Bản án số 162/2020/HS-ST ngày 29/09/2020 của TAND huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An về tội vận chuyển trái phép vật liệu nổ
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 162/2020/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 162/2020/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 162/2020/HS-ST ngày 29/09/2020 của TAND huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An về tội vận chuyển trái phép vật liệu nổ |
|---|---|
| Tội danh: | |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Quỳnh Lưu (TAND tỉnh Nghệ An) |
| Số hiệu: | 162/2020/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 29/09/2020 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUỲNH LƯU
TỈNH NGHỆ AN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 162/2020/HS-ST
Ngày: 29-9-2020
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trịnh Thị Vinh.
2. Bà Đỗ Thị Hằng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu tham gia phiên tòa:
Ông Hà Đức Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2020, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Quỳnh
Lưu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:
142/2020/TLST-HS ngày 08 tháng 9 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét
xử số: 199/2020/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 9 năm 2020, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thị L (tên gọi khác: không); Sinh năm: 1993 tại phường
QX, thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm Tân Hương, xã HTr, huyện
Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: lớp 12/12;
Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông: Nguyễn Xuân K và con bà: Trần Thị M; Có chồng: Phạm Hồng S và 02
con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: không; Bị
tạm giữ, tạm giam: từ ngày 18/5/2020 đến ngày 08/7/2020 được thay đổi biện
pháp ngăn chặn cho Bảo lĩnh. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Ông Phạm Hồng S, sinh năm 1992. Vắng mặt.
Nơi cư trú: Xóm Tân Hương, xã HTr, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh.
Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1996. Vắng mặt.
Nơi cư trú: Khối 7, phường QX, thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An.
2
- Người chứng kiến: Ông Nguyễn Khắc T, sinh năm 1974. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 16
h
ngày 18/5/2020, Nguyễn Thị L đi chợ gặp và quen với một người
đàn ông. Người đàn ông nói với L “Tối ăn cơm xong, chú thuê chở cái này đi theo
chú đến chỗ này rồi chú cho 500.000đ (năm trăm ngàn đồng) và 01 (một) thùng
sữa”. L nhận lời và cho địa chỉ nhà mẹ đẻ ở Khối 7, phường QX, thị xã Hoàng
Mai. Đến 20
h
cùng ngày, người đàn ông đến gặp L và nói “Chở bao xác rắn này
đi xuống hồ tôm và lấy 8.000.000đ (tám triệu đồng) rồi về trả tiền công cho”.
Người đàn ông lấy từ trong xe ô tô ra đưa cho L 01 (một) bì xác rắn và 01 (một)
túi nilong. L cầm bao xác rắn bỏ lên xe mô tô mang biển kiểm soát 38B1-199.43,
túi nilong treo ở giá để hàng của xe. L hỏi người đàn ông sao không bỏ chung vào
một bì, người đàn ông trả lời bỏ chung vào sợ nó nổ. Sau đó, người đàn ông điều
khiển ô tô đi trước, L điều khiển xe mô tô theo sau đến đầm tôm thuộc xóm Minh
Thắng, xã Quỳnh Bảng, huyện Quỳnh Lưu. Người đàn ông nói L xách bì xác rắn
và túi nilong vào chòi trông coi tôm chờ người đến lấy hàng và nhận 8.000.000đ
(tám triệu đồng). L ngồi đợi người đến nhận hàng thì thấy có đông người đi đến,
lo sợ Công an nên chui xuống giường để trốn thì bị tổ công tác Đồn Bãi ngang
Công an huyện Quỳnh Lưu bắt quả tang thu giữ 01 (một) bì xác rắn bên trong
chứa 10 (mười) gói nilong, trong mỗi gói nilong có 10 (mười) thỏi hình trụ hình
dạng, kích thước giống nhau, được bọc giấy màu nâu; 01 (một) gói nilong bên
trong chứa 25 (hai lăm) thỏi hình trụ bọc kim loại một đầu có gắn dây điện; 02
(hai) bọc nilong chứa các thỏi hình trụ bọc giấy màu đỏ liên kết với nhau và 01
(một) xe mô tô Wave Honda biển kiểm soát 38B1-199.43.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳnh Lưu tiến hành mở niêm
phong xác định khối lượng 20kg (hai mươi kilogam), 04kg (bốn kilogam) và
Quyết định trưng cầu giám định: 01 (một) gói nilong chứa 10 (mười) thỏi hình trụ
dài 24cm, đường kính 2.8cm, được bọc bằng giấy màu nâu, có khối lượng 02kg
(hai kilogam), ký hiệu M1; 03 (ba) thỏi kim loại hình trụ dài 4.5cm, đường kính
0.5cm, một đầu gắn 02 (hai) dây màu vàng và đỏ, mỗi dây dài 190cm, ký hiệu
M2; 01 (một) bọc nilong hình tròn, đường kính 40cm, cao 06cm, bên trong bọc
nilong có chứa các thỏi hình trụ màu đỏ được liên kết với nhau, có khối lượng
02kg (hai kilogam), ký hiệu M3. Tại Kết luận giám định số 222/KL-PC09(Đ2-
CN), ngày 26/5/2020, phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận:
M1 là thuốc nổ công nghiệp (thuốc nổ Amonit), M2 là kíp nổ điện số 8, vỏ nhôm,

3
M3 là pháo nổ.
Bản cáo trạng số 173/CT-VKS-P1 ngày 01/9/2020, Viện kiểm sát nhân dân
tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Nguyễn Thị L về tội “Vận chuyển trái phép vật liệu
nổ” theo quy định tại Điểm b khoản 2 Điều 305 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan
điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 305; Điểm
s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L 36
tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng.
Hình phạt bổ sung: Áp dụng Khoản 5 Điều 305 Bộ luật Hình sự phạt tiền bổ
sung từ 10.000.000đ đến 15.000.000đ.
Vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng
hình sự tịch thu thuốc nổ Amonit, kíp nổ, mẫu giám định hoàn trả lại, hiện đang
được bảo quản tại Kho chuyên dụng của Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Nghệ An và
giao cho Ban chỉ huy quân sự tỉnh Nghệ An xử lý theo quy định của pháp luật.
Tịch thu, tiêu hủy 02kg (hai kilogam) pháo nổ.
Án phí: buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp
luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị L khai nhận hành vi phạm tội của mình
như đã nêu trên, không tranh luận gì về tội danh. Lời nói sau cùng: Bị cáo rất hối
hận về hành vi phạm tội, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được
cải tạo ngoài xã hội để nuôi các con nhỏ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan An ninh điều tra Công an
tỉnh Nghệ An, Cơ quan điều tra Công an huyện Quỳnh Lưu, Điều tra viên, Viện
kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu, Kiểm
sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình
tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên
tòa, bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến
hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến
hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người
tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị L khai nhận: Để lấy 500.000đ (năm
trăm ngàn đồng) tiền công và 01 (một) thùng sữa, vào lúc 20
h
ngày 18/5/2020 bị

4
cáo nhận lời và chở 20kg (hai mươi kilogam) thuốc nổ Amonit và 25 (hai lăm)
kíp nổ điện số 8 từ phường Quỳnh Xuân, thị xã Hoàng Mai đến đầm nuôi tôm tại
xóm Minh Thắng, xã Quỳnh Bảng, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, thì bị tổ
công tác Công an huyện Quỳnh Lưu bắt quả tang. Lời khai của bị cáo phù hợp
với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều
tra và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Vì mục đích thu lợi bất chính,
bị cáo đã có hành vi vận chuyển trái phép vật liệu nổ, nhận thức được hành vi của
mình là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến an toàn công cộng và chế độ độc
quyền, thống nhất quản lý chất nổ của Nhà nước, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình
sự và có năng lực trách nhiệm hình sự. Phạm tội với lỗi cố ý. Như vậy, hành vi
của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Vận chuyển trái phép vật liệu nổ” theo quy
định tại Điểm b khoản 2 Điều 305 của Bộ luật Hình sự như cáo trạng truy tố là có
căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của vụ án: Vụ án có tính chất
rất nghiêm trọng. Nên, cần áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ
hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, mới có đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo
bị cáo, đồng thời răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt: Bị cáo phạm tội không có tình
tiết tăng nặng, có tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có công
cứu giúp ông Nguyễn Đình H bị tai nạn giao thông, tố giác tội phạm (có xác nhận
của Ủy ban nhân dân phường Quỳnh Xuân), bố chồng và ông bà ngoại là người
có công được tặng thưởng Bằng khen, nên áp dụng quy định tại Điểm s khoản 1,
2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện
sự khoan hồng của pháp luật.
Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng. Ngoài lần phạm tội
này, thì từ trước tới nay luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy
đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú. Bị cáo phạm tội vì hoàn cảnh khó khăn,
chưa thu lợi, lại là phụ nữ đang nuôi các con nhỏ. Bị cáo có khả năng tự cải tạo,
việc được ở ngoài xã hội không gây nguy hiểm hay ảnh hưởng đến an ninh, trật
tự, an toàn xã hội. Do đó, không cần thiết phải cách ly mà giao cho chính quyền
địa phương cũng đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích.
[5] Hình phạt bổ phải sung: Theo quy định tại Khoản 5 Điều 305 Bộ luật
Hình sự “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến
50.000.000 đồng…” Bị cáo làm ruộng, thu nhập thấp, hoàn cảnh khó khăn, nên
không phạt tiền bổ sung.
[6] Xử lý vật chứng: Tịch thu thuốc nổ Amonit, kíp nổ giao cho Bộ chỉ huy
Quân sự tỉnh Nghệ An xử lý theo quy định của pháp luật. Pháo nổ tịch thu, tiêu
5
hủy. 01 (một) xe mô tô Wave Honda biển kiểm soát 38B1-199.43 của bà Nguyễn
Thị H, bà H không biết bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội nên Công an
tỉnh Nghệ An đã trả lại cho bà Hương là đúng quy định pháp luật.
[7] Một số vấn đề khác: Kiến nghị cơ quan điều tra tiếp tục đấu tranh làm rõ
hành vi của người đàn ông thuê bị cáo vận chuyển thuốc nổ và điều tra làm rõ chủ
sở hữu 04kg (bốn kilogam) pháo nổ thu tại chòi nuôi tôm để xử lý theo quy định
của pháp luật.
[8] Về án phí hình sự: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào: Điểm b khoản 2 Điều 305; Điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều
65 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng
án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm, về tội: Vận chuyển trái phép vật liệu
nổ. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Thị L cho Ủy ban nhân dân xã HTr, huyện Hương Khê,
tỉnh Hà Tĩnh để giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối
hợp cùng Ủy ban nhân dân xã và người được phân công trong việc giám sát, giáo
dục người đó, thông báo kết quả chấp hành án của bị cáo với Ủy ban nhân dân xã
khi có yêu cầu.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa
vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể
quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản
án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo
quy định của Luật Thi hành án hình sự.
2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật
Tố tụng hình sự tịch thu thuốc nổ Amonit, kíp nổ, mẫu giám định hoàn trả lại,
hiện đang được bảo quản tại Kho chuyên dụng của Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Nghệ
An và giao cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Nghệ An xử lý theo quy định của pháp
luật (Tình trạng vật chứng theo Lệnh nhập kho số 15/2020 ngày 02/7/2020). Tịch
thu, tiêu hủy 02kg (hai kilogam) pháo nổ được đựng trong 01 (một) bì xác rắn
(Tình trạng theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 08/9/2020 giữa Cơ quan An
ninh điều tra Công an tỉnh Nghệ An và Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳnh
Lưu).
3. Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết
6
326/2016/UBTVQH14 buộc bị cáo Nguyễn Thị L phải nộp 200.000đ (hai trăm
nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt, có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án
nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền
lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15
ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Nghệ An;
- VKSND tỉnh Nghệ An;
- VKSND huyện Quỳnh Lưu;
- CA huyện Quỳnh Lưu;
- CCTHA Dân sự huyện Quỳnh Lưu;
- THA hình sự;
- Sở Tư pháp;
- UBND xã HTr (để biết);
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ + Lưu trữ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Thị Hải Yến
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 16/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 16/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 13/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 11/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 10/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 10/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 09/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 08/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 08/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 08/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 08/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 08/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 05/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 05/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 04/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 04/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 04/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 04/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 04/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 03/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm