Bản án số 160/2026/HS-ST ngày 16/09/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên về phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 160/2026/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 160/2026/HS-ST ngày 16/09/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên về phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tội danh: 260.Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên
Số hiệu: 160/2026/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 16/09/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: bị cáo Nguyễn Mạnh H
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 160/2026/HS-ST Bản án số 160/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 160/2026/HS-ST Bản án số 160/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 - HƯNG YÊN
Bản án số:160/2026/HS-ST
Ngày 16-9-2026
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do -Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: bà Nguyễn Bích Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. ông Trương Văn Luân
2. bà Nguyễn Thị Thu Hằng.
- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân khu Vực 8 -
Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Hưng Yên tham gia phiên toà: bà
Nguyễn Thị Minh Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hưng Yên xét xử sơ thẩm
công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 145/2026/TLST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2026
theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 151/2026/QĐXXST - HS ngày 25 tháng 8 năm 2026
và Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2026/HSST-QĐ, ngày 08 tháng 9 năm 2026 đối với bị
cáo:
Nguyễn Mạnh H, sinh ngày 29 tháng 6 năm 1980; tại xã N, tỉnh Hưng Yên; số căn
cước công dân: ************; ngày cấp: 13/4/2021; nơi cấp: Cục C; Nơi đăng ký hộ khẩu
thường trú: tổ dân phố B, phường M, tỉnh Điện Biên; Nơi ở hiện nay: thôn K, xã D, tỉnh Hưng
Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam;
Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn D đã chết và bà Trần Thị H1;
gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; bị cáo có vợ là Đinh Thị Minh T; có 02 con, con
2
lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2012. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo không bị bắt, tạm
giữ, tạm giam, bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 28-5-2026, hiện tại ngoại
- có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1966; nơi cư trú: thôn C, xã T, tỉnh Hưng Yên
(vắng mặt).
- Người đại diện theo ủy quyền của bà M: anh Nguyễn Viết L, sinh năm 1982; nơi cư
trú: thôn M, xã T, tỉnh Hưng Yên (có mặt).
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: công ty TNHH G.
- Người đại diện theo pháp luật: anh Nguyễn Minh H2, sinh năm 2002; nơi cư trú: TDP
G, phường V, tỉnh Phú Thọ (có mặt).
* Người làm chứng: 1. Anh Nguyễn Hải S, sinh năm 1983; cư trú: thôn A, xã B, tỉnh
Hưng Yên.
2. Anh Nguyễn Văn S1, sinh năm 1987; nơi cư trú: thôn C, xã T,
tỉnh Hưng Yên.
(đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được
tóm tắt như sau: khoảng 06 giờ 40 phút, ngày 03-02-2026, Nguyễn Mạnh H có giấy phép lái
xe hạng C có hành vi điều khiển xe ô tô con nhãn hiệu Vinfast, số loại VF3 94KL03, màu sơn
vàng, biển số 19A-956.16 từ thôn M, xã D, tỉnh Hưng Yên đi thành phố Hải Phòng. Đến
khoảng 7 giờ, xe ô tô H điều khiển đi đến khu vực ngã ba giao nhau giữa đường ĐH60 với
đường đi vào thôn C, xã T, tỉnh Hưng Yên. Trên lề đường bên phải hướng UBND xã D đi
đường ĐT468 có cắm lần lượt các biển báo giao nhau với đường không ưu tiên W207a,
W207c; biển báo nhiều chỗ ngoặt liên tiếp W202b; biển báo giao nhau có tín hiệu đèn W209
và biển báo đi chậm W245a. Trên đường đi thôn C, xã T, tỉnh Hưng Yên hướng đi ra đường
ĐH60 có cắm biển báo giao nhau với đường ưu tiên W208 và biển đi chậm W245a. Mặt
đường khô, mật độ phương tiện tham gia giao thông vừa phải, H điều khiển đi xe trên phần
đường bên phải đường ĐH60 hướng UBND xã T đi đường Đ, làn sát tim đường với tốc độ
khoảng 35km/h, cùng lúc bà Nguyễn Thị M điều khiển xe đạp điện nhãn hiệu HY BIKE, sơn
màu đỏ trên đường đi thôn C, xã T, tỉnh Hưng Yên chuyển hướng rẽ trái vào đường ĐH60
không có tín hiệu xin chuyển hướng. Do thiếu chú ý quan sát, không chấp hành báo hiệu
đường bộ, quy định về tốc độ, không giảm tốc độ để đảm bảo an toàn tại nơi có báo hiệu cảnh
báo nguy hiểm, đường bộ giao nhau cùng mức với đường bộ, đường quanh co, vi phạm khoản
3
1 Điều 10; điểm b, d khoản 3 Điều 12 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ nên phần mặt
trên cạnh bên trái lắp capo đầu xe và phần mặt lăn má lốp bánh trước bên trái, phía ngoài của
xe ô tô Hường điều khiển đã va chạm với phần đầu ngoài mặt dưới ốp cao su tay nắm lái bên
phải và mặt ngoài bên phải ống giảm sóc xe đạp điện bà M điều khiển làm bà M ngã xuống
đường bất tỉnh được bị cáo H cùng với người dân đưa đi cấp cứu tại bênh viện đa khoa H3,
tỉnh Hưng Yên sau đó được chuyển lên bệnh việt V để điều trị; sau khi giám định tỷ lệ tổn
thương cơ thể là 63%; xe ô tô bị hư hỏng, thiệt hại 1.500.000 đồng; xe máy điện bị hư hỏng,
thiệt hại 170.000 đồng.
Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 2544/KL-KTHS ngày
12-5-2026 của V1 - Bộ C1 kết luận tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của bà Nguyễn Thị
M tại thời điểm giám định là 63%; cơ chế hình thành thương tích: các tổn thương của bà
Nguyễn Thị M do cơ thể tác động tương hỗ với vật tày gây ra.
Bản kết luận giám định số 440/KL-KTHS ngày 25-02-2026; số 446/KL-KTHS ngày
05-3-2026 và phụ lục kèm theo kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh H giám định 02
đoạn video thu trong 02 USB liên quan đến vụ tai nạn giao thông, kết luận: không tìm thấy
dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong tệp video mẫu cần giám định.
Bản kết luận định giá tài sản số 05/KL-HĐĐGTS ngày 09-3-2026 của Hội đồng định
giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND xã T kết luận: giá trị tài sản bị thiệt hại của xe ô tô
con nhãn hiệu Vinfast, số loại VF3 94KL03, màu sơn vàng, biển số 19A-956.16 là 1.500.000
đồng; giá trị tài sản bị thiệt hại của xe đạp điện là 170.000 đồng.
Bản cáo trạng số 105/CT-VKSHYN-KV, ngày 05-8-2026 của Viện kiểm sát nhân dân
khu vực 8, tỉnh Hưng Yên truy tố bị cáo Nguyễn Mạnh H về tội “Vi phạm quy định về tham
gia giao thông đường bộ”, quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà:
Bị cáo Nguyễn Mạnh H khai nhận: khoảng 06 giờ 40 phút, ngày 03-02-2026, bị cáo
điều khiển xe ô tô con nhãn hiệu Vinfast, số loại VF3 94KL03, màu sơn vàng, biển số 19A-
956.16 của công ty đi từ thôn M, xã D, tỉnh Hưng Yên đi thành phố Hải Phòng. Khi đi đến
khu vực ngã ba giao nhau giữa đường ĐH60 với đường ĐT468 đi vào thôn C, xã T, tỉnh Hưng
Yên do bị cáo thiếu quan sát, không giảm tốc độ hoặc dừng lại để đảm bảo an toàn nên xe ô tô
do bị cáo điều khiển đã va chạm với xe đạp điện do bà M điều khiển làm bà M bị ngã ra
đường, bị cáo đã xuống xe cùng với mọi người đưa bà M đi cấp cứu. Sau khi tai nạn xảy ra, bị
cáo đã bồi thường cho bà M số tiền 65.000.000 đồng. Xe ô tô do bị cáo điều khiển là của công
ty, sau khi bị va chạm bị hư hỏng nhẹ, bị cáo không có yêu cầu gì về bồi thường.
Người đại diện theo ủy quyền của bị hại, ông L trình bày: ông xác định lời trình bày
của bị cáo H là đúng, bà M nhận số tiền bồi thường 65.000.000 đồng, không yêu cầu bị cáo
4
phải bồi thường thêm khoản tiền nào khác vì hoàn cảnh gia đình bị cáo rất khó khăn; không
yêu cầu bị cáo phải bồi thường chiếc xe đạp điện đã bị hư hỏng; đề nghị HĐXX xem xét giảm
nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
Người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH G ông H2 trình bày: công ty đã nhận
lại chiếc xe ô tô do bị cáo H điều khiển gây va chạm với bà M, công ty không yêu cầu bồi
thường về chiếc xe ô tô bị hư hỏng do va chạm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Hưng Yên giữ quyền công tố tại phiên
tòa, sau khi phân tích nội dung vụ án, hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, khẳng định quan điểm truy tố như nội dung bản cáo trạng
là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử (viết tắt là
HĐXX): tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạnh H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao
thông đường bộ”. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2
Điều 51; Điều 50; Điều 38; khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo
Nguyễn Mạnh H từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ
02 năm đến 02 năm 06 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Mạnh H cho
Ủy ban nhân dân (viết tắt là UBND) xã D, tỉnh Hưng Yên giám sát, giáo dục trong thời gian
thử thách. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm bồi thường: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, Điều
585, Điều 586, Điều 590 và Điều 601 Bộ luật Dân sự: ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo H và
bị hại về việc bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 65.000.000 đồng tiền chi phí chữa trị
thương tích và các chi phí khác, bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm khoản tiền
nào khác. Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 46 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng
hình sự. Trả cho bị cáo H 01 giấy phép lái xe hạng C số 110038000940 ghi tên Nguyễn Mạnh
H. Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, người đại diện theo ủy quyền của bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên
quan không không có ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng: đề nghị Hội đồng xét xử xem
xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất và được cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh
tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử:
về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H, Điều tra viên;
Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8, tỉnh Hưng Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy
tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người đại diện theo ủy quyền của bị
5
hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có khiếu nại về hành vi, quyết định của
Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của
Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vắng mặt.
Xét thấy tại giai đoạn điều tra họ đã có lời khai đầy đủ nên việc vắng mặt của họ không ảnh
hưởng đến việc xét xử vì vậy HĐXX vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định của Bộ luật Tố
tụng hình sự.
[3] Về chứng cứ xác định có tội: Lời khai của bị cáo Nguyễn Mạnh H tại phiên tòa phù
hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và được chứng minh bằng các tài liệu, chứng
cứ sau: Biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường; Biên bản
khám nghiệm phương tiện, bản ảnh phương tiện do Cơ quan Cảnh sát điều tra công an tỉnh H
lập ngày 03-02-2026; Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 2544/KL-
KTHS ngày 12-5-2026 của V1 - Bộ C1; Kết luận giám định số 440/KL-KTHS ngày 25-02-
2026; số 446/KL-KTHS ngày 05-3-2026 và phụ lục kèm theo kết luận giám định của Phòng
K Công an tỉnh H; Biên bản kiểm tra tình trạng sử dụng ma túy đối với Nguyễn Mạnh H do
Cơ quan Cảnh sát điều tra lập ngày 03-02-2026; Bản tóm tắt hồ sơ bệnh án của Bệnh viện H4
đối với bà Nguyễn Thị M; Bản kết luận định giá tài sản số 05/KL-HĐĐGTS ngày 09-3-2026
của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự; Biên bản ghi lời khai của bà Nguyễn Thị
M, anh Nguyễn Hải S, anh Nguyễn Văn S1, anh Nguyễn Minh H2 cùng toàn bộ các tài liệu,
chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: khoảng 07 giờ ngày 03-02-2026, tại đường ĐH60 thôn
C, xã T, tỉnh Hưng Yên; bị cáo Nguyễn Mạnh H có giấy phép lái xe hạng C có hành vi điều
khiển xe ô tô con nhãn hiệu Vinfast, số loại VF3 94KL03, màu sơn vàng, biển số 19A-956.16
trên đường ĐH60 đi trên phần đường bên phải hướng UBND xã T đi đường ĐT468 đến nơi
có báo hiệu cảnh báo nguy hiểm, đường bộ giao nhau cùng mức với đường bộ, đường quanh
co; do thiếu chú ý quan sát, không giảm tốc độ hoặc dừng lại để đảm bảo an toàn nên phần
mặt trên cạnh bên trái lắp capo đầu xe và phần mặt lăn má lốp bánh trước bên trái, phía ngoài
của xe ô tô do bị cáo H điều khiển đã va chạm với phần đầu ngoài mặt dưới ốp cao su tay nắm
lái bên phải và mặt ngoài bên phải ống giảm sóc xe đạp điện do bà Nguyễn Thị M điều khiển
chuyển hướng sang trái vào đường ĐH60 làm bà M ngã xuống đường bị thương tích ở vùng
đầu, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 63%.
Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Mạnh H đã vi phạm khoản 1 Điều 10; điểm b, d
khoản 3 Điều 12 Luật trật tự an toàn giao thông đường bộ.
Điều 10. Quy tắc chung
6
“1. Người tham gia giao thông đường bộ phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi
đúng làn đường, phần đường quy định, chấp hành báo hiệu đường bộ và các quy tắc giao
thông đường bộ khác...”
Điều 12. Chấp hành quy định về tốc độ và khoảng cách giữa các xe
“...3. Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải
quan sát, giảm tốc độ hoặc dừng lại để bảo đảm an toàn trong các trường hợp
sau đây:
…
b) Có báo hiệu cảnh báo nguy hiểm hoặc có chướng ngại vật trên đường...
d) Nơi đường bộ giao nhau cùng mức với đường bộ, đường bộ giao nhau
cùng mức với đường sắt; đường hẹp, đường vòng, đường Q, đường đèo, dốc;...”
Do đó đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, quy định tại
điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an
toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các
trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng,
phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ
tổn thương cơ thể từ 61% trở lên...
5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề
hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.
Do đó Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8, tỉnh Hưng Yên truy tố bị cáo Nguyễn Mạnh
H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm b khoản 1
Điều 260 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng, đối với hành vi phạm tội của bị cáo, HĐXX
thấy rằng: hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm trật tự
an toàn giao thông đường bộ. Tội phạm mà bị cáo thực hiện thuộc loại tội nghiêm trọng, vì
vậy cần phải lên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục bị cáo
và phòng ngừa chung cho xã hội.
[5] Về các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo,
HĐXX thấy:
7
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn
năn, hối cải; sau khi tai nạn xảy ra bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu
quả cho người bị hại; bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo vì vậy bị
cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản
1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách
nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; lần đầu phạm tội, có nơi cư trú rõ
ràng và có khả năng tự cải tạo bản thân hơn nữa hành vi phạm tội của bị cáo cũng có một
phần lỗi của bị hại do đó không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà áp dụng
khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được cải tạo tại địa phương và giao bị
cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục cũng có tác dụng giáo
dục và thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên không
áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Đối với hành vi của bà Nguyễn Thị M điều khiển xe đạp điện đến nơi có cảnh báo
nguy hiểm đã không giảm tốc độ hoặc dừng lại để đảm bảo an toàn, chuyển hướng rẽ trái
không có tín hiệu báo hướng rẽ, không nhường đường cho xe ô tô do bị cáo H điều khiển đi
trên đường ưu tiên đến từ bên phải, đã vi phạm điểm b khoản 3 Điều 12; khoản 2 Điều 15;
khoản 1, 2 Điều 22 Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ, Cơ quan cảnh sát điều tra đã
chuyển Phòng PC08 Công an tỉnh H để xem xét xử lý là phù hợp với quy định của pháp luật.
[7] Về trách nhiệm dân sự: trong giai đoạn điều tra bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho
bị hại số tiền 65.000.000 đồng dể chữa trị thương tích và các chi phí khác cho bà M, tại phiên
tòa người đại diện theo ủy quyền của bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm số tiền
nào khác, xét thấy đây là sự tự nguyện của các bên không trái quy định của pháp luật nên cần
ghi nhận.
Đối với 01 xe ô tô con nhãn hiệu Vinfast do bị cáo H điều khiển là tài sản của công ty
TNHH G và 01 xe đạp điện của bà Nguyễn Thị M khi va chạm gây hư hỏng, phải sửa chữa
tuy nhiên công ty G và bà M không có yêu cầu gì về bồi thường nên HĐXX không xem xét
giải quyết.
[8] Về xử lý vật chứng: trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã quản lý 01 xe ô tô
con nhãn hiệu Vinfast, số loại VF3 94KL03, màu sơn vàng, biển số 19A-956.16 và 01 xe đạp
điện. Quá trình điều tra xác định chiếc xe ô tô là tài sản hợp pháp của công ty G và chiếc xe
đạp điện là tài sản hợp pháp của bà M, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Nguyễn Minh H2 là
người đại diện theo pháp luật của công ty và bà M là phù hợp với quy định của pháp luật.
8
Đối với 01 Giấy phép lái xe hạng C số 110038000940 ghi tên Nguyễn Mạnh H, 01
USB nhãn hiệu KINGSTON DTSE9 vỏ bằng kim loại sáng màu và 01 USB nhãn hiệu
HIKSEMI vỏ bằng nhựa màu trắng chứa đoạn video liên quan chuyển theo hồ sơ vụ án,
HĐXX thấy Giấy phép lái xe là giấy tờ tùy thân của bị cáo H nên cần trả lại cho bị cáo là phù
hợp với quy định của pháp luật. Đối với 02 chiếc USB cần tiếp tục lưu hồ sơ vụ án.
[9] Về án phí: bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Mạnh H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao
thông đường bộ”.
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 Điều 51,
khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 và Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh
H 01 (một) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm kể từ ngày tuyên án
sơ thẩm (16-9-2026). Giao bị cáo Nguyễn Mạnh H cho UBND xã D, tỉnh Hưng Yên giám sát,
giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở
lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù
của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú
thì thực hiện theo quy định tại Điều 87 của Luật thi hành án hình sự.
Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Về trách nhiệm bồi thường: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, Điều
585, Điều 586, Điều 590 và Điều 601 Bộ luật Dân sự: ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo
Nguyễn Mạnh H và người bị hại về việc bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 65.000.000
đồng (Sáu mươi lăm triệu đồng) tiền chữa trị thương tích và chi phí khác (đã bồi thường
xong), bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường khoản tiền nào khác.
4. Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 46 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng
hình sự. Trả lại bị cáo Nguyễn Mạnh H 01 Giấy phép lái xe hạng C số 110038000940 ghi tên
Nguyễn Mạnh H do sở giao thông vận tải tỉnh Đ cấp ngày 21-9-2023 (được chuyển theo hồ sơ
vụ án).
5. Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 21
và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban
9
thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và
lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Mạnh H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng)
tiền án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: áp dụng Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo
Nguyễn Mạnh H, anh Nguyễn Viết L và anh Nguyễn Minh H2 có mặt tại phiên tòa có quyền
kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Nguyễn Thị M vắng mặt tại
phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hoặc niêm
yết bản án hợp lệ.
Nơi nhận:
- Bị cáo;
- Người đại diện theo uỷ quyền của bị hại;
- Bị hại;
- Tòa án ND tỉnh Hưng Yên;
- Viện kiểm sát ND tỉnh Hưng Yên;
- VKSND KV 8 - Hưng Yên;
- CQCSĐT Công an tỉnh Hưng Yên;
- CQTHAHS Công an tỉnh Hưng Yên;
- Phòng THADS KV 8 - Hưng Yên;
- UBND xã Diên Hà, tỉnh Hưng Yên;
- Lưu hồ sơ, HC- TP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Bích Thủy
10
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
11
Nguyễn Bích Thủy
12
13
14
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 160/2026/HS-ST Bản án số 160/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 160/2026/HS-ST Bản án số 160/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất