Bản án số 165/2024/DS-PT ngày 02/05/2024 của TAND tỉnh Bến Tre về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 165/2024/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 165/2024/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 165/2024/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 165/2024/DS-PT ngày 02/05/2024 của TAND tỉnh Bến Tre về tranh chấp quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Bến Tre |
| Số hiệu: | 165/2024/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 02/05/2024 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị S. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 93/2023/DS-ST ngày 16/08/2023 của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre. |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẾN TRE
Bản án số: 165/2024/DS-PT
Ngày 29 - 02 - 2024
V vic tranh chấp quyn sử dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Ngọt
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thế Hồng
Ông Nguyễn Hữu Lương
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Hin - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bến
Tre.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Minh P- Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét
xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 535/2023/TLPT-DS ngày 24 tháng 11
năm 2023 v vic “Tranh chấp quyn sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 93/2023/DS-ST ngày 16/08/2023 của Tòa án
nhân dân huyn Mỏ Cày Nam bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 218/2024/QĐ-PT ngày
15 tháng 01 năm 2024; Quyết định hon phiên tòa số 414/2024/QĐ-PT ngày 30
tháng 01 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1933; Địa chỉ cư trú: Ấp T, x
C, huyn M, tỉnh Bến Tre.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn P1, sinh
năm 1976; Địa chỉ cư trú: Khu phố E, thị trấn M, huyn M, tỉnh Bến Tre (có mặt).
- Bị đơn:
1. Bà Trần Thị Mỹ V, sinh năm 1961; (có mặt)
2. Ông Bùi Quang P2, sinh năm 1956; (có mặt)
2
3. Chị Bùi Thị Tuyết L, sinh năm 1984;
4. Chị Bùi Thị Tuyết P3, sinh năm 1986;
5. Anh Bùi Quang T, sinh năm 1999;
Cùng địa chỉ cư trú: ấp T, x C, huyn M, tỉnh Bến Tre.
Người đại diện theo ủy quyền của chị Bùi Thị Tuyết L, Bùi Thị Tuyết P3,
anh Bùi Quang T: Bà Trần Thị Mỹ V, sinh năm 1961. Địa chỉ cư trú: ấp T, x C,
huyn M, tỉnh Bến Tre (có mặt).
Người bảo về quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Ông Bùi Quang P2 và
bà Trần Thị Mỹ V: Bà Trương Thị X – Luật sư thuộc Công ty H1 – Thuộc Đoàn
Luật sư tỉnh B (có mặt).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1968; Địa chỉ cư trú: ấp T, x C, huyn M,
tỉnh Bến Tre (vắng mặt lần thứ 2).
2. Ông Nguyễn Thành T1, sinh năm 1957; Địa chỉ cư trú: Số B N, Phường
A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh (xin xét xử vắng mặt).
3. Ông Phan Hồng C, sinh năm 1941; Địa chỉ cư trú: Số A đường D, Ấp B,
x H, huyn C, Thành phố Hồ Chí Minh (xin xét xử vắng mặt).
4. Chị Phan Thị Hồng T2, sinh năm 1974; Địa chỉ cư trú: Số A số A, phường
B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (xin xét xử vắng mặt).
5. Chị Phan Thị Hồng T3, sinh năm 1976; địa chỉ cư trú: Số E Q, Phường
A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (xin xét xử vắng mặt).
6. Chị Phan Thị Hồng T4, sinh năm 1978; địa chỉ cư trú: Số A chung cư P,
Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh (xin xét xử vắng mặt).
7. Bà Nguyễn Thị T5, sinh năm 1948; địa chỉ cư trú: Số A Đường số D,
Khu phố Í, phường T, Quận I, Thành phố Hồ Chí Minh (xin xét xử vắng mặt).
8. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1969; Địa chỉ cư trú: ấp T, x C, huyn M,
tỉnh Bến Tre (xin xét xử vắng mặt).
Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị S.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm
3
Theo đơn khởi kiện 02/8/2019, đơn khởi kiện bổ sung ngày 03/8/2022 của
nguyên đơn bà Nguyễn Thị S, lời trình bày trong quá trình tố tụng và tại phiên
tòa của người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Văn P1 có nội dung:
Trong đơn khởi kin bà Nguyễn Thị S buộc bà Trần Thị Mỹ V, ông Bùi
Quang P2, anh Bùi Quang T, chị Bùi Thị Tuyết P3, chị Bùi Thị Tuyết L phải đập
phá căn nhà xây dựng trái phép vào tháng 12/2009 và căn nhà do cụ Nguyễn Thị
T6 cất để trả lại hin trạng đất cho bà Nguyễn Thị S với tổng din tích 240.3m
2
bao gồm: Thửa 276A: 26.8m
2
; thửa 276B: 213.5m
2
(thuộc một phần thửa 174
(cũ), tờ bản đồ số 02, din tích 2800m
2
, loại đất ONT+CLN), tọa lạc tại ấp T, x
C, huyn M, tỉnh Bến Tre để bà Nguyễn Thị S quản lý sử dụng và đăng ký cấp
giấy chứng nhận quyn sử dụng đất theo quy định. Không đồng ý vic trả chi phí.
Tại phiên tòa, người đại din theo ủy quyn rút 01 phần yêu cầu khởi kin
đối với thửa đất 276A: 26.8m
2
(cho rằng phía nguyên đơn đang quản lý), phần
còn lại giữ nguyên yêu cầu. Lý do yêu cầu: Phần đất đang tranh chấp nêu trên
nằm 01 phần trong tổng din tích 2.800m
2
có nguồn gốc của cha mẹ của bà S là
cụ Nguyễn Hữu L1 và cụ Phan Thị C1 chết để lại. Sau khi cha mẹ chết, phần đất
này do bà S quản lý, nhưng người đăng ký sổ ruộng đất là bà Nguyễn Thị C2 (chị
gái của bà S). Cụ L1 và cụ C1 có 05 người con gái gồm: Bà Nguyễn Thị C2, chết
ngày 11/6/2008 – có con là ông Nguyễn Tấn Đ (hy sinh năm 1977), có cháu là bà
Nguyễn Thị D; Bà Nguyễn Ngọc A, chết ngày 23/8/2010, có con là ông Nguyễn
Thành T1; Bà Nguyễn Thị Tuyết H, chết ngày 06/5/2002, có chồng là ông Phan
Hồng C, có con là Phan Thị Hồng T2, Phan Thị Hồng T4, Phan Thị Hồng T3; Bà
Nguyễn Thị T5; Bà Nguyễn Thị S. Những người thừa kế nêu trên đu có văn bản
từ chối, không nhận di sản thừa kế liên quan đến thửa đất 174, nhượng toàn bộ
thửa đất này lại cho bà S quản lý, định đoạt và đăng ký, kê khai, cấp giấy chứng
nhận quyn sử dụng đất. Tháng 8/1989, Ủy ban nhân dân x C hỏi mượn đất của
gia đình bà S với din tích 1.000m
2
để lập chợ, phân thành 20 lô, mỗi lô 48m
2
,
mỗi năm người thuê đóng 03 giạ lúa cho gia đình bà S. Ngày 30/8/1995, Ủy ban
nhân dân xã C lập biên bản trả toàn bộ đất cho gia đình bà S, gia đình bà S hoàn
lại cho Ủy ban nhân dân x số tin 4.000.000 đồng là tin bơm cát. Trong biên
bản còn nêu: “Đồng ý giao lại toàn bộ đất cho gia đình bà C2… Còn một số hộ
nằm trên đất bà C2, hôm nay thuộc quyền hợp đồng của gia đình bà C2 và các
hộ trên”. Trong số hộ này có cụ Nguyễn Thị T6 là người nuôi bà Trần Thị Mỹ V
từ nhỏ (do mối quan h họ hàng). Lúc thuê đất, cụ T6 chỉ thuê 01 lô nhưng quá
trình sử dụng đ lấn ra đến nay khoảng 05 lô (khoảng 240m
2
). Năm 2014, cụ T6
chết, bà V quản lý tiếp, cất nhà tường trên din tích khoảng 48m
2
, có lập biên bản,
bà V có hứa nếu thua kin sẽ tự đập bỏ. Hin nay trên đất có 02 căn nhà (của cụ
T6 và của bà V), đu do vợ chồng bà V, ông P2 quản lý. Do bà S yêu cầu thời
4
gian dài nhưng không trả nên phát sinh khởi kin đến Tòa án.
Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn: Không đồng ý toàn bộ.
Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc, định giá đất: Đồng ý.
Theo đơn phản tố ngày 16/9/2022, đơn phản tố (bổ sung) ngày 27/9/2022
của bị đơn bà Trần Thị Mỹ V, ông Bùi Quang P2, lời trình bày trong quá trình tố
tụng và tại phiên tòa có nội dung:
Đối với yêu cầu khởi kin của nguyên đơn: Không đồng ý toàn bộ.
Bà Trần Thị Mỹ V, ông Bùi Quang P2 yêu cầu phản tố:
1. Yêu cầu bà Nguyễn Thị S bồi thường thit hại v tài sản với số tin:
7.502.000 đồng (gồm: tin vật tư các loại sửa chữa: 6.902.000 đồng; tin công thợ
02 ngày: 600.000 đồng). Lý do: Cây keo của gia đình bà Nguyễn Thị S ng đè lên
mái nhà của bà Trần Thị Mỹ V, ông Bùi Quang P2 gây thit hại.
2. Yêu cầu Tòa án công nhận phần đất thuộc một phần thửa 276, tờ bản đồ
số 39 có din tích theo đo đạc thực tế ngày 15/6/2022 là 240.3m
2
gồm thửa 276A
din tích 26.8m
2
và thửa 276B din tích 213.5m
2
, tọa lạc tại ấp T, x C, huyn M,
tỉnh Bến Tre là của bà Trần Thị Mỹ V, ông Bùi Quang P2.
Lý do: V nguồn gốc đất của cụ Nguyễn Hữu L1 và cụ Phan Thị C1.
Khoảng năm 1950, vợ chồng cụ L1 cho cụ Nguyễn Thị T6 (là bà ngoại nuôi của
bà V) phần đất khoảng 05 tầm vuông, tương đương khoảng 225m
2
. Vic này có
nhiu người biết và làm chứng. Do lúc đó thời kỳ chiến tranh, đất này bị bỏ hoang
không canh tác nên cụ T6 thực hin khai phá thành đất thổ cư với din tích 500m
2
,
đất nn nhà ở và mua bán tạp hóa. Sau đó, khu vực này nhiu người họp lại thành
chợ (chợ cũ). Năm 1990, khi Ủy ban nhân dân x C quy hoạch khu vực này thành
chợ, có thương lượng với cụ T6 thu gọn nhà lại trên nn cũ, có hỗ trợ lực lượng
phụ và ký giấy cho cụ T6 và cháu là bà V ở vĩnh viễn. Năm 1998, cụ T6 có giấy
ủy quyn cho bà V phần đất này do bà V là người được sinh ra và lớn lên trên
phần đất này. Bà V khi có chồng, con đ cùng chồng con ở trên phần đất này cho
đến nay, có đóng thuế nhà đất đầy đủ.
Vic hợp đồng mượn đất lập chợ giữa Ủy ban nhân dân x C và gia đình bà
S không liên quan gì đến phần đất này. Quá trình quản lý, sử dụng ông bà có đăng
ký, kê khai nhưng không được cấp giấy chứng nhận quyn sử dụng đất do bà S
tranh chấp từ khoảng năm 1997 – 1998 cho đến nay.
Năm 2009, ông bà có thu gọn nhà bị hư hỏng, cất lại nhà mới trên nn nhà
cũ để ở.
Ngày 09/5/2019, cây keo cổ thụ bên đất bà S ng đè lên sập một bên nhà
của ông bà. Đến ngày 04/8/2020, nhánh keo tiếp tục đổ lần 2 làm sập toàn bộ phần
5
ngói. Hai lần đu có báo chính quyn địa phương và xin dựng nhà tạm cột cây để
ở.
Hin nay, gia đình ông bà chỉ quản lý sử dụng phần đất này để ở, không
còn phần đất nào khác.
Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc, định giá đất: Đồng ý.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị N trình bày trong
quá trình tố tụng:
Vào năm 1995, Ủy ban nhân dân x C trả lại đất cho gia đình bà là trả toàn
bộ (trong đó có phần đang tranh chấp). Vào năm 1997, gia đình bà đ trực tiếp
quản lý phần đất ở phía sau (thửa 276A), không có giếng nước như gia đình ông
P2, bà V trình bày.
Xin vắng mặt tất cả các lần Tòa án triu tập.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị D, ông Nguyễn
Thành T1, ông Phan Hồng C, chị Phan Thị Hồng T2, chị Phan Thị Hồng T3, chị
Phan Thị Hồng T4, bà Nguyễn Thị T5 trình bày ý kiến trong quá trình tố tụng:
Thống nhất nhau v nguồn gốc đất đang tranh chấp, đu có văn bản từ chối,
không nhận di sản thừa kế liên quan đến thửa đất 174, tờ bản đồ số 2 nhường toàn
bộ thửa đất này lại cho bà S quản lý, định đoạt và đăng ký, kê khai, cấp giấy chứng
nhận quyn sử dụng đất.
Xin vắng mặt tất cả các lần Tòa án triu tập.
Do hòa giải không thành, Tòa án nhân dân huyn Mỏ Cày Nam đưa vụ án
ra xét xử.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 93/2023/DS-ST ngày 16/08/2023, Tòa án
nhân dân huyn Mỏ Cày Nam quyết định:
Căn cứ khoản 2, 6, 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 2 Điều 227
và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ Điều 166, Điều 202, Điều 203 của Luật đất đai năm 2013;
Căn cứ Điều 166, Điều 180, 236, 589, 604 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVWQH14, ngày 30/12/2016 quy định về
mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kin của nguyên đơn bà Nguyễn Thị S.
Chấp nhận 01 phần yêu cầu phản tố của bị đơn bà Trần Thị Mỹ V, ông Bùi
Quang P2.
6
Cụ thể tuyên:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị S về việc buộc
bà Trần Thị Mỹ V, ông Bùi Quang P2, anh Bùi Quang T, chị Bùi Thị Tuyết P3,
chị Bùi Thị Tuyết L phải đập phá căn nhà xây dựng vào tháng 12/2009 và căn
nhà của cụ Nguyễn Thị T6 để trả lại thửa ký hiệu 276B, diện tích 215.3m
2
(thuộc
01 phần của thửa 276, tờ bản đố số 39), tọa lạc tại ấp T, xã C, huyện M, tỉnh Bến
Tre.
2. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị S về việc buộc bà Trần
Thị Mỹ V, ông Bùi Quang P2, anh Bùi Quang T, chị Bùi Thị Tuyết P3, chị Bùi Thị
Tuyết L phải trả lại thửa 276A: 26.8m
2
(thuộc 01 phần của thửa 276, tờ bản đố
số 39), tọa lạc tại ấp T, xã C, huyện M, tỉnh Bến Tre.
3. Không chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị Mỹ V, ông Bùi Quang P2 về
việc yêu cầu Tòa án công nhận phần đất thửa 276A diện tích 26.8m
2
(thuộc một
phần thửa 276, tờ bản đồ số 39), tọa lạc tại ấp T, xã C, huyện M, tỉnh Bến Tre là
của ông bà.
4. Tiếp tục tạm giao cho bà Trần Thị Mỹ V, ông Bùi Quang P2, anh Bùi
Quang T, chị Bùi Thị Tuyết P3, chị Bùi Thị Tuyết L quản lý sử dụng phần đất thửa
276B, diện tích 215.3m
2
(thuộc một phần thửa 276, tờ bản đồ số 39), tọa lạc tại
ấp T, xã C, huyện M, tỉnh Bến Tre.
Đối với thủ tục hưởng di sản thừa kế của cụ Nguyễn Thị T6 và việc đăng
ký, kê khai hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa
276B, diện tích 215.3m
2
nêu trên được thực hiện theo quy định của pháp luật khi
bản án có hiệu lực pháp luật. Nếu không thỏa thuận được thì khởi kiện bằng một
vụ án khác.
5. Buộc bà Nguyễn Thị S bồi thường thiệt hại về tài sản cho bà Trần Thị
Mỹ V, ông Bùi Quang P2 với số tiền là: 2.602.000 đồng (hai triệu sáu trăm lẻ hai
nghìn đồng).
Bác phần yêu cầu còn lại của bà Trần Thị Mỹ V, ông Bùi Quang P2 với số
tiền là 4.900.000 đồng (bốn triệu chín trăm nghìn đồng).
(Phần đất nêu trên được thể hiện trong Hồ sơ trích đo hiện trạng sử dụng
đất do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện M thực hiện đo vẽ kèm theo)
Ngoài ra, bản án còn tuyên v án phí, chi phí tố tụng và quyn kháng cáo
của các đương sự.
Ngày 29/8/2023, nguyên đơn bà Nguyễn Thị S kháng cáo một phần bản án
sơ thẩm, đ nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kin của nguyên
đơn.
7
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị S giữ nguyên kháng cáo, giữ nguyên yêu cầu
khởi kin. Bị đơn bà Trần Thị Mỹ V không đồng ý kháng cáo của bà S; đ nghị
Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm. Các đương sự không thỏa thuận được
vic giải quyết vụ án.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà V, ông P2 trình bày:
Thừa nhận nguồn gốc đất của ông L1, bà C1 (cha mẹ bà S). Cha mẹ bà S
cho bà ngoại bà V là bà Nguyễn Thị T6, khi cho đất là đất ruộng.
Bà S không có căn cứ để chứng minh đất cho bà S (trong đó có phần đang
tranh chấp). Những người làm chứng tại địa phương đ có xác nhận cho bị đơn
v quá trình sử dụng đất của phía bị đơn (trong đó có cán bộ xã C xác nhận) mà
phía bị đơn có nộp cho Toà án cấp sơ thẩm 17 giấy xác nhận. Bà T6 và gia đình
bà T6 đ sử dụng đất ổn định lâu dài, bà T6 có thực hin đóng thuế cho nhà nước
đầy đủ. Vic dời nhà của phía bị đơn là do lực lưỡng x dời, đồng thời xem xét
giải quyết cho phía bị đơn được ở vĩnh viễn. Vic mượn đất làm chợ là mượn đất
ruộng, mượn của bà C2 chứ không phải mượn của bà S.Vic giao trả là trả cho bà
C2 cũng không phải trả cho bà S. Phía bị đơn không có thuê đất của nguyên đơn.
Vì vậy, đ nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ
nguyên bản án sơ thẩm.
Đại din Vin kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre phát biểu:
V tố tụng: Những người tiến hành tố tụng đ tuân theo đúng các quy định
của Bộ luật tố tụng dân sự; những người tham gia tố tụng đ thực hin quyn và
nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật.
V nội dung: Đ nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điu 308 Bộ luật tố
tụng dân sự năm 2015, tuyên xử theo hướng: Không chấp nhận kháng cáo của bà
Nguyễn Thị S. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 93/2023/DS-ST ngày
16/8/2023 của Toà án nhân dân huyn Mỏ Cày Nam.
Căn cứ vào các tài liu, chứng cứ có trong hồ sơ đ được thẩm tra công khai
tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa; xét kháng cáo của nguyên đơn
Nguyễn Thị S; ý kiến đ nghị của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
V tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị S kháng cáo và gửi thủ tục kháng
cáo hợp l trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc
thẩm.
V nội dung: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị S khởi kin yêu cầu các bị đơn
8
Trần Thị Mỹ V, ông Bùi Quang P2, anh Bùi Quang T, chị Bùi Thị Tuyết P3, chị
Bùi Thị Tuyết L phải đập phá căn nhà xây dựng trái phép vào tháng 12/2009 và
căn nhà do cụ Nguyễn Thị T6 cất để trả lại hin trạng đất cho bà Nguyễn Thị S
với tổng din tích 240,3m
2
bao gồm: Thửa 276A: 26,8m
2
; thửa 276B: 213,5m
2
(thuộc một phần thửa 174 (cũ), tờ bản đồ số 02, din tích 2800m
2
, loại đất
ONT+CLN), tọa lạc tại ấp T, x C, huyn M, tỉnh Bến Tre. Tại phiên tòa sơ thẩm,
nguyên đơn rút yêu cầu khởi kin đối với thửa 276A, din tích 26,8m
2
nên Tòa án
cấp sơ thẩm đình chỉ đối với phần rút yêu cầu này; nguyên đơn giữ nguyên yêu
cầu khởi kin đối với thửa 276B din tích 213,5m
2
.
[1] Xét nguồn gốc thửa đất:
Phần đất các bên tranh chấp theo Hồ sơ trích đo ngày 15/6/2022 thuộc một
phần thửa 174, tờ bản đồ số 02 toạ lạc ấp T, x C, huyn M, tỉnh Bến Tre, qua đo
đạc thực tế hin nay thuộc một phần thửa đất 276, tờ bản đồ số 39, toạ lạc ấp T,
x C, huyn M, tỉnh Bến Tre, trong đó thửa 276A din tích 26,8m
2
; thửa 276B
din tích 213,5m
2
.
V nguồn gốc đất, nguyên đơn và bị đơn đu thống nhất phần đất tranh chấp
là của cụ Nguyễn Hữu L1 và cụ Phan Thị C1 (là cha mẹ ruột của bà S). Tuy nhiên,
bà S cho rằng, sau khi cha mẹ bà qua đời thì thửa đất tranh chấp gia đình đ thống
nhất để cho bà Nguyễn Thị C2 đại din đứng tên trên sổ mục kê đất nhưng đất là
do bà S quản lý từ năm 1995 đến nay. Cụ C1 và cụ L1 sinh được 05 người con
gồm: Nguyễn Thị C2 (bnh chết ngày 11/6/2008), Nguyễn Thị S, Nguyễn Ngọc
A (bnh chết ngày 23/8/2010), Nguyễn Thị T5, Nguyễn Thị Tuyết H. Năm 1989,
Ủy ban nhân dân x C có hỏi mượn phần đất của gia đình bà S để phân lô cho
thuê để bà con mua bán, trong đó có gia đình bà V. Ngày 30/8/1995, Ủy ban nhân
dân xã C lập biên bản giao trả toàn bộ nn chợ cũ cho gia đình bà C2 quản lý, tuy
nhiên phía gia đình bà V không thực hin giao trả mà còn tự ý xây dựng nhà trên
phần đất hin đang tranh chấp. Phía bị đơn cho rằng, khoảng năm 1950, cụ C1 và
cụ L1 có cho bà Nguyễn Thị T6 (bà V gọi là bà N1) một phần đất để ở, din tích
khoảng 5 tầm vuông, đương đương 225m
2
, vic cho đất chỉ nói ming không có
làm giấy tờ. Sau khi cụ C1 và cụ L1 cho đất thì bà T6 quản lý, sử dụng đất đến
khi bà T6 mất thì giao lại cho bà V tiếp tục quản lý, sử dụng cho đến nay.
[2] Đối với các hàng thừa kế của vụ C1, cụ L1 là bà Nguyễn Thị C2 có một
người con duy nhất tên Nguyễn Tấn Đ là lit sĩ, ông Đ có một người con là bà
Nguyễn Thị D. Ông Nguyễn Thanh T7 là người thừa kế quyn và nghĩa vụ của bà
Nguyễn Ngọc A; ông Phan Hồng C, bà Phan Thị Hồng T2, bà Phan Thị Hồng T3,
bà Phan Thị Hồng T4 là người thừa kế quyn và nghĩa vụ của bà Nguyễn Thị
9
Tuyết H và bà Nguyễn Thị T5 đ có văn bản từ chối nhận di sản thừa kế và đồng
ý giao lại toàn bộ thửa đất trên cho bà S.
Thấy rằng, các bên đu thống nhất phần tranh chấp có nguồn gốc của gia
đình bà S. Bà S cho rằng khi giao đất cho Ủy ban nhân dân x C để lập chợ thì
gia đình bà V có thuê một lô để ở nhưng phía bà S không cung cấp được chứng
cứ chứng minh cho vic gia đình bà V có thuê đất và thỏa thuận vic đóng thuế
mỗi năm 03 giạ lúa cho gia đình bà. Mặt khác, nguyên đơn cũng không cung cấp
được tài liu thể hin khi giao đất cho Ủy ban nhân dân x C làm chợ thì din tích
là bao nhiêu và biên bản v vic bàn giao nn chợ cũ khi Ủy ban nhân dân x C
giao trả đất cho gia đình bà cũng không thể hin din tích và hin trạng đất khi
giao trả. Phía bị đơn cung cấp biên bản v vic quy hoạch và di chuyển nhà của
bà Nguyễn Thị T6 vào ngày 17/10/1990 xác định bà T6 được ở vĩnh viễn tại vị trí
nhà được dời đến. Mặc dù nội dung biên bản không thể hin vị trí thửa đất mà gia
đình bà T6 dời đến và được cho phép ở nhưng căn cứ Công văn số 136/UBND-
CV ngày 13/3/2019 của Ủy ban nhân dân x C xác nhận thông tin: Năm 1991, Ủy
ban nhân dân xã C thuê hết thửa 174, tờ bản đồ số 02, din tích 2800m
2
để làm
chợ C3. Trong thời điểm thuê thửa đất 174, din tích 2800m
2
để làm chợ đ có
nhà của bà Nguyễn Thị T6 (bà ngoại của bà Trần Thị Mỹ V) nhưng không rõ ở
năm nào và din tích bao nhiêu. Theo xác nhận của các ông Huỳnh Văn L2, Phan
Văn T8, Lê Văn T9, Huỳnh Văn A1, Ngô Văn D1, bà Nguyễn Thị L3, trong đó
có một số người là cán bộ xã C vào thời điểm thuê đất của bà S đu xác nhận gia
đình bà T6 đ được cụ C1, cụ L1 cho đất ở từ trước năm 1964. Như vậy, có căn
cứ cho rằng bà T6 đ được cho đất sinh sống trước khi bà S cho thuê đất lập chợ
và sau đó bà T6 đ giao lại đất cho bà V quản lý, sử dụng. Do đó, vic bà S yêu
cầu gia đình bà V trả đất là không có căn cứ chấp nhận.
[3] Đối với phần đất thửa 276B có din tích 213,5m
2
qua kết quả xem xét,
thẩm định tại chỗ nằm hoàn toàn trong hành lang bảo v an toàn công trình đường
bộ. Tại khoản 3 Điu 157 Luật đất đai năm 2013 có quy định người đang sử dụng
đất được pháp luật thừa nhận mà đất đó nằm trong hành lang bảo v an toàn công
trình thì được tiếp tục sử dụng đất theo đúng mục đích đ được nhà nước xác định
và không được gây cản trở cho vic bảo v an toàn công trình. Thửa đất 174 trước
đây, hin nay là một phần thửa 276, tờ bản đồ số 39, khi bà C2 đăng ký hồ sơ địa
chính thì toàn bộ 2800m
2
thửa 174 đu ghi là đất “T”. Theo quy định tại Quyết
định số 47/2022/QĐ-UBND ngày 28/10/2022 của Ủy ban nhân dân tỉnh B tại
Điu 4 quy định v din tích đất tối thiểu để tách thửa: “Đất ở tại xã: tối thiểu
50m
2
nhưng phải sau khi trừ hành lang an toàn bảo vệ công trình công cộng,
chiều rộng mặt tiền và chiều sâu của thửa lớn hơn hoằc bằng 04m”. Tòa án đ
hỏi ý kiến của cơ quan có thẩm quyn v điu kin cấp giấy chứng nhận quyn sử
10
dụng đất đối với din tích đất, vị trí, mục đích sử dụng đất nhưng cơ quan có thẩm
quyn lại trả lời căn cứ vào điểm d khoản 1 Điu 99 Luật đất đai năm 2013 v các
trường hợp được cấp giấy chứng nhận quyn sử dụng đất: “...Theo bản án hoặc
quyết định của Tòa án nhân dân…” nên không có căn cứ để xem xét. Thấy rằng,
mặc dù hộ bà V, ông P2 đang quản lý, sử dụng phần đất thửa 276B. Tuy nhiên có
căn cứ xác định bà T6 là người được cho đất, bà T6 chết vẫn còn thời hiu yêu
cầu chia thừa kế và hàng thừa kế của bà T6 chưa xác định được. Bà V cho rằng
bà là cháu ngoại của bà T6, được bà T6 nuôi từ nhỏ và được bà T6 ủy quyn cho
hưởng phần đất này vào năm 1998. Tuy nhiên, vic thực hin ủy quyn vào thời
điểm bà T6 chưa được công nhận quyn sử dụng đất nên không có hiu lực thi
hành. Do đó, tiếp tục tạm giao cho bà V, ông P2 quản lý, sử dụng theo nhận định
của bản án sơ thẩm là phù hợp.
[4] Mặc khác, tại thời điểm cụ T6 ở trên đất cũng như thời điểm thỏa thuận
cho thuê đất của gia đình bà S, mặc dù phần đất đang tranh chấp nói riêng cũng
như toàn bộ thửa 174 nói chung có nguồn gốc của gia đình bà S nhưng Nhà nước
chưa công nhận quyn sử dụng đất cho gia đình bà S. Chỉ đến năm 1992, bà
Nguyễn Thị C2 là chị của bà S mới thực hin đăng ký thửa đất nêu trên trong hồ
sơ địa chính được thể hin tại Công văn số 406/CNMCN-TTLT ngày 21/10/2020
(BL 250) và tài liu do của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyn M cung
cấp (BL 165, 166).
[5] Đối với vic bà C2 đăng ký hồ sơ địa chính toàn bộ thửa 174 (hin nay
là 01 phần thửa 276 do có vic nhập thửa khi đo đạc chính quy) trong đó có phần
đất mà cụ T6 đang cất nhà nhưng không có ý kiến của cụ T6 là không phù hợp
với quy định pháp luật.
[6] Bà S không còn chứng cứ nào chứng minh đất là của cá nhân của bà, do
bà không có quá trình canh tác, quản lý thửa 276B (hin có nhà của bị đơn) hay
thực hin nghĩa vụ thuế đối với nhà nước. Bà S cũng không phải là người đăng ký
kê khai hồ sơ địa chính mà do bà C2 đăng ký. Hồ sơ cũng thể hin bà S chỉ là một
trong những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của vợ chồng cụ L1, mặc dù những
người thừa kế khác từ bỏ quyn thừa kế, không tranh chấp. Vì vậy yêu cầu khởi
kin của bà S là không có căn cứ để chấp nhận.
[7] Từ những phân tích trên, nhận thấy nguyên đơn bà Nguyễn Thị S kháng
cáo nhưng vic chứng minh cho kháng cáo của phía nguyên đơn tại phiên tòa phúc
thẩm là không có cơ sở để chấp nhận. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm không
chấp nhận kháng cáo của bà S. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 93/2023/DS-
ST ngày 16/08/2023 của Tòa án nhân dân huyn Mỏ Cày Nam.
[8] Các nội dung khác của quyết bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
11
nghị đ có hiu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị phúc
thẩm.
[9] Quan điểm của người bảo v quyn lợi ích hợp pháp của bị đơn tại phiên
tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[10] Quan điểm của đại din Vin kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tại phiên
tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[11] V án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên
nguyên đơn bà Nguyễn Thị S phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên, bà S
là người cao tuổi nên được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điu 12
Nghị quyết 326/2016/UBTVWQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban Thường vụ
Quốc hội v mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và l phí
Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điu 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị S.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 93/2023/DS-ST ngày 16/08/2023 của
Tòa án nhân dân huyn Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.
Căn cứ khoản 2, 6, 9 Điu 26, điểm a khoản 1 Điu 35, khoản 2 Điu 227 và
khoản 1 Điu 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ Điu 166, Điu 202, Điu 203 của Luật đất đai năm 2013;
Căn cứ Điu 166, Điu 180, 236, 589, 604 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVWQH14, ngày 30/12/2016 quy định v
mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và l phí Tòa án.
Tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kin của nguyên đơn bà Nguyễn Thị S.
Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn bà Trần Thị Mỹ V, ông Bùi
Quang P2.
Cụ thể tuyên:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kin của bà Nguyễn Thị S v vic buộc bà
Trần Thị Mỹ V, ông Bùi Quang P2, anh Bùi Quang T, chị Bùi Thị Tuyết P3, chị
Bùi Thị Tuyết L phải đập phá căn nhà xây dựng vào tháng 12/2009 và căn nhà
của cụ Nguyễn Thị T6 để trả lại thửa ký hiu 276B, din tích 215,3m
2
(thuộc 01
phần của thửa 276, tờ bản đố số 39), tọa lạc tại ấp T, x C, huyn M, tỉnh Bến Tre.
12
2. Đình chỉ yêu cầu khởi kin của bà Nguyễn Thị S v vic buộc bà Trần Thị
Mỹ V, ông Bùi Quang P2, anh Bùi Quang T, chị Bùi Thị Tuyết P3, chị Bùi Thị
Tuyết L phải trả lại thửa 276A: 26,8m
2
(thuộc 01 phần của thửa 276, tờ bản đố số
39), tọa lạc tại ấp T, x C, huyn M, tỉnh Bến Tre.
3. Không chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị Mỹ V, ông Bùi Quang P2 v
vic yêu cầu Tòa án công nhận phần đất thửa 276A din tích 26,8m
2
(thuộc một
phần thửa 276, tờ bản đồ số 39), tọa lạc tại ấp T, x C, huyn M, tỉnh Bến Tre là
của ông bà.
4. Tiếp tục tạm giao cho bà Trần Thị Mỹ V, ông Bùi Quang P2, anh Bùi
Quang T, chị Bùi Thị Tuyết P3, chị Bùi Thị Tuyết L quản lý sử dụng phần đất
thửa 276B, din tích 215,3m
2
(thuộc một phần thửa 276, tờ bản đồ số 39), tọa lạc
tại ấp T, x C, huyn M, tỉnh Bến Tre.
Đối với thủ tục hưởng di sản thừa kế của cụ Nguyễn Thị T6 và vic đăng ký,
kê khai hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyn sử dụng đất đối với thửa
276B, din tích 215,3m
2
nêu trên được thực hin theo quy định của pháp luật khi
bản án có hiu lực pháp luật. Nếu không thỏa thuận được thì khởi kin bằng một
vụ án khác.
(Theo Hồ sơ trích đo hiện trạng sử dụng đất do Chi nhánh Văn phòng đăng
ký đất đai huyện M thực hiện đo vẽ kèm theo bản án).
5. Buộc bà Nguyễn Thị S bồi thường thit hại v tài sản cho bà Trần Thị Mỹ
V, ông Bùi Quang P2 với số tin là: 2.602.000 đồng (Hai triu sáu trăm lẻ hai
nghìn đồng).
6. Bác phần yêu cầu còn lại của bà Trần Thị Mỹ V, ông Bùi Quang P2 với
số tin là 4.900.000 đồng (Bốn triu chín trăm nghìn đồng).
7. V chi phí tố tụng (xem xét, thẩm định, đo đạc, định giá tài sản, thu thập
quy trình cấp giấy chứng nhận) số tin 4.284.000 đồng (Bốn triu hai trăm tám
mươi bốn nghìn đồng), nguyên đơn chịu ½ chi phí tố tụng, bị đơn chịu ½ chi phí
tố tụng.
Do bà S đ nộp tạm ứng chi phí tố tụng. Buộc bà Trần Thị Mỹ V, ông Bùi
Quang P2 phải liên đới hoàn trả cho bà Nguyễn Thị S số tin 2.142.000 đồng (Hai
triu một trăm bốn mươi hai nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án có hiu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi
hành án có quyn chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu
cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tin phải trả cho
người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tin, hàng
13
tháng bên phải thi hành án còn phải chịu tin li của số tin còn phải thi hành án
theo mức li suất quy định tại khoản 2 Điu 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
8. V án phí dân sự sơ thẩm:
8.1. Án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch (đối với yêu cầu bị bác):
300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), bà Nguyễn Thị S chịu nhưng được miễn do
là người cao tuổi.
8.2. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch (đối với nghĩa vụ bồi thường thit
hại v tài sản cho bị đơn): 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), bà Nguyễn Thị S
chịu nhưng được miễn do là người cao tuổi.
8.3. Án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch (đối với yêu cầu phản tố bị
bác): 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), bà Trần Thị Mỹ V, ông Bùi Quang P2
chịu nhưng được miễn do là người cao tuổi.
8.4. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch (đối với yêu cầu phản tố của bị đơn
bị bác): 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), bà Trần Thị Mỹ V, ông Bùi Quang
P2 chịu nhưng được miễn do là người cao tuổi.
9. V án phí dân sự phúc thẩm: bà Nguyễn Thị S được miễn án phí dân sự
phúc thẩm do là người cao tuổi.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điu 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyn
thỏa thuận thi hành án, quyn yêu cầu thi hành án, tự nguyn thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điu 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi
hành án dân sự; thời hiu thi hành án được thực hin theo quy định tại Điu 30
Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Bến Tre;
- TAND huyn Mỏ Cày Nam;
- Chi cục THADS huyn Mỏ Cày Nam;
- Phòng KTNV&THA TAND tỉnh;
- Các đương sự;
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Văn Ngọt
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 09/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 07/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 31/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 31/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 30/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 30/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 28/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 26/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 25/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 25/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 25/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 22/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 18/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 18/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 17/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm