạc năm 2011, phần
đất giữa đất ông H và ông T là thửa số 143 diện tích 120m
2
và thửa đất này được
mang tên cụ Cường. Ông T không dẫn đạc, không được xác định thửa đất 143 là
của ông T. Ông T không có tài liệu chứng cứ bằng văn bản chứng minh được cụ
Cường, cụ V cho thửa đất số 143. Ông T không được cấp GCNQSDĐ đối với thửa
đất 143. Thửa đất của nhà ông T là thửa số 144 có diện tích 800,8m
2
là đã tăng hơn
so với GCNQSDĐ đã được cấp năm 1994 là 440,8m
2
. Tại hợp đồng thế chấp tài
sản ngày 01/11/2018 của ông T và bà T1 cho Ngân hàng đã ghi tài sản thế chấp là
thửa số 191, diện tích 360m
2
(nay là thửa 144, tờ bản đồ số 6) cho Ngân hàng. Nên
có cơ sở xác định ông T đã thừa nhận thửa đất ông được cấp GCNQSDĐ năm
1994 nay chỉ là thửa 144, tờ bản đồ số 6, không bao gồm thửa 143, diện tích còn
lại sau khi cho các con thì hiện tại cụ V đang sử dụng thiếu 116m
2
đất so với Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất ban đầu được cấp. Nên có cơ sở xác định thửa đất
143 diện tích 120m
2
là tài sản chung của cụ Cường, cụ V. Cụ V yêu cầu chia tài
sản chung, chia thừa kế di sản của cụ Cphần diện tích này là có căn cứ. Tòa án cấp
sơ thẩm xác định phần diện tích đất 120m
2
tại thửa 143 đã được cụ Cường, cụ V
định đoạt khi cụ Ccòn sống và áp dụng án lệ số 03/2016 của Hội đồng thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao để bác yêu cầu này của cụ V là không có căn cứ, không
đảm bảo quyền lợi cho cụ V và các đồng thừa kế khác. Tại phiên tòa phúc thẩm cụ
V, ông T và các đương sự khác đều thống nhất thửa đất 120m
2
là đất vườn và trị
giá 571.436đồng/1m
2
.
Vậy, giá trị thửa đất 143, diện tích 120m
2
có trị giá là: 120m
2
x 571.436đồng
= 68.572.320đồng. Do vậy, cần chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân
tỉnh B và kháng cáo của cụ V, bà Th về nội dung này.
- Đối với kháng cáo của cụ V đòi lại diện tích 115,5m
2
, Hội đồng xét xử xét
thấy: Ông T đã xây dựng công trình kiên cố nhà 02 tầng là 66,6 + 39,5 + 9,4 =
115,5 m
2
trên phần diện tích 115,5m
2
và đã được vợ chồng cụ V, cụ Cđịnh đoạt khi
15
cụ Ccòn sống nên không còn là di sản thừa kế nên không chấp nhận yêu cầu kháng
cáo này của cụ V.
- Về nội dung kháng nghị, kháng cáo về việc phân chia di sản: Đề nghị giải
quyết phân chia cho ông T, bà Th được hưởng phần tài sản bằng đất, Hội đồng xét
xử xét thấy: Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện Viện kiểm sát, cụ V, bà Th đều rút
kháng cáo, kháng nghị về việc đề nghị chia di sản bằng đất, các bên đồng ý nhận
giá trị tài sản bằng tiền. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết nội
dung kháng cáo này.
- Đối với nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát, kháng cáo của cụ V, bà Th
về việc hội đồng định giá đất vườn giữa hai lần định giá có sự chênh lệch quá lớn
về đơn giá; Hội đồng định giá chỉ căn cứ Quyết định số 1025/QĐ-UBND ngày
30/12/2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh B về việc ban hành bảng giá đất giai đoạn
2021-2024; Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ để định
giá, không định giá theo giá thực tế chuyển nhượng tại địa phương và xác định giá
đất vườn các đương sự yêu cầu giải quyết là 1.000.000đồng/m
2
và phân chia là
không có căn cứ, Hội đồng xét xử xét thấy: Tại cấp phúc thẩm, Tòa án đã thành lập
hội đồng định giá để định giá lại đối với giá của thửa đất vườn, giá trị thửa đất
vườn đã thay đổi tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đồng ý với việc định giá lại,
cụ V, bà Th đồng ý với giá mà hội đồng định giá đã định giá lại, nên cần sửa án sơ
thẩm về giá của thửa đất vườn.
Ghi nhận sự tự nguyện của bà Ng, bà Th1, bà H1, ông Việt Anh thống nhất
cho ông Nguyễn Mạnh T được nhận kỷ phần của cố Ninh và cho ông T kỷ phần di
sản được hưởng này.
Ghi nhận sự tự nguyện của ông H, ông Kh, ông L cho bà Th kỷ phần di sản
được hưởng này.
- Đối với nội dung kháng cáo của cụ V không đồng ý trả số tiền 293.346.256
đồng cho ông Nguyễn Mạnh T, Hội đồng xét xử xét thấy: Ông T là người thuộc
hàng thừa kế thứ nhất của cụ Cường, ông T được nhận 02 kỷ phần và Tòa án cấp
sơ thẩm đã giao cho cụ V được quản lý sử dụng toàn bộ di sản thửa kế và buộc cụ
V có trách nhiệm trả bằng tiền cho ông T là có căn cứ, nên không chấp nhận yêu
cầu kháng cáo này của cụ V.
[2.2]. Do yêu cầu kháng cáo của cụ V, kháng nghị của Viện kiểm sát về phần
diện tích đất 120m
2
được chấp nhận và giá trị của thửa đất vườn có thay đổi nên giá
trị tài sản được tính lại như sau:
- Tổng diện tích còn lại của cụ V, cụ Clà 1.464,6 m
2
+ 120m
2
= 1.584,6m
2
.
Các đương sự đều thừa nhận đến nay diện tích đất 1.464,6 m
2
và tài sản trên đất
vẫn đang do cụ V quản lý sử dụng từ sau khi cụ Cchết ngày 10/10/2017, diện tích
120m
2
do ông T, bà T1 quản lý sử dụng, do cụ Cchết không để lại di chúc nên
trong diện tích 1.584,6 m
2
chưa được các đồng thừa kế phân chia nên xác định ½
diện tích đất 1.584,6 m
2
là di sản do cụ Cđể lại. Trong khối tài sản chung có ½ tài
sản chung là của cụ V còn lại ½ là di sản do cụ Cđể lại có diện tích đất là
1.584,6m
2
: 2 = 792,3 m
2
. Như vậy xác định di sản là quyền sử dụng đất mà cụ
16
Nguyễn Văn Cđể lại có diện tích là 792,3 m
2
đất (trong đó có 45m
2
đất ở và
747,3m
2
đất vườn). Diện tích đất này chưa chia thừa kế, nên xét yêu cầu khởi kiện
của cụ V về việc phân chia tài sản chung cho cụ là 1/2 diện tích đất và tài sản gắn
liền trên đất, chia thừa kế phần di sản của chồng cụ cho cụ và các con theo quy
định của pháp luật và đề nghị của đại diện viện kiểm sát là có cơ sở chấp nhận.
- Giá đất ở tại thửa 191, tờ bản đồ số 4. Địa chỉ tại thôn An Lạc, xã Việt Ng,
huyện Tân Y, tỉnh B là 6.000.000 đồng/m
2
.
- Giá đất vườn tại thửa 191, tờ bản đồ số 4. Địa chỉ tại thôn An Lạc, xã Việt
Ng, huyện Tân Y, tỉnh B là 571.436đồng/m
2
.
Như vậy giá trị quyền sử dụng đất như sau:
Đất ở: 90m
2
đất ở x 6.000.000 đồng/m
2
= 540.000.000 đồng;
Đất vườn: 1.494,6 m
2
đất vườn x 571.436đồng/m
2
= 854.068.245đồng;
Tổng cộng là 1.394.068.245đồng.
* Đối với các tài sản gắn liền trên đất:
Về tài sản gắn liền trên diện tích đất cụ V đang quản lý sử dụng theo kết quả
định giá tài sản ngày 21/7/2020 và ngày 06/9/2021 gồm:01 nhà ở cấp bốn 04 có
diện tích 69,2 m
2
giá trị giá 84.078.000 đồng; 01 gian bếp diện tích 8,99 m
2
trị giá
2.877.000 đồng; Khu chăn nuôi diện tích 29,4m
2
trị giá: 9.996.000 đồng; 01 nhà
tắm diện tích 5,4 m
2
trị giá: 17.350.000 đồng; Mái tôn diện tích 42m
2
trị giá.
9.450.000 đồng; Sân bê tông diện tích 89,6 m
2
trị giá 6.272.000 đồng; Tường bao
phía trước và sau, tường hoa trị giá: 14.079.000đồng.Cây cối lâm lộc trên đất: 15
cây bưởi có đường kính gốc từ 5 cm đến 7 cm có giá 9.345.000 đồng; 08 khóm
chuối có giá 688.800 đồng; 03 cây na đường kính gốc 10cm có giá 2.463.000
đồng; cổng sắt trị giá là 1.008.000 đồng. Tổng cộng 157.606.800 đồng.Nhưng
trong đó có 01 mái tôn diện tích 42m
2
trị giá 9.450.000 đồng và 15 cây bưởi có
đường kính gốc từ 5 cm đến 7 cm có giá 9.345.000 đồng là tài sản phát sinh sau
khi cụ Cchết, do cụ V làm và trồng nên xác định là tài riêng của cụ V. Vì vậy, cần
trừ đi giá trị của 02 tài sản này 157.606.800 đồng - 9.450.000 đồng - 9.345.000
đồng = 138.811.800 đồng.
Như vậy, xác định tổng giá trị tài sản chung của vợ chồng cụ Cường, cụ V
là: 1.394.068.245đồng+ 138.811.800 đồng = 1.532.880.045 đồng.
Trong đó ½ là tài sản của cụ V, còn lại ½ là di sản cụ Cđể lại.
Đối với các cây cối lâm lộc trên phần diện tích đất ở phía sau thì các đương
sự đều không ai có ý kiến và đề nghị xem xét chia các cây cối, lâm lộc, các cỏ dại
trên đất phía sau. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết trong vụ
án này.
Ngoài ra, các đương sự trong vụ án không ai đề nghị xem xét việc thanh
toán tiền mai táng phí và các yêu cầu khác nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem
xét.
Theo quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử thấy nếu trong thời gian quản lý
di sản, người quản lý giữ gìn, làm tăng giá trị của di sản như sửa chữa nhà, bồi đắp
nền đất, trồng cây chống xói mòn … thì có thể tính công sức đối với họ. Trong vụ

17
án này, cụ V không yêu cầu xem xét thanh toán công sức bảo quản, gìn giữ di sản
đối với thửa đất trên nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Trong tổng diện tích đất này có ½ tài sản là của cụ V còn lại ½ là di sản do
cụ Cđể lại có diện tích đất là 1.584,6 m
2
: 2 = 792,3m
2
(trong đó đất ở 45m
2
/7 =
6,428m
2
/1 kỷ phần và đất vườn 747,3m
2
/7 = 106,7m
2
/1 kỷ phần) chia cho các
đồng thừa kế.
- Cụ Nguyễn Thị V được nhận là: ½ giá trị tài sản của cụ V là 792,3m
2
(trong
đó có 45m
2
đất ở và 747,3m
2
đất vườn) và 01 kỷ phần do được thừa kế của cụ
C113,128m
2
(trong đó có 6,428m
2
đất ở và 106,7m
2
đất vườn), tổng diện tích
905,428m
2
(trong đó có 51,428m
2
đất ở và 854m
2
đất vườn), tương đương với giá
trị 796.574.344đồng(trong đó 308.568.000 đồng giá trị đất ở và 488.006.344 đồng
giá trị đất vườn).
- Ông Nguyễn Mạnh T được nhận 02 kỷ phần là: 226,256m
2
đất (trong đó có
12,856m
2
đất ở và 213,4m
2
đất vườn, tương đương với giá trị 199.080.000đồng
(trong đó 77.136.000 đồng giá trị đất ở và 121.944.000 đồng giá trị đất vườn).
- Bà Nguyễn Thị Th được nhận 04 kỷ phần là: 450,51m
2
đất (trong đó có
25,71m
2
đất ở và 426,8m
2
đất vườn), tương đương với giá trị 398.148.884đồng.
(trong đó 154.260.000 đồng giá trị đất ở và 243.888.884đồng giá trị đất vườn).
* Tài sản trên đất: 138.811.800: 2= 69.405.900đồng. Phần của cụ Cphân
chia là 7 là 9.915.128đồng/1 phần. Vậy cụ V được hưởng giá trị tài sản trên đất là
79.320.928 đồng, ông T được hưởng là 19.830.256 đồng, bà Th được hưởng là
39.660.512 đồng.
Như vậy, tổng giá trị tài sản mà các đương sự được nhận trong vụ án là:
- Cụ V: 796.574.344đồng(giá trị đất) + 79.320.928 đồng (giá trị tài sản trên
đất) = 875.895.272đồng.
- Ông T: 199.080.000đồng (giá trị đất) + 19.830.256 đồng (giá trị tài sản trên
đất) = 218.910.256đồng.
- Bà Th: 398.148.884đồng (giá trị đất) + 39.660.512 đồng (giá trị tài sản trên
đất) = 437.809.396đồng.
Do trên diện tích 1.464,6 m
2
đất hiện còn có 01 nhà ở cấp bốn; 01 nhà bếp,
nhà tắm, công trình phụ nằm phía cổng chính đi vào, nếu chia di sản của cụ Cđể lại
là diện tích 792,3 m
2
đất làm 07 kỷ phần bằng nhau và bằng hiện vật thì các công
trình này bị chia cắt, nhà ở, nhà tắm, nhà bếp, công trình phụ, sẽ mất giá trị sử
dụng, để tránh lãng phí tài sản cho công dân, xã hội đảm bảo được giá trị sử dụng,
cụ V không có nơi ở nào khác và là người đang trực tiếp sinh sống, quản lý, sử
dụng đất và các tài sản trên đất còn các đồng thừa kế khác đều đã có nhà, đất làm
nơi ở ổn định nên nhu cầu về nhà ở không phải là vấn đề cấp thiết, tại phiên tòa
phúc thẩm, cụ V và bà Th có kháng cáo cũng nhất trí giao cho cụ V nhận bằng hiện
vật và cụ V trích chia giá trị tài sản bằng tiền cho bà Th. Do vậy HĐXX thấy cần
giao toàn bộ diện tích đất và các tài sản gắn liền với đất cho cụ Nguyễn Thị V nhận
quản lý, sử dụng khối di sản trên và buộc cụ V có nghĩa vụ trích chia giá trị tương
ứng của kỷ phần di sản bằng tiền cho ông T, bà Th là phù hợp
18
Đối với diện tích 29,6m
2
đất khi đo đạc nằm trong hành lang giao thông tại
thửa số 191, tờ bản đồ số 04 (bản đồ giải thửa năm 1992) nay là thửa 245, tờ bản
đồ số 06 (bản đồ giải thửa năm 2011). Địa chỉ thửa đất: thôn An Lạc, xã Việt Ng,
huyện Tân Y, tỉnh B cần tạm giao cho cụ Nguyễn Thị V quản lý, sử dụng nhưng
hạn chế xây dựng công trình kiên cố trên đất.
[2.3]. Phần diện tích 120m
2
tại thửa 43 do ông T đang quản lý sử dụng và
xây dựng tài sản kiên cố trên đất nên cần giao cho ông T quản lý, sử dụng, nhưng
ông T phải có nghĩa vụ trích trả giá trị bằng tiền cho cụ V và các đồng thừa kế. Do
cụ V phải có nghĩa vụ trích trả ông T số tiền 218.910.256đồng, ông T quản lý sử
dụng toàn bộ diện tích 120m
2
đất tại thửa 43 nên ông T phải trả cho cụ V giá trị thửa
đất bằng tiền là 68.572.320đồng (218.910.256đồng - 68.572.320đồng=
150.337.936 đồng), nên cụ V còn phải trích trả ông T số tiền 150.337.936 đồng.
[3]. Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308
Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận một phần kháng cáo của cụ V, bà Th, chấp nhận
kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh B, sửa bản án sơ thẩm.
[4]. Về án phí:
- Anh ông T, bà Th được nhận di sản thửa kế nên ông T, bà Th phải chịu án
phí dân sự sơ thẩm đối với phần mình được chia.
- Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho cụ V.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Do sửa án sơ thẩm, các đương sự không phải
chịu án phí dân sự phúc thâm.
[5].Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Nguyễn Thị Th, cụ Nguyễn Thị V và
chấp nhậnkháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh B. Sửa bản án sơ thẩm. Xử:
Căn cứ vào khoản 5 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 147; khoản 2
Điều 157; Điều 165; Điều 166; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Khoản 1 Điều 273
của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 213; Điều 219; Khoản 2 Điều 468; Điều 609; Điều 610;
Điều 611; Điều 612; Điều 613; Điều 614; Điều 623; Điều 649; Điều 650; Điều
651; Điều 652; Điều 660 Bộ luật dân sự;
Khoản 2 Điều 66 Luật Hôn nhân và gia đình;
Khoản 29 Điều 3; Điều 100; khoản 1 Điều 166 Luật Đất đai;
Căn cứ vào Điều 4 Nghị quyết số: 02/2016/NQ-HĐTP ngày 30/6/2016 của
Hội đồng thẩm phán TANDTC.
Mục 1 phần II Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

19
Điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
[1] .Về yêu cầu khởi kiện:
1.1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của cụ Nguyễn Thị V về yêu cầu
chia tài sản chung và chia thừa kế đối với phần di sản của cụ Nguyễn Văn Ctheo
quy định của pháp luật.
1.2. Không chấp nhận chia tài sản chung và chia thừa kế của cụ Nguyễn Thị
V đối với diện tích đất 115,5m
2
cùng toàn bộ các tài sản gắn liền trên các diện tích
đất trên (do ông T, bà T1 đang quản lý, sử dụng). Địa chỉ thửa đất: thôn An Lạc, xã
Việt Ng, huyện Tân Y, tỉnh B.
1.3. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của cụ Nguyễn Thị V yêu cầu chia tài sản
chung và chia thừa kế phần di sản của cụ Nguyễn Văn Cđối với diện tích 120m
2
thửa đất số 143. Địa chỉ thửa đất: thôn An Lạc, xã Việt Ng, huyện Tân Y, tỉnh B.
- Công nhận sự tự nguyện tặng cho kỉ phần thừa kế tài sản giữa ông Nguyễn
Mạnh T và ông Nguyễn Việt A, bà Nguyễn Thị Ng, bà Nguyễn Thị Th1, bà
Nguyễn Thị H1.
- Công nhận sự tự nguyện tặng cho kỉ phần thừa kế tài sản giữa bà Nguyễn
Thị Th và ông Nguyễn Minh H, ông Nguyễn Việt Kh, ông Nguyễn Việt L.
- Chia và giao cho cụ Nguyễn Thị V quản lý, sử dụng toàn bộ diện tích
1.464,6 m
2
đất (trong đó 90 m
2
đất ở và 1.374,6 m
2
đất vườn ) tại thửa số 191, tờ
bản đồ số 04 (bản đồ giải thửa năm 1992) nay là thửa 245, tờ bản đồ số 06 (bản đồ
giải thửa năm 2011). Địa chỉ thửa đất: thôn An Lạc, xã Việt Ng, huyện Tân Y, tỉnh
B (có trích sơ đồ hiện trạng thửa đất kèm theo).
- Chia và giao cho cụ Nguyễn Thị V quản lý sử dụng các tài sản trên phần
diện tích đất được giao gồm: 01 nhà ở cấp bốn 04; 01 gian bếp; khu chăn nuôi; 01
nhà tắm; Sân bê tông; Tường bao phía trước và sau, tường hoa; 08 khóm chuối; 03
cây na; cánh cổng sắt, tổng giá trị 138.811.800 đồng.
- Tạm giao cho cụ Nguyễn Thị V quản lý diện tích 29,6m
2
đất nằm trong
hành lang giao thông tại tại thửa số 191, tờ bản đồ số 04 (bản đồ giải thửa năm
1992) nay là thửa 245, tờ bản đồ số 06 (bản đồ giải thửa năm 2011). Địa chỉ thửa
đất: thôn An Lạc, xã Việt Ng, huyện Tân Y, tỉnh B nhưng hạn chế cụ Nguyễn Thị
V xây dựng công trình kiên cố trên đất.
- Chia và giao cho ông Nguyễn Mạnh T quản lý, sử dụng đối với diện tích
120m
2
thửa đất số 143 cùng toàn bộ các tài sản gắn liền trên diện tích 120m
2
đất
trên (do ông T, bà T1 đang quản lý sử dụng). Địa chỉ thửa đất thôn An Lạc, xã Việt
Ng, huyện Tân Y, tỉnh B.
- Buộc cụ V trích chia cho ông T số tiền 150.337.936 đồng (một trăm năm
mươi triệu, ba trăm ba bẩy nghìn, chín trăm ba sáu đồng).
- Buộc cụ V phải trích chia cho bà Nguyễn Thị Th số tiền 437.809.396đồng
(Bốn trăm ba mươi bẩy triệu, tám trăm linh chín nghìn, ba trăm chín sáu đồng).
- Cụ Nguyễn Thị V có quyền, nghĩa vụ liên hệ với Cơ quan có thẩm quyền
đăng ký, kê khai sự thay đổi, biến động đối với thửa đất số 191, tờ bản đồ số 04

20
(bản đồ giải thửa năm 1992) nay là thửa 245, tờ bản đồ số 06 (bản đồ giải thửa
năm 2011), hiện trạng diện tích theo kết quả đo đạc là 1.464,6 m
2
đất (trong đó đất
ở 90 m
2
; đất vườn 1.374,6 m
2
) và 29.6 m
2
đất hành lang giao thông. Địa chỉ thửa
đất: thôn An Lạc, xã Việt Ng, huyện Tân Y, tỉnh B(có trích sơ đồ hiện trạng thửa
đất kèm theo).
- Ông Nguyễn Mạnh T có quyền, nghĩa vụ liên hệ với Cơ quan có thẩm
quyền đăng ký, kê khai sự thay đổi, biến động đối với thửa đất số 143, diện tích
120m
2
. Địa chỉ thửa đất: thôn An Lạc, xã Việt Ng, huyện Tân Y, tỉnh B. (có trích
sơ đồ hiện trạng thửa đất kèm theo).
[2]. Về chi phí định giá lại tài sản là thửa đất vườn:
Buộc cụ V, bà Th, ông T mỗi người phải chịu 1.566.666đồng chi phí định
giá lại tài sản. Xác nhận cụ V đã nộp đủ số tiền trên.
Buộc ông T phải trả cho cụ V 1.566.666đồng.
Buộc bà Th phải trả cho cụ V số tiền Vấn 1.566.666đồng.
[3]. Về lãi suất chậm thi hành án: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án
của người được thi hành án đối với khoản tiền được trả cho người được thi hành án
cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành
án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất
quy định khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chưa thi
hành án.
[4]. Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm:
+ Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho cụ Nguyễn Thị V.
+ Ông Nguyễn Mạnh T phải chịu 10.945.512 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
+ Bà Nguyễn Thị Th phải chịu 21.512.375đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Án phí dân sự phúc thẩm:
Các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
[5]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.
[6]. Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành
theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự,
người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi
hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các
Điều 6; 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện
theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
- TAND huyện Tân Y;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh B;
- Chi cục THADS huyện Tân Y;
- Các đương sự;
21
- Cồng thông tin điện tử của TAND Tối cao
- Lưu hồ sơ vụ án.
Trần Thị Hà
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Thị Minh Hiền Hoàng Thị Hải Hường Trần Thị Hà
22
23
24
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 26/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 21/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm