Bản án số 168/2026/HS-ST ngày 29/09/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 168/2026/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 168/2026/HS-ST ngày 29/09/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên
Tội danh:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên
Số hiệu: 168/2026/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 29/09/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Bị cáo T
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 168/2026/HS-ST Bản án số 168/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 168/2026/HS-ST Bản án số 168/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 - HƢNG YÊN
Bản án số:168/2026/HS-ST
Ngày 29-9-2026
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - HƢNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: bà Nguyễn Bích Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. ông Ngô Hồng Hiếu
2. bà Nguyễn Thị Hương.
- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân
khu vực 8 - Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Hưng Yên tham gia
phiên toà: bà Nguyễn Thị Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hưng
Yên xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 156/2026/TLST- HS ngày
10 tháng 9 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
161/2026/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2026 đối với bị cáo:
Lƣơng Văn T, sinh ngày 02 tháng 7 năm 1994, tại xã H, tỉnh Hưng Yên;
số căn cước công dân: ************, ngày cấp: 03-8-2021, nơi cấp: Cục cảnh
sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; nơi cư trú: thôn K, xã H, tỉnh Hưng
Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; Quốc
tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; tôn giáo: không; con ông Lương Văn T1 và bà
Lưu Thị D; gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ nhất; bị cáo chưa có vợ,
con. Tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: Tại Bản án số 149/2011/HSST, ngày
26-9-2011 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình (nay là Tòa
án nhân dân khu vực 5, tỉnh Hưng Yên) xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội
“Cướp tài sản”, đã chấp hành xong các quyết định của bản án. Bản án số
92/2014/HSST, ngày 30-12-2014 của Toà án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh
Thái Bình (nay là Tòa án nhân dân khu vực 8, tỉnh Hưng Yên) xử phạt 04 năm
06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” đã chấp hành xong các quyết định của bản
án; đều được xóa án tích. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11-6-2026 đến ngày 17-6-
2026 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại phân trại tạm giam Đ, Trại
tạm giam số 2 - Công an tỉnh H; được trích xuất, có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: anh Nguyễn Tiến T2, sinh
năm 1993; Nơi cư trú: thôn P, xã T, tỉnh Hưng Yên (vắng mặt).
2
* Người làm chứng: anh Lương Văn T3, sinh năm 1994; nơi cư trú: thôn
K, xã H, tỉnh Hưng Yên (vắng mặt).
* Những người chứng kiến:
1. Ông Nguyễn Văn T4, sinh năm 1969; nơi cư trú: thôn N, xã H, tỉnh Hưng
Yên (vắng mặt).
2. ông Doãn Công H, sinh năm 1957; nơi cư trú: thôn A, xã H, tỉnh Hưng Yên
(vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau: hồi 12 giờ ngày 11-6-2026, tổ công tác Công an xã
H, tỉnh Hưng Yên làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát ở đường P, thuộc thôn A, xã
H, tỉnh Hưng Yên phát hiện Lương Văn T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Super
Dream, biển số 17M4-4507 dừng dưới lòng đường sử dụng điện thoại có biểu
hiện liên quan đến ma túy nên đã yêu cầu kiểm tra; Thưởng lấy ở túi quần trước
bên phải đang mặc ra để giao nộp 01 túi nilon trong suốt, kích thước
(2,5x2,2)cm, mép dập, viền mép dập có đường kẻ đỏ, bên trong chứa chất bột
màu trắng dạng cục; 01 túi nilon trong suốt, kích thước (2,6x2,6)cm, mép dập,
viền mép dập có đường kẻ đỏ, chứa 01 túi nilon trong suốt, kích thước
(2x1,6)cm, dán ngoài băng dính màu đen, bên trong chứa các hạt tinh thể trong
suốt T khai là ma túy loại H1 và M mua với số tiền 1.000.000 đồng để sử dụng
cho bản thân trước sự chứng kiến của ông Doãn Công H và ông Nguyễn Văn
T4. Kiểm tra người Thưởng và xe mô tô biển số 17M4-4507 không phát hiện đồ
vật, tài liệu liên quan đến ma túy. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm
tội quả tang, niêm phong 02 túi ma túy, quản lý chiếc xe mô tô, yêu cầu T và
mời người chứng kiến về trụ sở Công an xã H thu mẫu nước tiểu để trưng cầu
giám định. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra thi hành lệnh khám xét khẩn
cấp chỗ ở của Lương Văn T không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Tại bản kết luận giám định số 1775/KL-KTHS, ngày 15-6-2026 của
Phòng K Công an tỉnh H kết luận: “Mẫu chất bột màu trắng, dạng cục gửi giám
định là ma tuý loại Heroin (Heroine), có tên khoa học là: Diacetylmorphine,
được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025)
và Nghị định số 28/2026/NĐ-CP, ngày 19/10/2026 của Chính phủ quy định các
danh mục chất ma túy và tiền chất, có khối lượng 0,5176 gam. Mẫu chất dạng
tinh thể trong suốt gửi giám định, là ma túy, loại Methamphetamine, có khối
lượng là 0,2002 gam. Heroin STT: 14 Danh mục IA phụ lục kèm theo Nghị định
28/2026/NĐ-CP, ngày 19/01/2026 của Chính phủ. Methamphetamine STT: 267
Danh mục IIC phụ lục kèm theo Nghị định 28/2026/NĐ-CP, ngày 19/01/2026
của Chính phủ”.
3
Bản kết luận giám định số 1776/KL-KTHS ngày 15-6-2026 của phòng K
Công an tỉnh H kết luận: “Trong mẫu nước tiểu gửi giám định có tìm thấy ma
túy, sản phẩm chuyển hóa của ma túy loại Methamphetamine.
Methamphetamine STT: 267 Danh mục IIC phụ lục kèm theo Nghị định
28/2026/NĐ-CP, ngày 19/01/2026 của Chính phủ”.
Bản cáo trạng số 115/CT-VKSHYN-KV, ngày 09-9-2026 của Viện kiểm
sát nhân dân khu vực 8, tỉnh Hưng Yên truy tố bị cáo Lương Văn T về tội “Tàng
trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự
năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025.
Tại phiên tòa bị cáo khai: sáng ngày 11-6-2026, bị cáo đến nhà anh Lương
Văn T3 là anh họ của bị cáo mượn xe mô tô nhãn hiệu Super Dream, biển số
17M4-4507 đi chợ. Khoảng 11 giờ, do quen và biết Nguyễn Tiến T2, sinh ngày
29-9-1993, cư trú: thôn P, xã T, tỉnh Hưng Yên bán trái phép chất ma túy (bị cáo
sử dụng trái phép chất ma túy, chưa cai nghiện, không điều trị nghiện chất ma
túy bằng thuốc thay thế) nên bị cáo điều khiển xe mô tô biển số 17M4-4507 đến
cổng thôn P, sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy M10, lắp
sim thuê bao số 0823.513.889 gọi đến số thuê bao 0347.337.334 của T2 hỏi mua
1.000.000 đồng ma túy để sử dụng, T2 đồng ý. Khoảng 11 giờ 35 phút, T2 ra
cổng thôn P, bị cáo đưa cho T2 1.000.000 đồng (05 tờ tiền mệnh giá 200.000
đồng), T2 đưa bị cáo 01 túi nilon trong suốt mép dập, viền mép dập có đường kẻ
đỏ, bên trong chứa ma túy loại Heroin và 01 túi nilon trong suốt mép dập, viền
mép dập có đường kẻ đỏ, chứa 01 túi nilon trong suốt dán ngoài băng dính màu
đen, bên trong chứa ma túy loại Methamphetamin. Sau đó bị cáo giấu 02 túi ma
túy vào túi quần trước bên phải rồi điều khiển xe mô tô về đến đường P, thuộc
thôn A, xã H, tỉnh Hưng Yên dừng lại dưới lòng đường sử dụng điện thoại thì tổ
công tác của Công an xã H đến yêu cầu kiểm tra. Bị cáo tự nguyện lấy 02 túi ma
túy ra giao nộp. Tổ công tác đã đưa bị cáo về trụ sở công an xã H để lập biên
bản.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Hưng Yên giữ quyền công tố
tại phiên tòa, sau khi phân tích nội dung vụ án, hành vi phạm tội và các tình tiết
tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát
khẳng định quan điểm truy tố như nội dung bản cáo trạng là đúng người, đúng
tội và đúng pháp luật, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử (viết tắt là HĐXX):
tuyên bố bị cáo Lương Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp
dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50 và Điều 38 Bộ
luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025, xử phạt bị cáo Lương Văn T từ
03 năm 06 tháng đến 04 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày
tạm giữ 11-6-2026; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; về xử lý vật
4
chứng áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung
năm 2025 và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu để tiêu huỷ
toàn bộ số ma túy thu giữ của bị cáo Lương Văn T trong phong bì niêm phong
hoàn trả mẫu vật sau giám định số 1775/KL-KTHS của Phòng K công an tỉnh H.
Tịch thu hóa giá sung ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại Samsung Galaxy
M10, tịch thu tiêu hủy sim thuê bao số 0823.513.889. Về án phí: bị cáo phải
chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận, bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ mức
hình phạt đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra,
truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh
H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8, tỉnh Hưng Yên, Kiểm sát
viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự,
thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố
và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có khiếu
nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố
tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng,
người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và người
chứng kiến đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vắng mặt không
có lý do. Xét thấy tại giai đoạn điều tra họ đã có lời khai đầy đủ nên việc vắng
mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử, vì vậy HĐXX vẫn tiến hành xét
xử vụ án vắng mặt họ.
[3] Về chứng cứ xác định có tội. Lời khai của bị cáo Lương Văn T tại phiên
tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, được chứng minh bằng
các tài liệu, chứng cứ sau: biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám
định do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H lập hồi 13 giờ 35 phút ngày
11-6-2026; Biên bản ghi lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Nguyễn Tiến T2; Biên bản ghi lời khai của người chứng kiến ông Nguyễn Văn
T4 và ông Doãn Công H; Biên bản ghi lời khai của người làm chứng anh Lương
Văn T3 cùng toàn bộ các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: hồi 12 giờ ngày 11-6-2026, tại đường P,
thôn A, xã H, tỉnh Hưng Yên, bị cáo Lương Văn T có hành vi tàng trữ trái phép
ở túi quần phía trước bên phải 01 túi ma túy, loại Heroine, khối lượng 0,5176
gam và 01 túi ma tuý, loại Methamphetamine, khối lượng 0,2002 gam, tổng khối
5
lượng 02 chất ma túy là 0,7178 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân bị phát
hiện và bắt quả tang.
Hành vi nêu trên của bị cáo Lương Văn T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép
chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249
Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025. Điều luật quy định như
sau:
Điều 249: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích
mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các
trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm:
...;
c) Heroine, C, M, A, Ketamine, F, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ
0,1 gam đến dưới 05 gam;
i) Có 02 chất ma tuý trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các
chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma tuý quy định tại một
trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này;
...;
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến
500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc
nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Do đó, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8, tỉnh Hưng Yên truy tố bị cáo
Lương Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm i khoản
1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025 là hoàn toàn
đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng đối với hành vi phạm tội của bị cáo
thấy rằng: hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý mà bị cáo Lương Văn T thực
hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý
của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, hủy hoại sức
khỏe của người sử dụng, ảnh hưởng đến giống nòi và còn là nguyên nhân phát
sinh nhiều loại tội phạm khác.
[5] Về các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân
của bị cáo: bị cáo có nhân thân xấu. Trong giai đoạn điều tra cũng như tại phiên
tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội nên được áp dụng tình tiết
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình
sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025; bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng
trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung
năm 2025.
6
Từ những nhận định trên, cần phải tiếp tục cách ly bị cáo khỏi cuộc sống xã
hội trong một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở
thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời góp phần phòng
ngừa chung.
[6] Về hình phạt bổ sung: bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập do
đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Ngoài hành tàng trữ trái phép chất ma túy ngày 11-6-2026 bị bắt quả
tang, bị cáo T còn khai trước đó khoảng 05 ngày T còn có hành vi mua chất ma
túy loại Methamphetamine của người đàn ông không rõ danh tính ở đường Đ
mang về xã H, tỉnh Hưng Yên để sử dụng trái phép. Do hành vi của T không
thuộc trường hợp quy định tại điểm a, b, c, d khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình
sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025 nên Công an xã H, tỉnh Hưng Yên đã ra
quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T là đúng quy định.
[8] Về nguồn gốc số ma túy Cơ quan điều tra Công an tỉnh H thu giữ của
bị cáo T và người đã bán ma túy cho bị cáo T: sau khi bán trái phép các chất ma
túy cho bị cáo T, Nguyễn Tiến T2 mang theo người 01 túi ma túy loại
Methamphetamine, có khối lượng 0,5602gam đi giao bán, đến đường Đ, thôn
M, xã T, tỉnh Hưng Yên thì bị Phòng Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H phát hiện
bắt quả tang, thu giữ các vật chứng trong đó có số tiền bán ma túy 1.000.000
đồng. Ngày 17-6-2026, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định khởi tố vụ án
hình sự số B340/QĐ-CSMT, quyết định khởi tố bị can số B725/QĐ-CSMT đối
với Nguyễn Tiến T2 để điều tra về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định
tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025.
Ngày 07-9-2026, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh đã ban hành Bản kết
luận điều tra vụ án hình sự số B536/BKL-CSMT đề nghị truy tố Nguyễn Tiến
T2 về hành vi bán trái phép chất ma túy nêu trên là đúng quy định của pháp luật.
[9] Về vật chứng của vụ án: trong quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã
thu giữ và quản lý 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Super Dream, biển số 17M4-
4507; 01 chiếc di động nhãn hiệu Samsung Galaxy M10, lắp sim thuê bao số
0823.513.889 quản lý của bị cáo T và 02 gói ma túy được niêm phong trong 01
phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 1775/KL-KTHS của Phòng K Công an
tỉnh H.
Quá trình điều tra xác định 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Super Dream,
biển số 17M4-4507 thuộc sở hữu của anh T3, khi cho bị cáo mượn xe anh T3
không biết và bị cáo không nói với anh T3 bị cáo sử dụng xe để đi mua ma túy,
vì vậy Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho anh T là đúng quy
định của pháp luật.
7
Đối với 01 chiếc di động nhãn hiệu Samsung Galaxy M10, lắp sim thuê
bao số 0823.513.889, quá trình điều tra xác định đây là chiếc điện thoại của bị
cáo T và sử dụng để liên lạc với anh T2 để mua ma túy, là công cụ, phương tiện
phạm tội do đó cần tịch thu hóa giá sung ngân sách nhà nước chiếc điện thoại
này và tịch thu tiêu hủy sim thuê bao số 0823.513.889 là phù hợp với quy định
của pháp luật.
Đối với 02 gói ma túy được niêm phong trong hoàn trả mẫu vật giám định
số 1775/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh H là vật chứng của vụ án cần tịch
thu để tiêu hủy.
[10] Về án phí: bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định
của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Lương Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma
túy”.
2. Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50 và
Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025. Xử phạt bị cáo
Lương Văn T 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù
tính từ ngày tạm giữ 11-6-2026.
3. Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ
sung năm 2025 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy:
0,4162 gam và 0,1589 gam ma túy, loại Methamphetamine và Heroin mẫu gửi
giám định và toàn bộ bao gói thu của giữ của bị cáo Lương Văn T được niêm
trong phong bì niêm phong hoàn trả sau giám định số 1775/KL-KTHS của
Phòng K công an tỉnh H.
Tịch thu hóa giá sung ngân sách nhà 01 chiếc di động nhãn hiệu Samsung
Galaxy M10 (đã qua sử dụng); tịch thu tiêu hủy 01 sim thuê bao số
0823.513.889.
Toàn bộ vật chứng của vụ án đang được bảo quản ở kho vật chứng Phân
trại tạm giam Đ - Trại tạm giam số 2, Công an tỉnh H theo biên bản giao, nhận
vật chứng ngày 18-6-2026.
4. Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự
2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm
2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Lương Văn T phải
chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: áp dụng Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng
hình sự. Bị cáo Lương Văn T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể
8
từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Tiến Thanh vắng M1 có quyền kháng cáo bản án
trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hoặc niêm yết bản án hợp lệ.
Thµnh viªn héi ®ång xÐt xö
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
Nguyễn Bích Thủy
Nơi nhận:
- Bị cáo;
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan;
- TAND tỉnh Hưng Yên;
- CQCSĐT Công an tỉnh Hưng Yên;
- Viện kiểm sát ND tỉnh Hưng Yên;
- Viện kiểm sát ND KV 8 tỉnh Hưng Yên;
- THADS tỉnh Hưng Yên;
- Phân trại Đông Hưng;
- Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh Hưng Yên;
- Sở Tư pháp tỉnh Hưng Yên;
- Lưu hồ sơ HC - TP.
9
10
11
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 168/2026/HS-ST Bản án số 168/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 168/2026/HS-ST Bản án số 168/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất