Bản án số 165/2024/DS-PT ngày 02/05/2024 của TAND tỉnh Bến Tre về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 165/2024/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 165/2024/DS-PT ngày 02/05/2024 của TAND tỉnh Bến Tre về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Bến Tre
Số hiệu: 165/2024/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 02/05/2024
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị S. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 93/2023/DS-ST ngày 16/08/2023 của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẾN TRE
Bản án số: 165/2024/DS-PT
Ngày 29 - 02 - 2024
V vic tranh chấp quyn sử dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm :
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Ngọt
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thế Hồng
Ông Nguyễn Hữu Lương
- Thư phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Hin - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bến
Tre.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa:
Nguyễn Thị Minh P- Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét
xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số: 535/2023/TLPT-DS ngày 24 tháng 11
năm 2023 v vic “Tranh chấp quyn sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự thẩm số: 93/2023/DS-ST ngày 16/08/2023 của Tòa án
nhân dân huyn Mỏ Cày Nam bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 218/2024/QĐ-PT ngày
15 tháng 01 năm 2024; Quyết định hon phiên tòa s 414/2024/QĐ-PT ngày 30
tháng 01 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Nguyễn Thị S, sinh năm 1933; Địa chỉ trú: Ấp T, x
C, huyn M, tỉnh Bến Tre.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn P1, sinh
năm 1976; Địa chỉ trú: Khu phố E, thị trấn M, huyn M, tỉnh Bến Tre (có mặt).
- Bị đơn:
1. Bà Trần Thị Mỹ V, sinh năm 1961; (có mặt)
2. Ông Bùi Quang P2, sinh năm 1956; (có mặt)
2
3. Chị Bùi Thị Tuyết L, sinh năm 1984;
4. Chị Bùi Thị Tuyết P3, sinh năm 1986;
5. Anh Bùi Quang T, sinh năm 1999;
Cùng địa chỉ cư trú: ấp T, x C, huyn M, tỉnh Bến Tre.
Người đại diện theo ủy quyền của chị Bùi Thị Tuyết L, Bùi Thị Tuyết P3,
anh Bùi Quang T: Bà Trần Thị Mỹ V, sinh năm 1961. Địa chỉ cư trú: ấp T, x C,
huyn M, tỉnh Bến Tre (có mặt).
Người bảo về quyền và lợi ích hợp pháp cho bđơn: Ông Bùi Quang P2 và
Trần Thị Mỹ V: Bà Trương Thị X Luật sư thuộc Công ty H1 Thuộc Đoàn
Luật sư tỉnh B (có mặt).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1968; Địa chỉ cư trú: ấp T, x C, huyn M,
tỉnh Bến Tre (vắng mặt lần thứ 2).
2. Ông Nguyễn Thành T1, sinh năm 1957; Địa chỉ cư trú: Số B N, Phường
A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh (xin xét xử vắng mặt).
3. Ông Phan Hồng C, sinh năm 1941; Địa chỉ cư trú: Số A đường D, Ấp B,
x H, huyn C, Thành phố Hồ Chí Minh (xin xét xử vắng mặt).
4. Chị Phan Thị Hồng T2, sinh năm 1974; Địa chỉ trú: Số A số A, phường
B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (xin xét xử vắng mặt).
5. Chị Phan Thị Hồng T3, sinh năm 1976; địa chỉ trú: Số E Q, Phường
A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (xin xét xử vắng mặt).
6. Chị Phan Thị Hồng T4, sinh năm 1978; địa chỉ cư trú: Số A chung cư P,
Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh (xin xét xử vắng mặt).
7. Nguyễn Thị T5, sinh năm 1948; địa chỉ trú: Số A Đường số D,
Khu phố Í, phường T, Quận I, Thành phố Hồ Chí Minh (xin xét xử vắng mặt).
8. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1969; Địa chỉ cư trú: ấp T, x C, huyn M,
tỉnh Bến Tre (xin xét xử vắng mặt).
Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị S.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm
3
Theo đơn khởi kiện 02/8/2019, đơn khởi kiện bổ sung ngày 03/8/2022 của
nguyên đơn Nguyễn Thị S, lời trình bày trong quá trình tố tụng tại phiên
tòa của người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Văn P1 nội dung:
Trong đơn khởi kin Nguyễn Thị S buộc Trần Thị Mỹ V, ông Bùi
Quang P2, anh Bùi Quang T, chị Bùi Thị Tuyết P3, chị Bùi Thị Tuyết L phải đập
phá căn nhà xây dựng trái phép vào tháng 12/2009 và căn nhà do cụ Nguyễn Thị
T6 cất để trả lại hin trạng đất cho Nguyễn Thị S với tổng din tích 240.3m
2
bao gồm: Thửa 276A: 26.8m
2
; thửa 276B: 213.5m
2
(thuộc một phần thửa 174
(cũ), tờ bản đồ số 02, din tích 2800m
2
, loại đất ONT+CLN), tọa lạc tại ấp T, x
C, huyn M, tỉnh Bến Tre để Nguyễn Thị S quản sdụng đăng cấp
giấy chứng nhận quyn sử dụng đất theo quy định. Không đồng ý vic trả chi phí.
Tại phiên tòa, người đại din theo ủy quyn rút 01 phần yêu cầu khởi kin
đối với thửa đất 276A: 26.8m
2
(cho rằng phía nguyên đơn đang quản lý), phần
còn lại giữ nguyên yêu cầu. do yêu cầu: Phần đất đang tranh chấp nêu trên
nằm 01 phần trong tổng din tích 2.800m
2
nguồn gốc của cha mẹ của S
cụ Nguyễn Hữu L1 cụ Phan Thị C1 chết để lại. Sau khi cha mẹ chết, phần đất
này do bà S quản lý, nhưng người đăng ký sổ ruộng đất là Nguyễn Thị C2 (chị
gái của S). Cụ L1 và cụ C1 có 05 người con gái gồm: Bà Nguyễn Thị C2, chết
ngày 11/6/2008 con là ông Nguyễn Tấn Đ (hy sinh năm 1977), có cháu là bà
Nguyễn Thị D;Nguyễn Ngọc A, chết ngày 23/8/2010, có con là ông Nguyễn
Thành T1; Nguyễn Thị Tuyết H, chết ngày 06/5/2002, chồng ông Phan
Hồng C, con là Phan Thị Hồng T2, Phan Thị Hồng T4, Phan Thị Hồng T3;
Nguyễn Thị T5; Nguyễn Thị S. Những người thừa kế nêu trên đu có văn bản
từ chối, không nhận di sản thừa kế liên quan đến thửa đất 174, nhượng toàn bộ
thửa đất này lại cho bà S quản lý, định đoạt và đăng ký, khai, cấp giấy chứng
nhận quyn sử dụng đất. Tháng 8/1989, Ủy ban nhân dân x C hỏi mượn đất của
gia đình bà S với din tích 1.000m
2
để lập chợ, phân thành 20 lô, mỗi 48m
2
,
mỗi năm người thuê đóng 03 giạ lúa cho gia đình S. Ngày 30/8/1995, Ủy ban
nhân dân xã C lập biên bản trả toàn bộ đất cho gia đình bà S, gia đình bà S hoàn
lại cho Ủy ban nhân dân x số tin 4.000.000 đồng tin bơm cát. Trong biên
bản còn nêu: “Đồng ý giao lại toàn bộ đất cho gia đình C2Còn một số hộ
nằm trên đất C2, hôm nay thuộc quyền hợp đồng của gia đình C2 các
hộ trên”. Trong số hộ này có cụ Nguyễn Thị T6 là người nuôi bà Trần Thị Mỹ V
từ nhỏ (do mối quan h họ hàng). Lúc thuê đất, cụ T6 chỉ thuê 01 nhưng quá
trình sử dụng đ lấn ra đến nay khoảng 05 lô (khoảng 240m
2
). Năm 2014, cụ T6
chết, V quản tiếp, cất nhà tường trên din tích khoảng 48m
2
, lập biên bản,
V có hứa nếu thua kin sẽ tự đập bỏ. Hin nay trên đất 02 căn nhà (của c
T6 của V), đu do vchồng V, ông P2 quản lý. Do S yêu cầu thời
4
gian dài nhưng không trả nên phát sinh khởi kin đến Tòa án.
Đối với yêu cầu phản tố ca bị đơn: Không đồng ý toàn bộ.
Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc, định giá đất: Đồng ý.
Theo đơn phản tố ngày 16/9/2022, đơn phản tố (bổ sung) ngày 27/9/2022
của bị đơn bà Trần Thị Mỹ V, ông Bùi Quang P2, lời trình bày trong quá trình tố
tụng và tại phiên tòa có nội dung:
Đối với yêu cầu khởi kin của nguyên đơn: Không đồng ý toàn bộ.
Trần Thị Mỹ V, ông Bùi Quang P2 yêu cầu phản tố:
1. Yêu cầu Nguyễn Thị S bồi thường thit hại v tài sản với số tin:
7.502.000 đồng (gồm: tin vật các loại sửa chữa: 6.902.000 đồng; tin công thợ
02 ngày: 600.000 đồng). do: Cây keo của gia đình bà Nguyễn Thị S ng đè lên
mái nhà của bà Trần Thị Mỹ V, ông Bùi Quang P2 gây thit hại.
2. Yêu cầu Tòa án công nhận phần đất thuc một phần thửa 276, tờ bản đồ
số 39 có din tích theo đo đạc thực tế ngày 15/6/2022 là 240.3m
2
gồm thửa 276A
din tích 26.8m
2
và thửa 276B din tích 213.5m
2
, tọa lạc tại ấp T, x C, huyn M,
tỉnh Bến Tre là ca bà Trần Thị Mỹ V, ông Bùi Quang P2.
do: V nguồn gốc đất của cụ Nguyễn Hữu L1 cụ Phan Thị C1.
Khoảng năm 1950, vợ chồng cụ L1 cho cụ Nguyễn Thị T6 (là bà ngoại nuôi của
V) phần đất khoảng 05 tầm vuông, tương đương khoảng 225m
2
. Vic này
nhiu người biết làm chứng. Do lúc đó thời kỳ chiến tranh, đất này bị bhoang
không canh tác nên cụ T6 thực hin khai phá thành đất thổ với din tích 500m
2
,
đất nn nhà ở và mua bán tạp hóa. Sau đó, khu vực này nhiu người họp lại thành
chợ (chợ cũ). Năm 1990, khi Ủy ban nhân dân x C quy hoạch khu vực này thành
chợ, thương lượng với cụ T6 thu gọn nhà lại trên nn cũ, hỗ trợ lực lượng
phụ và ký giấy cho cụ T6cháu là bà V vĩnh viễn. Năm 1998, cụ T6 có giấy
ủy quyn cho V phần đất này do V người được sinh ra lớn lên trên
phần đất này. Bà V khi có chồng, con đ cùng chồng con ở trên phần đấty cho
đến nay, có đóng thuế nhà đất đầy đủ.
Vic hợp đồng mượn đất lập chợ giữa Ủy ban nhân dân x C và gia đình
S không liên quan đến phần đất này. Quá trình quản lý, sử dụng ông đăng
ký, khai nhưng không được cấp giấy chứng nhận quyn sử dụng đất do S
tranh chấp từ khoảng năm 1997 1998 cho đến nay.
Năm 2009, ông bà có thu gọn nhà bị hư hỏng, cất lại nhà mới trên nn nhà
cũ để ở.
Ngày 09/5/2019, cây keo cổ thụ bên đất S ng đè lên sập một bên nhà
của ông bà. Đến ngày 04/8/2020, nhánh keo tiếp tục đlần 2 làm sập toàn bộ phần
5
ngói. Hai lần đu có báo chính quyn địa phương và xin dựng nhà tạm cột cây để
ở.
Hin nay, gia đình ông chỉ quản sử dụng phần đất này để ở, không
còn phần đất nào khác.
Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc, định giá đất: Đồng ý.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị N trình bày trong
quá trình tố tụng:
Vào năm 1995, Ủy ban nhân dân x C trả lại đất cho gia đình bà là trả toàn
bộ (trong đó phần đang tranh chấp). Vào năm 1997, gia đình đtrực tiếp
quản lý phần đất ở phía sau (thửa 276A), không giếng nước như gia đình ông
P2, bà V trình bày.
Xin vắng mặt tất cả các lần Tòa án triu tập.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Nguyễn Thị D, ông Nguyễn
Thành T1, ông Phan Hồng C, chị Phan Thị Hồng T2, chị Phan Thị Hồng T3, chị
Phan Thị Hồng T4, bà Nguyễn Thị T5 trình bày ý kiến trong quá trình tố tng:
Thống nhất nhau v nguồn gốc đất đang tranh chấp, đu văn bản tchối,
không nhận di sản thừa kế liên quan đến thửa đất 174, tờ bản đồ số 2 nhường toàn
bộ thửa đất này lại cho S quản lý, định đoạt đăng ký, khai, cấp giấy chứng
nhận quyn sử dụng đất.
Xin vắng mặt tất cả các lần Tòa án triu tập.
Do hòa giải không thành, Tòa án nhân dân huyn Mỏ Cày Nam đưa vụ án
ra xét xử.
Tại Bản án dân sự thẩm số 93/2023/DS-ST ngày 16/08/2023, Tòa án
nhân dân huyn Mỏ Cày Nam quyết định:
Căn cứ khoản 2, 6, 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 2 Điều 227
và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ Điều 166, Điều 202, Điều 203 của Luật đất đai năm 2013;
Căn cứ Điều 166, Điều 180, 236, 589, 604 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVWQH14, ngày 30/12/2016 quy định về
mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kin của nguyên đơn bà Nguyễn Thị S.
Chấp nhận 01 phần yêu cầu phản tố của bị đơn bà Trần Thị Mỹ V, ông Bùi
Quang P2.
6
Cụ thể tuyên:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị S về việc buộc
Trần Thị Mỹ V, ông Bùi Quang P2, anh Bùi Quang T, chị Bùi Thị Tuyết P3,
chị Bùi Thị Tuyết L phải đập phá căn nhà xây dựng vào tháng 12/2009 căn
nhà của cụ Nguyễn Thị T6 để trả lại thửa ký hiệu 276B, diện tích 215.3m
2
(thuộc
01 phần của thửa 276, tờ bản đố số 39), tọa lạc tại ấp T, xã C, huyện M, tỉnh Bến
Tre.
2. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị S về việc buộc Trần
Thị Mỹ V, ông Bùi Quang P2, anh Bùi Quang T, chị Bùi Thị Tuyết P3, chị Bùi Thị
Tuyết L phải trả lại thửa 276A: 26.8m
2
(thuộc 01 phần của thửa 276, tờ bản đố
số 39), tọa lạc tại ấp T, xã C, huyện M, tỉnh Bến Tre.
3. Không chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị Mỹ V, ông Bùi Quang P2 về
việc yêu cầu Tòa án công nhận phần đất thửa 276A diện tích 26.8m
2
(thuộc một
phần thửa 276, tờ bản đồ số 39), tọa lc tại ấp T, xã C, huyện M, tỉnh Bến Tre
của ông bà.
4. Tiếp tục tạm giao cho Trần Thị Mỹ V, ông Bùi Quang P2, anh Bùi
Quang T, chị Bùi Thị Tuyết P3, chị Bùi Thị Tuyết L quản lý sdụng phần đất thửa
276B, diện tích 215.3m
2
(thuộc một phần thửa 276, tờ bản đsố 39), tọa lạc tại
ấp T, xã C, huyện M, tỉnh Bến Tre.
Đối với thủ tục hưởng di sản thừa kế của cụ Nguyễn Thị T6 việc đăng
ký, kê khai hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa
276B, diện tích 215.3m
2
nêu trên được thực hiện theo quy định của pháp luật khi
bản án có hiệu lực pháp luật. Nếu không thỏa thuận được thì khởi kiện bằng một
vụ án khác.
5. Buộc bà Nguyễn Thị S bồi thường thiệt hại về tài sản cho Trần Thị
Mỹ V, ông Bùi Quang P2 với số tiền là: 2.602.000 đồng (hai triệu sáu trăm lẻ hai
nghìn đồng).
Bác phần yêu cu còn lại của bà Trần Thị Mỹ V, ông Bùi Quang P2 với s
tiền là 4.900.000 đồng (bốn triệu chín trăm nghìn đồng).
(Phần đất nêu trên được thể hiện trong Hồ sơ trích đo hiện trạng sử dụng
đất do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện M thực hiện đo vẽ kèm theo)
Ngoài ra, bản án còn tuyên v án phí, chi ptố tụng quyn kháng cáo
của các đương sự.
Ngày 29/8/2023, nguyên đơn bà Nguyễn Thị S kháng cáo một phần bản án
thẩm, đ ngh Hội đng xét x chp nhn toàn b yêu cu khi kin ca nguyên
đơn.
7
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn Nguyễn Thị S giữ nguyên kháng cáo, giữ nguyên yêu cầu
khởi kin. Bị đơn Trần Thị Mỹ V không đồng ý kháng cáo của S; đ nghị
Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm. Các đương sự không tha thuận được
vic gii quyết v án.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà V, ông P2 trình bày:
Thừa nhận nguồn gốc đất của ông L1, C1 (cha mẹ S). Cha mẹ S
cho bà ngoại bà V là bà Nguyễn Thị T6, khi cho đất là đất ruộng.
Bà S không có căn cứ để chứng minh đất cho bà S (trong đó có phần đang
tranh chấp). Những người làm chứng tại địa phương đ xác nhận cho bị đơn
v quá trình sử dụng đất của phía bị đơn (trong đó cán bộ xã C xác nhận)
phía bị đơn có nộp cho Toà án cấp sơ thẩm 17 giấy xác nhận. Bà T6 và gia đình
T6 đ sử dụng đất ổn định lâu dài, T6 có thực hin đóng thuế cho nhà nước
đầy đủ. Vic dời ncủa phía bị đơn do lực lưỡng x dời, đồng thời xem xét
giải quyết cho phía bị đơn được ở vĩnh viễn. Vic mượn đất làm chợ là mượn đất
ruộng, mượn của C2 chứ không phải mượn của S.Vic giao trả là trả cho bà
C2 cũng không phải trả cho bà S. Phía bị đơn không có thuê đất của nguyên đơn.
vậy, đnghị Hội đồng xét xkhông chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ
nguyên bản án sơ thẩm.
Đại din Vin kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre phát biểu:
V tố tụng: Những người tiến hành tố tụng đ tuân theo đúng các quy định
của Bộ luật tố tụng dân sự; những người tham gia tố tụng đ thực hin quyn
nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật.
V nội dung: Đ nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điu 308 Bộ luật t
tụng dân sự năm 2015, tuyên xử theo hướng: Không chấp nhận kháng cáo của bà
Nguyễn Thị S. Giữ nguyên bản án dân sự thẩm số 93/2023/DS-ST ngày
16/8/2023 của Toà án nhân dân huyn Mỏ Cày Nam.
Căn cứ vào các tài liu, chứng cứ trong hđđược thẩm tra công khai
tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa; xét kháng cáo của nguyên đơn
Nguyễn Thị S; ý kiến đ nghị của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
V ttụng: Nguyên đơn Nguyễn Thị S kháng cáo và gửi thủ tục kháng
cáo hợp l trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc
thẩm.
V nội dung: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị S khi kin yêu cu các b đơn
8
Trần Thị Mỹ V, ông Bùi Quang P2, anh Bùi Quang T, chị Bùi Thị Tuyết P3, chị
Bùi Thị Tuyết L phải đập phá căn nhà xây dựng trái phép vào tháng 12/2009
căn nhà do cụ Nguyễn Thị T6 cất để trả lại hin trạng đất cho Nguyễn Thị S
với tổng din tích 240,3m
2
bao gồm: Thửa 276A: 26,8m
2
; thửa 276B: 213,5m
2
(thuộc một phần thửa 174 (cũ), tờ bản đồ số 02, din tích 2800m
2
, loại đất
ONT+CLN), tọa lạc tại ấp T, x C, huyn M, tỉnh Bến Tre. Ti phiên tòa thẩm,
nguyên đơn rút yêu cầu khởi kin đối với thửa 276A, din tích 26,8m
2
nên Tòa án
cấp thẩm đình chỉ đối với phần rút yêu cầu này; nguyên đơn giữ nguyên yêu
cầu khởi kin đối với thửa 276B din tích 213,5m
2
.
[1] Xét nguồn gốc thửa đất:
Phần đất các bên tranh chấp theo Hồ sơ trích đo ngày 15/6/2022 thuộc một
phần thửa 174, tờ bản đồ số 02 toạ lạc ấp T, x C, huyn M, tỉnh Bến Tre, qua đo
đạc thực tế hin nay thuộc một phần thửa đất 276, tờ bản đồ số 39, toạ lạc ấp T,
x C, huyn M, tỉnh Bến Tre, trong đó thửa 276A din tích 26,8m
2
; thửa 276B
din tích 213,5m
2
.
V nguồn gốc đất, nguyên đơn bị đơn đu thống nhất phần đất tranh chấp
của cụ Nguyễn Hữu L1 cụ Phan Thị C1 (là cha mẹ ruột của S). Tuy nhiên,
S cho rằng, sau khi cha mẹ bà qua đời thì thửa đất tranh chấp gia đình đ thống
nhất để cho bà Nguyễn Thị C2 đại din đứng tên trên sổ mục kê đất nhưng đất là
do S quản từ năm 1995 đến nay. Cụ C1 cụ L1 sinh được 05 người con
gồm: Nguyễn Thị C2 (bnh chết ngày 11/6/2008), Nguyễn Thị S, Nguyễn Ngọc
A (bnh chết ngày 23/8/2010), Nguyễn Thị T5, Nguyễn Thị Tuyết H. Năm 1989,
Ủy ban nhân dân x C hỏi mượn phần đất của gia đình S để phân cho
thuê để bà con mua bán, trong đó có gia đình bà V. Ngày 30/8/1995, Ủy ban nhân
dân xã C lập biên bản giao trả toàn bộ nn chợ cũ cho gia đình bà C2 quản lý, tuy
nhiên phía gia đình bà V không thực hin giao trả mà còn tự ý xây dựng nhà trên
phần đất hin đang tranh chấp. Phía bị đơn cho rằng, khoảng năm 1950, cụ C1
cụ L1 có cho bà Nguyễn Thị T6 (bà V gọi là bà N1) một phần đất để ở, din tích
khoảng 5 tầm vuông, đương đương 225m
2
, vic cho đất chỉ nói ming không
làm giấy tờ. Sau khi cụ C1 cụ L1 cho đất thì T6 quản lý, sdụng đất đến
khi bà T6 mất thì giao lại cho bà V tiếp tục quản lý, sử dụng cho đến nay.
[2] Đối với các hàng thừa kế của vụ C1, cụ L1 là Nguyễn Thị C2 có một
người con duy nhất tên Nguyễn Tấn Đ lit sĩ, ông Đ một người con
Nguyễn Thị D. Ông Nguyễn Thanh T7 người thừa kế quyn và nghĩa vụ của
Nguyễn Ngọc A; ông Phan Hồng C, bà Phan Thị Hồng T2, bà Phan Th Hồng T3,
Phan Thị Hồng T4 người thừa kế quyn nghĩa vụ của Nguyễn Thị
9
Tuyết H và bà Nguyễn Thị T5 đ có văn bản từ chối nhận di sản thừa kế và đồng
ý giao lại toàn bộ thửa đất trên cho bà S.
Thấy rằng, các bên đu thống nhất phần tranh chấp nguồn gốc của gia
đình S. S cho rằng khi giao đất cho Ủy ban nhân dân x C để lập chợ thì
gia đình bà V thuê một để nhưng phía S không cung cấp được chứng
cứ chứng minh cho vic gia đình V thuê đất và thỏa thuận vic đóng thuế
mỗi năm 03 giạ lúa cho gia đình bà. Mặt khác, nguyên đơn cũng không cung cấp
được tài liu thhin khi giao đất cho Ủy ban nhân dân x C làm chợ thì din tích
bao nhiêu biên bản v vic bàn giao nn chợ khi Ủy ban nhân dân xC
giao trả đất cho gia đình cũng không thể hin din tích hin trạng đất khi
giao trả. Phía bị đơn cung cấp biên bản v vic quy hoạch và di chuyển nhà của
Nguyễn ThT6 vào ngày 17/10/1990 xác định T6 được ở vĩnh viễn tại vị trí
nhà được dời đến. Mặc dù nội dung biên bản không thể hin vị trí thửa đất mà gia
đình T6 dời đến được cho phép nhưng căn cứ Công văn số 136/UBND-
CV ngày 13/3/2019 của Ủy ban nhân dân x C xác nhận thông tin: Năm 1991, Ủy
ban nhân dân C thuê hết thửa 174, tờ bản đồ số 02, din tích 2800m
2
để làm
chợ C3. Trong thời điểm thuê thửa đất 174, din tích 2800m
2
để làm chợ đ
nhà của Nguyễn Thị T6 (bà ngoại của Trần Thị Mỹ V) nhưng không
năm nào và din ch bao nhiêu. Theo xác nhận của các ông Huỳnh Văn L2, Phan
Văn T8, Văn T9, Huỳnh Văn A1, Ngô Văn D1, Nguyễn Thị L3, trong đó
có một số người là cán bộ xã C vào thời điểm thuê đất của bà S đu xác nhận gia
đình T6 đ được cụ C1, cụ L1 cho đất ở từ trước năm 1964. Như vậy, có căn
cứ cho rằng T6 đ được cho đất sinh sống trước khiS cho thuê đất lập chợ
sau đó T6 đ giao lại đất cho V quản lý, sử dụng. Do đó, vic S yêu
cầu gia đình bà V trả đất là không có căn cứ chấp nhận.
[3] Đối với phần đất thửa 276B có din tích 213,5m
2
qua kết quả xem xét,
thẩm định tại chỗ nằm hoàn toàn trong hành lang bảo v an toàn công trình đường
bộ. Tại khoản 3 Điu 157 Luật đất đai năm 2013 có quy định người đang sử dụng
đất được pháp luật thừa nhận mà đất đó nằm trong hành lang bảo v an toàn công
trình thì được tiếp tục sử dụng đất theo đúng mục đích đ được nhà nước xác định
không được gây cản trở cho vic bảo van toàn công trình. Thửa đất 174 trước
đây, hin nay là một phần thửa 276, tờ bản đồ số 39, khi bà C2 đăng ký hồ sơ địa
chính thì toàn bộ 2800m
2
thửa 174 đu ghi đất “T”. Theo quy định tại Quyết
định số 47/2022/QĐ-UBND ngày 28/10/2022 của Ủy ban nhân dân tỉnh B tại
Điu 4 quy định v din tích đất tối thiểu để tách thửa: Đất tại xã: tối thiểu
50m
2
nhưng phải sau khi trừ hành lang an toàn bảo vệ công trình công cộng,
chiều rộng mặt tiền chiều sâu của thửa lớn hơn hoằc bằng 04m”. Tòa án đ
hỏi ý kiến của cơ quan có thẩm quyn v điu kin cấp giấy chứng nhận quyn sử
10
dụng đất đối với din ch đất, vị trí, mục đích sử dụng đất nhưng quan thẩm
quyn lại trả lời căn cứ vào điểm d khoản 1 Điu 99 Luật đất đai năm 2013 v các
trường hợp được cấp giấy chứng nhận quyn sử dụng đất: “...Theo bản án hoặc
quyết định của Tòa án nhân dân…” nên không có căn cứ để xem xét. Thấy rằng,
mặc dù hộ V, ông P2 đang quản lý, sử dụng phần đất thửa 276B. Tuy nhiên có
căn cứ xác định bà T6 người được cho đất, T6 chết vẫn còn thời hiu yêu
cầu chia thừa kế hàng thừa kế của T6 chưa xác định được. V cho rằng
bà là cháu ngoại của bà T6, được bà T6 nuôi từ nhỏ và được bà T6 ủy quyn cho
hưởng phần đất này vào năm 1998. Tuy nhiên, vic thực hin ủy quyn vào thời
điểm T6 chưa được công nhận quyn sdụng đất nên không hiu lực thi
hành. Do đó, tiếp tục tạm giao cho bà V, ông P2 quản lý, sử dụng theo nhận định
của bản án sơ thẩm là phù hợp.
[4] Mặc khác, tại thời điểm cụ T6 ở trên đất cũng như thời điểm thỏa thuận
cho thuê đất của gia đình S, mặc phần đất đang tranh chấp nói riêng cũng
như toàn bộ thửa 174 nói chung có nguồn gốc của gia đình bà S nhưng Nhà nước
chưa công nhận quyn sdụng đất cho gia đình S. Chỉ đến năm 1992,
Nguyễn Thị C2 là chị của bà S mới thực hin đăng ký thửa đất nêu trên trong h
sơ địa chính được thể hin tại Công văn số 406/CNMCN-TTLT ngày 21/10/2020
(BL 250) và tài liu do của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyn M cung
cấp (BL 165, 166).
[5] Đối với vic bà C2 đăng ký hồ sơ địa chính toàn bộ thửa 174 (hin nay
là 01 phần thửa 276 do có vic nhập thửa khi đo đạc chính quy) trong đó có phần
đất cụ T6 đang cất nhà nhưng không ý kiến của cụ T6 không phù hợp
với quy định pháp luật.
[6] Bà S không còn chứng cứ nào chứng minh đất là của cá nhân của bà, do
không quá trình canh tác, quản thửa 276B (hin nhà của bị đơn) hay
thực hin nghĩa vụ thuế đối với nhà nước. S cũng không phải là người đăng
khai hồ địa chính do bà C2 đăng ký. Hồ sơ cũng thể hin S chỉ là một
trong những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của vợ chồng cụ L1, mặc những
người thừa kế khác từ bỏ quyn thừa kế, không tranh chấp. Vì vy yêu cu khi
kin ca bà S là không có căn cứ để chp nhn.
[7] T nhng phân tích trên, nhn thấy nguyên đơn Nguyn Th S kháng
cáo nhưng vic chng minh cho kháng cáo của phía nguyên đơn tại phiên tòa phúc
thẩm là không có cơ s để chp nhn. Vì vy, Hội đồng xét x phúc thm không
chp nhn kháng cáo ca bà S. Gi nguyên bn án dân sự thẩm số 93/2023/DS-
ST ngày 16/08/2023 của Tòa án nhân dân huyn Mỏ Cày Nam.
[8] Các ni dung khác ca quyết bản án sơ thm không kháng cáo, kháng
11
ngh đ có hiu lc pháp lut k t ngày hết thi hn kháng cáo kháng ngh phúc
thm.
[9] Quan điểm của người bo v quyn li ích hp pháp ca b đơn tại phiên
tòa phù hp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[10] Quan điểm của đại din Vin kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tại phiên
tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[11] V án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên
nguyên đơn bà Nguyễn Thị S phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên, bà S
là người cao tuổi nên đưc min án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điu 12
Nghị quyết 326/2016/UBTVWQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban Thường vụ
Quốc hội vmức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí l phí
Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điu 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Không chấp nhận kháng cáo ca nguyên đơn bà Nguyễn Thị S.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 93/2023/DS-ST ngày 16/08/2023 của
Tòa án nhân dân huyn M Cày Nam, tỉnh Bến Tre.
Căn cứ khoản 2, 6, 9 Điu 26, điểm a khoản 1 Điu 35, khoản 2 Điu 227 và
khoản 1 Điu 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ Điu 166, Điu 202, Điu 203 của Luật đất đai năm 2013;
Căn cứ Điu 166, Điu 180, 236, 589, 604 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVWQH14, ngày 30/12/2016 quy định v
mức thu, miễn, giảm, thu, np, quản lý và sử dụng án phí và l phí Tòa án.
Tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kin của nguyên đơn bà Nguyễn Thị S.
Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn bà Trần Thị Mỹ V, ông Bùi
Quang P2.
Cụ thể tuyên:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kin của bà Nguyễn Thị S v vic buộc
Trần Thị Mỹ V, ông Bùi Quang P2, anh Bùi Quang T, chị Bùi Thị Tuyết P3, chị
Bùi Thị Tuyết L phải đập phá căn nhà xây dựng vào tháng 12/2009 căn n
của cụ Nguyễn Thị T6 để trả lại thửa ký hiu 276B, din tích 215,3m
2
(thuộc 01
phần của thửa 276, tờ bản đố số 39), tọa lạc tại ấp T, x C, huyn M, tỉnh Bến Tre.
12
2. Đình chỉ yêu cầu khởi kin của bà Nguyễn Thị S v vic buộc bà Trần Thị
Mỹ V, ông Bùi Quang P2, anh Bùi Quang T, chị Bùi Thị Tuyết P3, chị Bùi Thị
Tuyết L phải trả lại thửa 276A: 26,8m
2
(thuộc 01 phần của thửa 276, tờ bản đố số
39), tọa lạc tại ấp T, x C, huyn M, tỉnh Bến Tre.
3. Không chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị Mỹ V, ông Bùi Quang P2 v
vic yêu cầu Tòa án công nhận phần đất thửa 276A din tích 26,8m
2
(thuộc một
phần thửa 276, tờ bản đồ số 39), tọa lạc tại ấp T, x C, huyn M, tỉnh Bến Tre
của ông bà.
4. Tiếp tục tạm giao cho bà Trần Thị Mỹ V, ông Bùi Quang P2, anh Bùi
Quang T, chị Bùi Thị Tuyết P3, chị Bùi Thị Tuyết L quản sử dụng phần đất
thửa 276B, din tích 215,3m
2
(thuộc một phần thửa 276, tờ bản đồ số 39), tọa lạc
tại ấp T, x C, huyn M, tỉnh Bến Tre.
Đối với thủ tục hưởng di sản thừa kế của cụ Nguyễn Thị T6 và vic đăng ký,
khai hồ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyn sử dụng đất đối với thửa
276B, din tích 215,3m
2
nêu trên được thực hin theo quy định của pháp luật khi
bản án có hiu lực pháp luật. Nếu không thỏa thuận được thì khởi kin bằng một
vụ án khác.
(Theo Hồ sơ trích đo hiện trạng sử dụng đất do Chi nhánh Văn phòng đăng
ký đất đai huyện M thực hiện đo vẽ kèm theo bản án).
5. Buộc bà Nguyễn Thị S bồi thường thit hại v tài sản cho bà Trần Thị Mỹ
V, ông Bùi Quang P2 với số tin là: 2.602.000 đồng (Hai triu sáu trăm lhai
nghìn đồng).
6. Bác phần yêu cầu còn lại của bà Trần Thị Mỹ V, ông Bùi Quang P2 với
số tin là 4.900.000 đồng (Bn triu chín trăm nghìn đồng).
7. V chi phí tố tụng (xem xét, thẩm định, đo đạc, định giá tài sản, thu thập
quy trình cấp giấy chứng nhận) số tin 4.284.000 đồng (Bốn triu hai trăm tám
mươi bốn nghìn đồng), nguyên đơn chịu ½ chi phí tố tụng, bị đơn chịu ½ chi phí
tố tụng.
Do S đ nộp tạm ứng chi phí tố tụng. Buộc Trần Thị Mỹ V, ông Bùi
Quang P2 phải liên đới hoàn trả cho bà Nguyễn Thị S số tin 2.142.000 đồng (Hai
triu một trăm bn mươi hai nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án có hiu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi
hành án có quyn chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu
cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tin phải trả cho
người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tin, hàng
13
tháng bên phải thi hành án còn phải chịu tin li của số tin còn phải thi hành án
theo mức li suất quy định tại khoản 2 Điu 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
8. V án phí dân sự sơ thẩm:
8.1. Án phí dân sự thẩm không giá ngạch ối với yêu cầu bị bác):
300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), bà Nguyễn Thị S chịu nhưng được miễn do
là người cao tuổi.
8.2. Án phí dân sự sơ thẩm giá ngạch (đối với nghĩa vụ bồi thường thit
hại v tài sản cho bị đơn): 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), bà Nguyễn Thị S
chịu nhưng được miễn do là người cao tuổi.
8.3. Án phí dân sự thẩm không giá ngạch (đối với yêu cầu phản tố bị
bác): 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng),Trần Thị Mỹ V, ông Bùi Quang P2
chịu nhưng được miễn do là người cao tuổi.
8.4. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch (đối với yêu cầu phản tố của bị đơn
bị bác): 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), bà Trần Thị Mỹ V, ông Bùi Quang
P2 chịu nhưng được miễn do là người cao tuổi.
9. V án phí dân s phúc thm: bà Nguyễn Thị S đưc min án phí dân s
phúc thẩm do là người cao tuổi.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điu 2 Luật Thi hành án
dân sthì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân s quyn
thỏa thuận thi hành án, quyn yêu cầu thi hành án, tự nguyn thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điu 6, 7, 7a, 7b 9 của Luật Thi
hành án dân sự; thời hiu thi hành án được thực hin theo quy định tại Điu 30
Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Bến Tre;
- TAND huyn Mỏ Cày Nam;
- Chi cục THADS huyn Mỏ Cày Nam;
- Phòng KTNV&THA TAND tỉnh;
- Các đương sự;
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Văn Ngt
Tải về
Bản án số 165/2024/DS-PT Bản án số 165/2024/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 165/2024/DS-PT Bản án số 165/2024/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất