Bản án số 169/2022/KDTM-PT ngày 14/04/2022 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng bảo hiểm

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 169/2022/KDTM-PT

Tên Bản án: Bản án số 169/2022/KDTM-PT ngày 14/04/2022 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng bảo hiểm
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 169/2022/KDTM-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 14/04/2022
Lĩnh vực: Kinh doanh thương mại
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán tiền bảo hiểm cho lô hàng bị mất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Thanh Nhàn
Các Thẩm phán: Hà Thanh Thủy
Trương Thị Thảo
- Thư ký phiên tòa: Võ Thu Phương
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên a:
Nguyễn Thị Thu Hà Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 4 m 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh
xét xử phúc thẩm công khai vụ án về kinh doanh thương mại thụ lý số: 59/2021/TLPT-
KDTM ngày 06 tháng 8 năm 2021 về “Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm”.
Do Bản án kinh doanh thương mại thẩm số 21/2021/KDTM-ST ngày 26
tháng 5 năm 2021 của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng
cáo và kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 1020/2022/QĐXX-PT ngày
22 tháng 3 năm 2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty cổ phần Thế Giới S; địa chỉ: Số 195-197 B, Phường B,
Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh (địa chỉ cũ: 201-203 T, Phường B, Quận B1, Thành
phố Hồ Chí Minh
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Q (hợp đồng ủy quyền ngày
30/7/2020)
Bị đơn: Tổng Công ty cổ phần Bảo hiểm Đ; địa chỉ: Tầng 6, Số 21 L, quận Đ,
Thành phố Hà Nội
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hoàng H, sinh năm 1974 (Văn bản
ủy quyền ngày 25/4/2021)
Người kháng cáo: Tổng Công ty cổ phần Bảo hiểm Đ;
Người kháng nghị: Vin trưng vin kim sát nhân dân Qun 10.
(Các đương scó mt ti phiên tòa)
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 169/2022/KDTM-PT
Ngày: 14/4/2022
V/v tranh chấp hợp đồng bảo hiểm
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHNGA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 07/11/2019 đơn khởi kiện bổ sung ngày 30/7/2020
của nguyên đơn Công ty cổ phần Thế Giới S cùng lời khai trình bày của người đại
diện theo ủy quyền:
Công ty cổ phần Thế Giới S (gọi tắt Công ty S) mua bảo hiểm hàng hóa
xuất nhập khẩu của ng ty Cổ phần Bảo hiểm M Thành phố Hồ CMinh trực thuộc
Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Đ (gọi tắt Công ty Bảo hiểm M). Hai bên
với nhau hợp đồng nguyên tắc bảo hiểm ng hóa xuất nhập khẩu số 01/18/GCN-
HH/MIC HCM-DGW ngày 30/01/2018 (gọi tắt “hợp đồng bảo hiểm”). Đính kèm
Điều khoản bảo hiểm hàng hóa vận chuyển đường biển”, điều kiện do Tổng Giám
đốc Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Đ ban hành theo Quyết định số 03/2016/QĐ-
MIC ngày 01/01/2016 Điều khoản bảo hiểm hàng hóa vận chuyển đường hàng
khôngdo Tổng Giám đốc Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Đ ban hành theo quyết
định số 08/2016/QĐ-MIC ngày 01/01/2016 (gọi tắt là “điều kiện bảo hiểm”).
- Từ tháng 3/2018 đến tháng 5/2018, Công ty cổ phần Thế Giới S xảy ra các tổn
thất mất tài sản đối với các hàng hóa như sau:
1. Ngày 02/3/2018, nhân viên giao nhận hàng của Công ty cphần Thế Giới S
ông Đoàn Ngọc D đến kho hàng của Cảng n bay quốc tế Tân Sơn Nhất (gọi tắt
“Kho SCSC”) nhận các lô hàng Xiaomi được gửi từ Hồng Kông vận chuyển về kho
của Công ty cổ phần Thế Giới S tại địa chỉ số 512A P, Quận B, Thành phố Hồ C
Minh. Đến 08 giờ 30 phút sáng ngày 03/3/2018, bộ phận kho tiến hành kiểm tra hàng
thực tế thì phát hiện một số thùng của vận đơn số 1075926 không n seal của Xiaomi
mất tài sản nên ngay lập tức dừng kiểm tra liên hệ với Công ty Bảo hiểm M
Thành phố Hồ Chí Minh để yêu cầu giám định tổn thất ngay tại kho. Nhưng do rơi vào
ngày thứ bảy nên giám định viên của Công ty Bảo hiểm M ông Đinh Văn H hẹn thứ
hai, ngày 05/3/2018 sẽ xuống kho giám định.
Đến ngày 05/3/2018, giám định viên của Công ty Bảo hiểm M ông Đinh Văn
H đến giám định phát hiện mất tài sản, các bên cùng lập biên bản giám định ngày
05/3/2018 ghi nhận số lượng hàng hóa bị mất 60 cái điện thoại di động Redmi
5A32GB màu vàng 20 cái điện thoại di động Redmi 5A32GB màu đen, giá trị
115 USD/cái. Tổng giá trị hàng hóa bị mất là 9.200 USD.
Các hàng hóa bị mất này đã được cấp đơn bảo hiểm (Cargo Insurance Policy) số
192/18/GCN-HH.2.1/001-KD1 ngày 28/02/2018.
2. Ngày 14/3/2018, nhân viên giao nhận hàng của Công ty cổ phần Thế Giới S
ông Đoàn Ngọc D đến kho SCSC để nhận các hàng điện thoại Xiaomi có số vận
đơn 1076328 1076330 thì nhận được thông báo của kho SCSC về việc các
hàng này dấu hiệu bất thường nhận được các biên bản ng hóa bất thường của
kho SCSC. Nhận thấy các lô hàng không còn nguyên đai, nguyên kiện; có dấu hiệu bất
thường: Bị p, dập, rách; Công ty cphần Thế Giới S đã ngay lập tức thông báo cho
Công ty Bảo hiểm M Thành phố Hồ Chí Minh về tình hình hàng hóa đề nghị cử
giám định viên xuống kho SCSC để giám định. Các giám định viên ông Đinh Văn H
và ông Phạm Quang S đã xuống kho SCSC để thực hiện việc giám định.
3
- Đối với hàng số vận đơn 1076328: Qtrình giám định tại kho SCSC t
các bên không phát hiện mất tài sản. Các bên cùng lập và tên vào biên bản giám
định ngày 14/3/2018.
- Đối với hàng số vận đơn 1076330: Qtrình giám định thì phát hiện mất
tài sản nên đã lập biên bản giám định ngày 14/3/2018. Cụ thể số ợng mất 30 cái
điện thoại di động Xiaomi Mi Mix (MDE5) 64GB màu đen, giá trị 393 USD/cái.
Tổng giá trị hàng hóa bị mất là 11.790 USD.
Sau khi kết thúc giám định, nhân viên giao nhận hàng của Công ty cổ phần Thế
Giới S thực hiện các thủ tục Hải quan, ký nhận hàng theo quy định vận chuyển
hàng về kho của Công ty.
Tuy nhiên, đến sáng ngày 15/3/2018, khi tiến hành kiểm tra hàng hóa thì nhân
viên kiểm hàng của Công ty cổ phần Thế Giới S phát hiện 01 thùng của vận đơn
1076328 dấu hiệu bất thường nên ngưng việc kiểm tra thông báo cho Công ty
Bảo hiểm M Thành phHồ Chí Minh cử giám định viên đến để cùng giám định, kiểm
tra thực tế. Sau đó, giám định viên của Công ty Bảo hiểm M là ông Đinh Văn H và
ông Phạm Quang S tiếp tục xuống giám định phát hiện mất tài sản theo biên bản
giám định ngày 15/3/2018. Cụ thể số lượng mất 02 điện thoại di động Xiaomi
Redmi 5A (MCG3B) 16GB màu xám đen, có giá trị 73 USD/cái. Tổng giá trị hàng hóa
bị mất là 146 USD.
Các hàng hóa bị mất này đã được cấp đơn bảo hiểm (Cargo Insurance Policy) số
230/18/GCN-HH.2.1/001-KD1 và số 232/18/GCN-HH.2.1/001-KD1 ngày 13/03/2018.
Công ty cổ phần Thế Giới S đã thanh toán phí bảo hiểm của đơn này vào ngày
16/3/2018 và ngày 19/3/2018.
3. Ngày 13/4/2018, nhân viên giao nhận hàng của Công ty cổ phần Thế Giới S
ông Đoàn Ngọc D đến kho SCSC để nhận các hàng điện thoại Xiaomi có số vận
đơn là 1077015; 1077016; 1077017; 1077018; 1077019; 1077020 thì nhận được thông
báo của kho SCSC về việc hàng số vận đơn 1077015 có dấu hiệu bất thường
nhận được biên bản hàng hóa bất thường của kho SCSC tại kho SCSC. Nhận thấy
các hàng không còn nguyên đai, nguyên kiện; dấu hiệu bất thường: Bị móp, dập,
rách; ng ty cổ phần Thế Giới S đã ngay lập tức thông báo chong ty Bảo hiểm M
Thành phố Hồ CMinh về tình hình các hàng đề nghị giám định viên của Công ty
Bảo hiểm M xuống kho SCSC để giám định.
Sau đó, các giám định viên của Công ty Bảo hiểm M ông Đinh Văn H ông
Phạm Quang S cùng với đại diện đơn vị vận chuyển ông Nguyễn Tường Nh; đại
diện kho hàng SCSC ông Nguyễn Hoài Q ông Đoàn Ngọc D tiến hành kiểm tra,
giám định lô hàng có dấu hiệu bất thường.
Đối với vận đơn số 1077015: phát hiện bị mất 40 điện thoại di động Xiaomi
Redmi 5 Plus 64GB đen (MEG7), giá trị 150,9 USD/cái. Tổng giá trị hàng hóa bị
mất là 6.036 USD.
Cũng ngay tại kho SCSC, các bên cũng phát hiện vận đơn số 1077017 một số
dấu hiệu bất thường nên cùng tiến hành kiểm tra ngẫu nhiên thì phát hiện mất 06 điện
thoại di động Xiaomi Redmi 5 32GB, giá trị 115 USD/cái. Tổng giá trị hàng hóa bị
mất là 690 USD.
Sau đó, các bên đã lập biên bản giám định ngày 13/4/2018 ghi nhận việc mất tài
sản nêu trên đối với 02 vận đơn là 1077015 và 1077017.
4
Sau khi kết thúc giám định, nhân viên giao nhận hàng của Công ty cổ phần Thế
Giới S thực hiện các thủ tục Hải quan, ký nhận hàng theo quy định vận chuyển
hàng về kho của Công ty. Đến 08 giờ 30 phút sáng hôm sau, ngày 14/4/2018, các nhân
viên của Công ty cổ phần Thế Giới S tiến hành kiểm ng, khi kiểm đếm đến pallet
thứ 2/3 của bill 1077015 thì phát hiện hàng bị mất, không đúng với số lượng hàng ghi
ngoài pallet nên ngưng việc kiểm tra thông báo cho Công ty Bảo hiểm M cử giám
định viên đến để cùng kiểm tra thực tế, giám định tại kho của Công ty cổ phần Thế
Giới S. Giám định viên của Công ty Bảo hiểm M là ông Đinh Văn H đến giám định
phát hiện pallet 2/3 của vận đơn số 1077015 xảy ra mất tài sản các bên cùng lập
biên bản giám định ngày 14/4/2018 để ghi nhận việc mất tài sản. Cụ thể số ợng tài
sản mất 160 điện thoại di động Xiaomi Redmi 5 Plus 64GB đen (MEG7), giá trị
150,9 USD/cái. Tổng giá trị hàng hóa bị mất tại kho của Công ty DGW 24.144
USD.
Như vậy, tổng cộng vận đơn 1077015 bị mất tài sản tại kho SCSC kho của
Công ty cổ phần Thế Giới S là 30.180 USD.
Các hàng hóa bị mất này đã được cấp đơn bảo hiểm (Cargo Insurance Policy) số
370/18/GCN-HH.2.1/001-KD1 và số 368/18/GCN-HH.2.1/001-KD1 ngày 11/4/2018.
Công ty cổ phần Thế Giới S đã thanh toán phí bảo hiểm của đơn này vào ngày
25/5/2018.
4. Ngày 05/5/2018, nhân viên giao nhận hàng của Công ty cổ phần Thế Giới S
ông Đoàn Ngọc D đến kho SCSC để nhận các hàng điện thoại Xiaomi số vận
đơn 1077510, 1077511, 1077520, 1077486 thì nhận được thông o của kho SCSC
về việc lô hàng có số bill 1077511 có dấu hiệu bất thường và nhận được biên bản ng
hóa bất thường của kho SCSC. Nhận thấy các hàng không còn nguyên đai, nguyên
kiện; dấu hiệu bất thường: bị móp, dập, rách; Công ty cổ phần Thế Giới S đã thông
báo cho Công ty Bảo hiểm M về tình hình hàng hóa đề nghị giám định viên xuống
kho hàng SCSC để giám định.
Sau đó, giám định viên của Công ty Bảo hiểm M là ông Ngô Nguyên G đến giám
định và phát hiện mất tài sản. Các bên cùng lập biên bản giám định ngày 05/5/2018 để
ghi nhận toàn bộ việc mất tài sản. Cụ thể số ợng hàng hóa mất 01 điện thoại di
động Xiaomi Redmi Note 5 64GB, có giá trị là 175 USD.
Sau khi kết thúc giám định, nhân viên giao nhận hàng của Công ty cổ phần Thế
Giới S thực hiện các thủ tục hải quan, ký nhận hàng theo quy định vận chuyển hàng
về kho của Công ty.
Các hàng hóa bị mất này đã được cấp đơn bảo hiểm (Cargo Insurance Policy) số
429/18/GCN-HH.2.1/001-KD1ngày 02/5/2018. Công ty cổ phần Thế Giới S đã thanh
toán phí bảo hiểm của đơn hàng này vào ngày 09/5/2018.
5. Ngày 29/5/2018, nhân viên giao nhận hàng của Công ty cphần Thế Giới S
ông Đoàn Ngọc D đến kho SCSC để nhận các hàng điện thoại Xiaomi có số vận
đơn 1078121; 1078122; 1078123; 1078124; 1078125; 1078126; 1078127
1078128 thì nhận được thông báo của kho SCSC về việc hàng số vận đơn
1078121 dấu hiệu bất thường nhận được biên bản hàng hóa bất thường của kho
SCSC. Nhận thấy các hàng không còn nguyên đai, nguyên kiện; dấu hiệu bất
thường: Bị móp, dập, rách; Công ty cổ phần Thế Giới S đã thông báo cho Công ty Bảo
5
hiểm M về tình hình hàng hóa đề nghị giám định viên xuống kho hàng SCSC để giám
định.
Giám định viên của Công ty Bảo hiểm M ông Phạm Quang S đến giám định và
phát hiện mất tài sản. Các bên cùng lập biên bản giám định ngày 29/5/2018 đghi
nhận toàn bộ việc mất tài sản. Cụ thsố ợng hàng hóa mất 120 điện thoại di động
Xiaomi Mi Mix 2S 64GB, giá trị 420 USD/cái. Tổng giá trị hàng hóa mất là 50.400
USD.
Sau khi kết thúc giám định, nhân viên giao nhận của Công ty cổ phần Thế Giới S
thực hiện các thủ tục Hải quan, nhận hàng theo quy định vận chuyển ng về
kho của Công ty.
Các hàng hóa bị mất này đã được cấp đơn bảo hiểm (Cargo Insurance Policy) số
536/18/GCN-HH.2.1/001-KD1 ngày 25/5/2018. Công ty cổ phần Thế Giới S đã thanh
toán phí bảo hiểm của đơn này vào ngày 30/5/2018.
6. Ngày 31/5/2018, nhân viên giao nhận hàng của Công ty cổ phần Thế Giới S
ông Đoàn Ngọc D đến kho SCSC để nhận hàng điện thoại Xiaomi số vận đơn
1078136 thì nhận được thông o của kho SCSC về việc hàng dấu hiệu bất
thường nhận được biên bản hàng hóa bất thường của kho SCSC. Nhận thấy các
hàng không còn nguyên đai, nguyên kiện; dấu hiệu bất thường: Bị móp, dập, rách;
Công ty cổ phần Thế Giới S đã thông báo cho Công ty Bảo hiểm M về tình hình hàng
hóa đề nghị giám định viên xuống kho hàng SCSC để giám định.
Giám định viên của Công ty Bảo hiểm M là ông Phạm Quang S đến giám định và
phát hiện việc mất tài sản. Các bên cùng lập biên bản giám định ngày 31/5/2018 để ghi
nhận toàn bộ việc mất tài sản. Cụ thể số lượng hàng hóa bị mất 20 điện thoại di
động Xiaomi Redmi Note 5, 64GB màu xanh, giá trị 175,2 USD/cái. Tổng giá trị
hàng hóa bị mất là 3.504 USD.
Sau khi kết thúc giám định, nhân viên giao nhận hàng của Công ty cổ phần Thế
Giới S thực hiện các thủ tục Hải quan, ký nhận hàng theo quy định vận chuyển
hàng về kho của Công ty.
Các hàng hóa bị mất này đã được cấp đơn bảo hiểm (Cargo Insurance Policy) số
557/18/GCN-HH.2.1/001-KD1 ngày 29/5/2018. Công ty cổ phần Thế Giới S đã thanh
toán phí bảo hiểm của đơn này vào ngày 04/6/2018.
Đối với toàn bộ các tổn thất, mất tài sản với các hàng hóa nêu trên, Công ty cổ
phần Thế Giới S đã thực hiện cung cấp các hồ sơ, tài liệu theo đúng quy định tại hợp
đồng bảo hiểm, điều kiện bảo hiểm và theo hướng dẫn của Công ty Bảo hiểm M.
o ngày 14/6/2019, phía Công ty Bảo hiểm M ra văn bản số
1230/2019/MIC-TGĐ chỉ đồng ý bồi thường thêm số tiền 164.001.600 VNĐ cho các
Bill hàng hóa sau:
+ Các Bill 1076330; Bill 1078121; Bill 1075936; Bill 1077015 Bill 1077017,
phía Công ty Bảo hiểm M đưa ra do không việc hàng hóa bị mất theo các biên
bản giám định và tại thời điểm thông quan.
+ Đối với các Bill 1076328; Bill 1077511; Bill 1077015, phía Công ty Bảo hiểm
M hủ nhận trách nhiệm không chịu bồi thường theo Mục 3.4. Các điều kiện, điều
6
khoản khác của hợp đồng bảo hiểm số 01/18/GCN-HH/MIC HCM-DGW đã được
kết.
Việc Công ty Bảo hiểm M văn bản trả lời Công ty cổ phần Thế Giới S như
trên không thỏa đáng, vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ bảo hiểm theo quy định của
hợp đồng bảo hiểm, điều kiện bảo hiểm không phù hợp với quy định của Luật kinh
doanh bảo hiểm.
Do đó, Công ty cổ phần Thế Giới S yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Công ty Bảo
hiểm M phải bồi thường cho Công ty cổ phần Thế Giới S số tiền như sau:
- Số tiền còn lại nằm trong giới hạn bảo hiểm 400.000.000 (bốn trăm triệu) đồng,
theo quy định tại Điều 3.4.4 3.4.5 của hợp đồng bảo hiểm {400.000.000
235.998.400 (đã bồi thường)} = 164.001.600 (một trăm sáu mươi bốn triệu, không
trăm lẻ một nghìn, sáu trăm) đồng. Đây là số tiền còn lại phải bồi thường.
- Số tiền bảo hiểm đối với toàn bộ các hàng hóa được bảo hiểm bị tổn thất tài
sản mất không thuộc giới hạn trách nhiệm bảo hiểm theo quy định tại Điều 3.4.4
3.4.5 của hợp đồng bảo hiểm 79.854,5 USD (bảy mươi chín nghìn, m trăm năm
mươi bốn phẩy năm đô la Mỹ). Việc bồi thường số tiền này được thực hiện bằng tiền
đồng Việt Nam theo tỷ giá trung bình giữa tỉ giá mua vào tỉ giá bán ra của Ngân
hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam tại thời điểm bồi thường thời điểm Tòa án xét
xử theo đúng quy định tại hợp đồng bảo hiểm.
Ngoài ra nguyên đơn Công ty cổ phần Thế Giới S không còn ý kiến, yêu cầu nào
khác.
Bị đơn Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Đ vắng mặt không gửi văn bản trình
bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
- Nguyên đơn Công ty cổ phần Thế Giới S ông Nguyễn Q đại diện theo ủy
quyền vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện với những ý kiến như đã trình bày. Ngoài ra
không còn ý kiến, yêu cầu nào khác.
- B đơn Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Đ ông Nguyễn Hoàng H đại diện
theo ủy quyền có mặt tại phiên tòa trình bày ý kiến:
Xác nhận có ký kết các hợp đồng bảo hiểm như Công ty cổ phần Thế Giới S trình
bày.
Từ ngày 05/3/2018 đến ngày 30/5/2018, Công ty cổ phần Thế Giới S phát sinh
các tổn thất của 07 vận đơn (Bill) như sau:
1. Bill 1076330 từ Cảng Hong Kong đến n bay quốc tế Tân n Nhất ngày
14/3/2018: Cùng ngày 14/3/2018 đại diện Công ty Bảo hiểm M giám định ghi nhận 03
thùng carton rỗng, mỗi thùng 10 chiếc điện thoại, tổng cộng thiếu 30 chiếc điện thoại.
2. Bill 1076328 từ Cảng Hong Kong đến kho của Công ty D ngày 14/3/2018:
Ngày 15/3/2018 đại diện Công ty Bảo hiểm M tiến hành giám định ghi nhận thiếu 02
chiếc điện thoại.
3. Bill 1077015 từ Cảng Hong Kong đến n bay quốc tế Tân n Nhất ngày
13/4/2018: Cùng ngày 13/4/2018 đại diện Công ty Bảo hiểm M giám định ghi nhận 02
7
thùng carton rỗng (mỗi thùng 20 chiếc điện thoại). Ngày 14/4/2018, đại diện Công ty
Bảo hiểm M tiến hành giám định tại kho của Công ty D số 512A P, phường T, Quận
B, Thành phố Hồ CMinh thì phát hiện thấy 08 thùng carton rỗng, thiếu tổng 160
chiếc điện thoại.
4. Bill 1077017 từ Cảng Hong Kong đến n bay quốc tế Tân Sơn Nhất ngày
13/4/2018: Cùng ngày 13/4/2018 đại diện Công ty Bảo hiểm M giám định phát hiện có
01 thùng bị ch tem nhãn người gửi tiến hành kiểm tra thấy thiếu 06 chiếc điện
thoại.
5. Bill 1077511 từ Cảng Hong Kong đến n bay quốc tế Tân n Nhất ngày
05/5/2018: Cùng ngày 05/5/2018 đại diện Công ty Bảo hiểm M giám định ghi nhận
thiếu 01 chiếc điện thoại. Biên bản giám định kết thúc vào lúc 16 giờ 50 phút ngày
05/5/2018.
6. Bill 1078121 từ Cảng Hong Kong đến n bay quốc tế Tân n Nhất ngày
28/5/2018: Vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 29/5/2018 đại diện Công ty Bảo hiểm M giám
định phát hiện 12 thùng carton đựng cát, thiếu 120 chiếc điện thoại.
7. Bill 1078136 từ Cảng Hong Kong đến n bay quốc tế Tân n Nhất ngày
30/5/2018: Vào lúc 13 giờ 30 phút ngày 31/5/2018 đại diện Công ty Bảo hiểm M giám
định phát hiện 01 thùng chứa cát, thiếu 20 chiếc điện thoại.
Sau khi Công ty cổ phần Thế Giới S xảy ra tổn thất, Công ty Bảo hiểm M đã gửi
một số công văn đến Công ty cổ phần Thế Giới S về việc đang phối hợp với các
quan có liên quan để làm rõ nguyên nhân tổn thất của 07 vận đơn trên.
Ngày 14/6/2019, Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Đ đã công văn số
1230/MIC-TGĐ thông báo giải quyết bồi thường cho Công ty cổ phần Thế Giới S, với
nội dung chấp nhận giải quyết bồi thường đối với các Bill 1076328, Bill 1077511
Bill 1077015 do hàng mất tại kho của Công ty cổ phần Thế Giới S căn cứ theo điểm
3.4.5, khoản 3.4 Điều 3 hợp đồng nguyên tắc bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu số
01/18/GCN-HH/MIC HCM-DGW ngày 30/01/2018. Tuy nhiên, Công ty cổ phần Thế
Giới S không đồng ý với phương án bồi thường của Công ty Bảo hiểm M khởi kiện
Công ty Bảo hiểm M ra Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
Căn cứ Công ty Bảo hiểm MItừ chối bồi thường bảo hiểm đối với các Bill
1076330, Bill 1077017, Bill 1078121 và Bill 1075136:
Theo các biên bản giám định do Công ty Bảo hiểm M lập cùng với đại diện Công
ty cổ phần Thế Giới S, đại diện kho SCSC đại diện chủ hàng thì ghi nhận việc
thiếu, mất hàng hóa tại kho của SCSC, sân bay Tân Sơn Nhất đối với các Bill
1076330, Bill 1077017, Bill 1078121 Bill 1075136. Tuy nhiên, điểm mâu thuẫn
đại diện của Công ty cổ phần Thế Giới S lại làm thủ tục thông quan xác nhận
nhận đủ số hàng theo các vận đơn nêu trên. Cụ thể:
- Bill 1076330: Biên bản giám định ngày 14/3/2018 ghi nhận thiếu 30 chiếc điện
thoại, tiến hành cân tại kho SCSC tổng trọng lượng hàng còn lại 426 kg. Nhưng tại
thời điểm 15 giờ 00 phút ngày 14/3/2018, đại diện ng ty cổ phần Thế Giới S ông
Đoàn Ngọc D đã m thủ tục thông quan 02 kiện hàng nguyên đai nguyên kiện, tổng
trọng lượng 446 kg không khiếu nại về việc không đủ trọng lượng mất
hàng hóa (theo tờ khai hàng hóa nhập khẩu thông quan số 101900266640).
8
- Bill 1077017: Biên bản giám định ngày 13/4/2018 phát hiện có 01 thùng bị rách
tem nhãn người gửi tiến hành kiểm tra thấy thiếu 06 chiếc điện thoại. Nhưng tại
thời điểm 17 giờ 43 phút ngày 13/4/2018 đại diện Công ty cổ phần Thế Giới S ông
Đoàn Ngọc D đã m thủ tục thông quan 02 kiện hàng nguyên đai nguyên kiện, tổng
trọng lượng 521 kg không khiếu nại về việc không đủ trọng ợng mất
hàng hóa (theo tờ khai hàng hóa nhập khẩu thông quan số 101952773420).
- Bill 1078121: Biên bản giám định o hồi 08 giờ 30 phút ngày 29/5/2018 phát
hiện 12 thùng carton đựng cát, thiếu 120 chiếc điện thoại. Sau khi lấy ra 12 thùng đựng
cát thì trọng lượng điện thoại còn lại 161 kg. Nhưng tại thời điểm 09 giờ 49 phút
ngày 29/5/2018 đại diện Công ty cổ phần Thế Giới S ông Đoàn Ngọc D đã làm thủ
tục thông quan 01 kiện hàng nguyên đai nguyên kiện, tổng trọng lượng 240 kg
không khiếu nại gì về việc không đủ trọng lượng mất hàng hóa (theo tờ khai
hàng hóa nhập khẩu thông quan số 102029894040).
- Bill 1075136: Biên bản giám định o hồi 13 giờ 30 phút ngày 31/5/2018 phát
hiện 01 thùng chứa cát, thiếu 20 chiếc điện thoại. Nhưng đại diện Công ty cổ phần Thế
Giới S ông Đoàn Ngọc D đã làm thủ tục thông quan nhận đủ hàng không
khiếu nại về việc không đủ trọng lượng mất hàng hóa. Đối với vận đơn này do
Chi cục Hải quan cửa khẩu sân bay Tân Sơn Nhất đánh nhầm Bill 1078163 nên không
tra cứu được thông tin của Bill 1075163.
Căn cứ vào các tkhai thông quan n bản trả lời của quan Hải quan thì
sau thời điểm thông quan hàng hóa của Công ty cổ phần Thế Giới S vẫn còn nguyên
đai, nguyên kiện, tức là không bị mất. Cụ thể:
1. Theo Công văn số 137/SB-ĐHHN ngày 15/01/2019 của Chi cục Hải quan cửa
khẩu sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất trả lời Đội 3 Cục Điều tra Chống buôn lậu về
thông tin của 07 vận đơn gồm số 1076330, 1076328, 1078121, 1077017, 1077511,
1077015 và 1075926 có nội dung như sau:
- Hàng hóa thuộc c vận đơn nêu trên được kiểm tra toàn bộ hàng, hàng
hóa nhập khẩu đứng khai của người khai hải quan, các hàng đã được thông quan
và đóng thuế theo đúng quy định.
- Kho hàng đã bàn giao đầy đủ hàng hóa cho đại diện Công ty CP Thế giới S để
thực hiện làm thủ tục hải quan cho các lô hàng nêu trên.
- Chi cục không nhận được thông tin phản ánh về việc mất mát tài sản, hàng hóa
thuộc các vận đơn nêu trên”.
2. Theo Phiếu ghi kết quả kiểm tra ngày 14/3/2018 đối với Bill 1076330:
“Đối chiếu đúng số AWB, hàng nguyên đai, nguyên kiện. Kiểm tra tỷ lệ 100%.
hàng gồm 2 kiện = 521 kg (G.W). Tên hàng: điện thoại di động Xiaomi Redmi 5
(MDGI) 32GB (ID: 17584) (chi tiết theo tờ khai). Hàng mới 100%. Hàng nhập khẩu
kiểm tra đúng khai báo.
3. Theo Phiếu ghi kết quả kiểm tra ngày 29/5/2018 đối với Bill 1078121:
“Đối chiếu đúng số AWB, hàng nguyên đai, nguyên kiện. Kiểm tra 100% lô hàng
gồm 2 kiện = 446 kgs (Gross). Tên hàng: Điện thoại di động Xiaomi Mi Mix 2(MDE5)
64GB …Mới 100% (chi tiết theo tờ khai hải quan). Hàng nhập khẩu kiểm tra đúng
khai báo và giấy phép.”
9
4. Theo Phiếu ghi kết quả kiểm tra ngày 13/4/2018 đối với Bill 1077017:
“Đối chiếu đúng số AWB, hàng nguyên đai, nguyên kiện. Kiểm tra tỷ lệ 100%.
hàng gồm 2 kiện = 521 kg (G.W). Tên hàng: điện thoại di động Xiaomi Redmi 5
(MDGI) 32GB (ID: 17584) (chi tiết theo tờ khai). Hàng mới 100%. Hàng nhập khẩu
kiểm tra đúng khai báo.”
Theo điểm 3.4.5 khoản 3.4 Điều 3 hợp đồng nguyên tắc bảo hiểm hàng hoá xuất
nhập khẩu số 01/18/GCN-HH/MIC HCM-DGW ngày 30/01/2018 quy định về điều
kiện, điều khoản bảo hiểm: 3.4.5. Hàng lẻ còn nguyên đai, nguyên kiện, về đến kho
của bên A kiểm tra phát hiện mất”.
Do vậy, 04 Bill 1076330, Bill 1078121, Bill 1077017 Bill 1075136 không
thuộc trường hợp bị mất khi về đến kho của Công ty cổ phần Thế Giới S theo điểm
3.4.5 khoản 3.4 Điều 3 hợp đồng nguyên tắc bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu nêu
trên nên không được bồi thường.
Công ty Bảo hiểm M chỉ chấp nhận bồi thường tổn thất đối với các Bill 1076328,
1077511, 177015 theo điểm 3.4.5 khoản 3.4 Điều 3 của hợp đồng nguyên tắc:
Đối với các hàng thuộc Bill 1076328, Bill 1077511 Bill 177015, hàng hoá
tại kho SCSC sân bay Tân Sơn Nhất đều đã được đại diện của Công ty cổ phần Thế
Giới S xác nhận làm các thủ tục thông quan theo đúng chi tiết tại tờ khai hàng hoá
nhập khẩu (thông quan). Sau khi thông quan, trong quá trình vận chuyển hàng về kho
tại kho của Công ty cổ phần Thế Giới S thì mới phát hiện mất hàng hoá (theo các
biên bản giám định đã được lập). Cụ thể:
- Bill 1076328: Căn cứ theo biên bản giám định ngày 15/3/2018 đã ghi nhận
hàng hoá thông quan bình thường, sau khi hàng về kho DGW tại 512 P, Quận B,
Thành phố Hồ Chí Minh tối ngày 14/3/2018 đến ngày 15/3/2018 mới tiến hành kiểm
tra thì phát hiện 01 thùng hàng dấu hiệu bất thường nên đã báo các n liên quan
xuống hiện trường giám định. Sau khi xem xét, giám định các bên đã phát hiện thiếu
02 chiếc điện thoại tại kho của Công ty cổ phần Thế Giới S.
- Bill 1077511: Đại diện Công ty cổ phần Thế Giới S ông Đoàn Ngọc D đã làm
thủ tục thông quan lúc 15 giờ 17 phút ngày 05/5/2018 ghi nhận: Hàng nguyên đai,
nguyên kiện, lô hàng gồm 03 kiện = 835kg theo tờ khai hàng hoá nhập khẩu. Ngay sau
khi ông D thông quan, đại diện Công ty Bảo hiểm M đã phát hiện ghi nhận tại biên
bản giám định về việc lô hàng thiếu 01 chiếc điện thoại.
- Bill 177015: Tại biên bản giám định ngày 14/4/2018 ghi nhận: Vào lúc 19 gi
30 phút ngày 13/4/2018, hàng từ kho SCSC sân bay Tân Sơn Nhất về tới kho
của Công ty cổ phần Thế Giới S sau đó đã để hàng cửa ra vào của kho. Sáng ngày
14/4/2018 lúc 08 giờ 30 phút anh Huỳnh Minh C phát hiện bất thường nên đã báo cáo
các bên xuống giám định. Tại kho của Công ty cổ phần Thế Giới S, đại diện Công ty
Bảo hiểm M kiểm tra pallet số 2/3 thì phát hiện tám thùng hàng rỗng, thiếu 160 chiếc
điện thoại.
- Ngoài ra, trong quá trình thông quan theo các phiếu ghi kết quả kiểm tra ngày
02/3/2018 đối với Bill 1075926; phiếu ghi kết quả kiểm tra ngày 13/4/2018 đối với
Bill 1076328; phiếu ghi kết quả kiểm tra ngày 05/5/2018 đối với Bill 1077511 đều thể
hiện kết quả: Đối chiếu đúng số AWB, hàng nguyên đai, nguyên kiện. Kiểm tra tỷ lệ
100%.
10
Căn cứ theo điểm 3.4.5 khoản 3.4 Điều 3 hợp đồng nguyên tắc bảo hiểm hàng
hoá xuất nhập khẩu số 01/18/GCN-HH/MIC HCM-DGW ngày 30/01/2018, Công ty
Bảo hiểm M chấp thuận bồi thường cho Công ty cổ phần Thế Giới S đối với các tổn
thất thuộc Bill 1076328, 1077511, 177015 đúng theo hợp đồng nguyên tắc hai bên
đã giao kết.
Đồng thời, theo Điều 3.4 hợp đồng nguyên tắc bảo hiểm hàng hoá xuất nhập
khẩu số 01/18/GCN-HH/MIC HCM-DGW: Giới hạn trách nhiệm bảo hiểm đối với
hạng mục 3.4.4, 3.4.5, 3.4.6 không vượt quá 400.000.000 VNĐ/năm”. Do trước đó,
Công ty Bảo hiểm M đã bồi thường tổn thất cho Bill 1075926 (vụ tổn thất ngày
01/3/2018 không nằm trong số 07 vận đơn bị tổn thất nêu trên) số tiền 10.120 USD
tương đương với 235.998.400 đồng nên theo giới hạn trách nhiệm bảo hiểm, số tiền
bồi thường tổn thất cho các Bill 1076328, Bill 1077511, Bill 177015 (nếu có) sẽ :
400.000.000 - 235.998.400 = 164.001.600 đồng.
Từ những phân tích trên, Công ty Bảo hiểm chỉ chấp nhận sẽ bồi thường đối với
tổn thất của 03 Bill 1076328, Bill 1077511 Bill 177015 của Công ty cổ phần Thế
Giới S với số tiền còn phải bồi thường 164.001.600 đồng không chấp nhận bồi
thường các Bill khác.
Ngoài ra, Công ty cổ phần Thế Giới S còn nợ Công ty Bảo hiểm M số tiền phí
bảo hiểm 1.209.753.552 đồng theo công văn ngày 01/01/2021 của Công ty Bảo
hiểm M Thành phố HChí Minh gửi Công ty cổ phần Thế Giới S về việc xác nhận
công nợ giữa hai bên vào ngày 31/12/2020 cho mục đích kiểm toán.
Do vậy, Công ty Bảo hiểm M đề nghị Công ty cổ phần Thế Giới S phải thanh
toán toàn bộ số tiền phí bảo hiểm còn nợ nêu trên và tiền lãi do chậm thanh toán.
Ngoài ra không có ý kiến, yêu cầu nào khác.
Tại Bản án Kinh doanh thương mại thẩm số 21/2021/KDTM-ST ngày 26
tháng 5 năm 2021 của Tòa án nhân dân Quận 10 Thành phố Hồ CMinh đã quyết
định:
1. Chấp nhận u cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty c phần Thế Giới S;
Buc bị đơn Tổng Công ty cổ phần Bảo hiểm Đ thanh toán cho nguyên đơn
Công ty cổ phần Thế Giới S tng s tin 2.004.248.552 (hai tỷ, không trăm lẻ bốn
triệu, hai trăm bốn mươi tám nghìn, năm trăm năm mươi hai) đồng {trong đó gồm: số
tiền thuộc giới hạn bảo hiểm còn lại phải bồi thường 164.001.600 (một trăm sáu
mươi bốn triệu, không trăm lẻ một nghìn, sáu trăm) đồng số tiền không thuộc giới
hạn bảo hiểm phải bồi thường là 1.840.246.952,5 (một tỉ, tám trăm bốn mươi triệu, hai
trăm bốn mươi sáu nghìn, chín trăm năm mươi hai phẩy năm) đồng (trong giao dịch
của“hợp đồng nguyên tc Bo him hàng hóa xut nhp khẩu” s 01/2018/GCN-
HH/MIC HCM-DGW ngày 30/01/2018).
K t ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi
thi hành xong, bên phi thi hành án còn phi chu khon tin lãi ca s tin còn phi
thi hành án theo mc lãi suất quy định tại Điều 357 Điều 468 ca B lut Dân s
năm 2015 tương ứng vi thời gian chưa thi hành án.
Ngoài ra bản án còn tuyên về nghĩa vchịu án phí, quyền kháng cáo nghĩa vụ
thi hành án của đương sự.
11
Không đồng ý với quyết định của Bản án thẩm, ngày 28/5/2021 Tổng Công ty
Cổ phần Bảo hiểm Đ nộp đơn kháng cáo toàn bộ bản án thẩm, đề nghị cấp phúc
thẩm không chấp nhận toàn bộ các yêu cầu của nguyên đơn.
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 Quyết định kháng nghị phúc
thẩm số 330/QĐKNPT-VKS-KDTM ngày 09/6/2021 đối với Bản án thẩm nêu trên
đề nghị xét xử phúc thẩm theo hướng không chấp nhận một phần yêu cầu của ng ty
cphần Thế Gii S u cầu Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Đ bồi thường thiệt hại
ngoài giới hạn bảo hiểm số tiền là 1.840.246.925,5 đồng.
* Tại phiên tòa Phúc thẩm:
Các đương sự trong vụ án đề nghị Hội đồng xét xử công nhận hòa giải thành do
các bên đã tự thương lượng và thống nhất với nhau những nội dung cụ thể sau đây:
- Số tiền ng ty cổ phần Thế Giới S yêu cu Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Đ
bồi thường thiệt hại ngoài giới hạn bảo hiểm cho các bill số 1076330; 1078121;
1078136; 1077017; 1077015 1.209.753.552 đồng được cn tr toàn b vào s tin
Công ty cổ phần Thế Giới S còn n phí bo him ca Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm
Đ phát sinh trong thi gian t tháng 08/2018 đến tháng 10/2019.
- Số tiền ng ty c phn Thế Giới S yêu cu Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Đ
bồi thường thiệt hại cho các bill số 1076328; 1077511; 1077015 164.001.600 đồng,
Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Đ có nghĩa vụ tr cho Công ty c phần Thế Gii S vào
ngày 05/5/2022.
Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Đ không thực hiện đúng thời hạn thanh toán thì
phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2
Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
- Án phí dân s sơ thm do Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Đ chu.
Ý kiến phát biu ca Kim sát viên:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán đã
chấp hành theo quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thưtại phiên tòa theo
đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử phúc thẩm vụ án.
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người tham gia tố tụng vụ án: các
đương sự trong vụ án đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo đúng các quy định của
Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Xét thấy các đương sự đã tự thỏa thuận được với nhau nên Quyết
định kháng nghị của Viện kiểm sát không còn cần thiết n Viện kiểm sát nhân dân
Thành phố HChí Minh rút kháng nghi đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận ý kiến
các đương sự, sửa bản án sơ thẩm công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hvụ án, được thẩm tra tại phiên tòa.
Hội đồng xét xử, nhận định:
[1] Cấp thẩm xác định quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án đúng
theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
12
[2] Đơn kháng cáo của Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Đ Quyết định kháng
nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 còn trong thời hạn kháng cáo,
kháng nghị có hình thức và nội dung đúng quy định nên được chấp nhận.
[3] Về nội dung thỏa thuận của các đương sự như sau: Các đương sự thỏa thuận
về việc số tiền bồi thường thiệt hại, phương thức, thời hạn thanh toán và nghĩa vụ chịu
án phí thẩm. Đây những nội dung thuộc phạm vi khởi kiện của nguyên đơn, đã
được cấp sơ thẩm xem xét giải quyết và quyết định trong bản bản án sơ thẩm.
[4] Xét thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm tự nguyện, không
vi phạm điều cấm của luật không trái đạo đức hội, nên áp dụng quy định tại
khoản 1 Điều 300 Bộ luật tố tụng dân sự đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát tại
phiên tòa, cần sửa bản án sơ thẩm công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
[5] Về nghĩa vchịu án phí thẩm đối với tranh chấp về kinh doanh thương
mại: Số tiền án phí phải nộp 53.212.654 đồng do Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm
Đ chịu.
Công ty cphần Thế Gii S được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[6] Về nghĩa vụ chịu án phí phúc thẩm đối với tranh chấp về kinh doanh, thương
mại: Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Đ phải chịu án phí phúc thẩm 2.000.000
đồng, được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điều 147, Điều 300 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 5 Điều 29 Nghị
Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;
Điểm b Điều 13 Nghị Quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao;
Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, sửa bản án sơ thẩm:
1. Số tiền ng ty cổ phần Thế Giới S yêu cu Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Đ
bồi thường thiệt hại ngoài giới hạn bảo hiểm cho các bill số 1076330; 1078121;
1078136; 1077017; 1077015 1.209.753.552 đồng được cn tr toàn b vào s tin
Công ty cổ phần Thế Giới S còn n phí bo him ca Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm
Đ phát sinh trong thi gian t tháng 08/2018 đến tháng 10/2019.
2. Số tiền ng ty cổ phần Thế Giới S yêu cu Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Đ
bồi thường thiệt hại cho các bill số 1076328; 1077511; 1077015 164.001.600 đồng,
Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Đ có nghĩa vụ tr cho Công ty c phần Thế Giới S vào
ngày 05/5/2022.
Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Đ không thực hiện đúng thời hạn thanh toán thì
phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2
Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
3. Án phí sơ thẩm đối với tranh chấp kinh doanh thương mại:
Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Đ chịu số tiền 53.212.654 đồng.
Hoàn lại cho Công ty cổ phần Thế Giới S số tiền tạm ứng án phí đã tạm nộp
36.166.260 đồng theo biên lai thu tạm ng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2019/0014010
ngày 20/11/2019 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
13
4. Án phí phúc thẩm đối với tranh chấp về kinh doanh, thương mại:
Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Đ phải chịu số tiền là 2.000.000 đồng, được cấn
trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0050345 ngày
09/6/2021 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 10 Thành phố Hồ Chí Minh.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sựquyền thoả
thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế
thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi
hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- TANDTC;
- TAND Cấp cao tại TP.HCM;
- VKSND Cấp cao tại TP.HCM;
- VKSND TP.HCM;
- Cục THADS TP. Hồ Chí Minh;
- TAND Quận 10;
- Chi cục THADS Quận 10;
- Các đương sự;
- Lưu: Hồ sơ.
T.M HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Ngô Thanh Nhàn
Tải về
Bản án số 169/2022/KDTM-PT Bản án số 169/2022/KDTM-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất