Bản án số 16/2017/HNGĐ-PT ngày 21/09/2017 của TAND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 16/2017/HNGĐ-PT

Tên Bản án: Bản án số 16/2017/HNGĐ-PT ngày 21/09/2017 của TAND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
Số hiệu: 16/2017/HNGĐ-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 21/09/2017
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ông Nguyễn H kiện bà Hồ Thị T.A - Tranh chấp về tài sản sau khi ly hôn
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 16/2017/HNGĐ-PT
Ngày 21- 9- 2017
“Tranh chấp chia tài sản sau ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Bắc
Các thẩm phán: Ông Trịnh Hoàng Anh
Đào Thị Huệ
- Thư phiên tòa: Thị Hoa, cán btòa án nhân dân tỉnh Rịa
Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân n tỉnh Rịa Vũng Tàu tham gia
phiên tòa: Bà Trần Thị Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa Vũng
Tàu, xét xử phúc thẩm vụ án dân sthụ số: 15/2017/TLPT-HNGĐ ngày 31
tháng 7 năm 2017 về việc “Tranh chấp chia tài sản sau ly hôn”.
Do bản án dân sự thẩm số 41/2017/HNGĐ-ST ngày 09 tháng 6 năm
2017 của Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2017/-PT ngày 31/8/2017,
giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn H, sinh năm 1959; địa chỉ: Số 58 đường 20,
khu phố 4, phường H.B, quận T.Đ, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
- Bị đơn: Hồ Thị T.A, sinh năm 1961; địa chỉ: Số 31 đường B.T.H, khu
phố 5, phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Phan Đức L, lut
sư của công ty TNHH MTV K, thuộc đoàn lut sư thành ph H Chí Minh (có
mt).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Trần Hải H, sinh năm 1975; địa chỉ cư trú: Số A, đường B, khu phố C,
phường T, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh (Có đơn xin vắng mặt).
2. Ông Hồ Khắc P, sinh năm: 1990; Hộ khẩu thường trú: Thôn T, T.H,
huyện Q, tỉnh Nghệ An; địa chỉ liên hệ: Số A, đường B, khu phố C, phường T,
Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh (Có đơn xin vắng mặt).
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện lời khai tại tòa, nguyên đơn ông Nguyễn H trình
bày:
Ông Nguyễn H và bà Hồ Thị T.A đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận
tình ly hôn sự thỏa thuận của các đương ssố 108/2012/QĐST-HNGĐ ngày
11/7/2012 của Tòa án nhân dân Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh. Tại quyết định
này, Ông và Hồ Thị T.A tthỏa thuận chia tài sản, không yêu cầu Tòa án giải
quyết.
Ông và bà Hồ Thị T.A tạo lập được tài sản chung trong thời hôn nhân sau
đây: Quyền sử dụng đất thửa số C, tờ bản đồ số D, diện tích 1.253m
2
đất tọa lạc
tại ấp H, P.T, huyện X, tỉnh Rịa-Vũng Tàu, tài sản gắn liền với đất một
ngôi nhà cấp 4 diện tích 100m
2
, được xây năm 2009. Tổng tài sản trị giá khoảng
500.000.000 (Năm trăm triệu) đồng. Hiện nay, hai bên vẫn chưa thể tự giải quyết
được tài sản chung này do Hồ Thị T.A đang giữ giấy tờ nhà đấtmuốn được
chia nhiều hơn.
vậy, nay ông H yêu cầu Tòa án chia tài sản chung Quyền sử dụng đất
thửa số C, tờ bản đồ số D, diện tích 1.253m
2
đất tọa lạc tại ấp H, xã P.T, huyện X,
tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu và tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp lut.
Đại diện theo y quyền của ông Nguyễn H ông Diệp M.H trình bày: Ông
giữ nguyên toàn bộ yêu cầu của ông Nguyễn H tại đơn khởi kiện ngày 04/4/2016.
Tại phiên tòa sơ thẩm, ông yêu cầu Tòa án chia cho ông H ½ giá trị quyền sử
dụng đất thửa số C tờ bản đồ số D, diện tích 1.253m
2
đất tọa lạc tại ấp H, xã P.T,
huyện X, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu và ½ giá trị ngôi nhà cấp 4, diện tích 100m
2
được
xây dựng tại thửa đất số C nói trên.
Bị đơn bà Hồ Thị T.A trình bày:
Bà Hồ Thị T.A và ông Nguyễn H kết hôn vào năm 1983 tại xã T.H, huyện Q,
tỉnh Nghệ An, trong thời kỳ hôn nhân có tạo lập được nhiều tài sản giá trị như
ô tô, nhà đất, cụ thể như sau:
- Căn nhà số A, khu phố 1, phường T, thành phố B.H, tỉnh Đồng Nai;
- Căn hộ số B đường H, Phường C, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh;
- Căn nhà cấp 4 và đất tại ấp H, xã P.T, huyện X, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
- Mảnh đất tại khu dân cư L, tọa lạc tại ấp P, xã L.T, huyện T, tỉnh Đồng Nai;
- Đất tại số A, đường B, khu phố C, phường T, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh;
- Căn nhà số 58 đường 20, khu phố 4, phường H.B, quận T.Đ, Thành phố Hồ Chí
Minh.
Ngoài ra n một số tài sản khác. Hồ Thị T.A ông Nguyễn H xây
nhà biệt thự tại địa chỉ số A, đường B, khu phố C, phường T, Quận D, Thành phố Hồ
Chí Minh. Do không đủ tiền để chi trả cho việc xây dựng nên gia đình đã họp
nhiều lần để bàn bạc, đưa ra giải pháp để chuẩn bị tài chính thực hiện việc xây
3
dựng hoàn thiện căn nhà. Ngày 14/3/2010, Hồ Thị T.A ông Nguyễn H
một cuộc họp gia đình về việc xây nhà để chuẩn bị tài chính cho việc xây nhà; nội
dung cuộc họp được con gái tên Nguyễn Hồ U ghi lại. Nội dung của biên bản
ghi là Hồ Thị T.A và ông Nguyễn H sẽ bán đất N, H, bán xe hơi, n n
T, vay nợ của công ty T.A,để xây dựng hoàn thiện n nhà số A, đường B,
khu phố C, phường T, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.
Theo tinh thần của biên bản, ngày 08 tháng 9 năm 2010, tại Phòng Công
chứng số 1 Thành phố Hồ Chí Minh, ông Nguyễn H đã ủy quyền cho Hồ Thị
T. A được quyền thay mặt nhân danh ông H thực hiện các hành vi xây dựng,
hoàn công, cho thuê, thế chấp tài sản để đảm bảo nghĩa vụ cho bên thứ ba, chuyển
nhượng hoặc tặng cho phần sử dụng của ông H trong quyền sử dụng đất tọa lạc tại
thửa C, tờ bản đồ D, địa chỉ xã P.T, huyện X, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu. Thời hạn ủy
quyền là 10 (mười) năm.
Sau khi được ủy quyền, ngày 05 tháng 11 năm 2010, bà Hồ Thị T.A đã bán
căn nhà chuyển nhượng quyền sdụng đất tại thửa C, tờ bản đồ D, địa ch
P.T, huyện X nêu trên cho bà Trần Hải H, địa chỉ: Số A, đường B, khu phố C,
phường T, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh với giá là 1.100.000.000 (một tỷ một
trăm triệu) đồng. Tuy nhiên, tại thời điểm mua bán, chuyển nhượng H chưa
muốn hoàn tất thủ tục sang tên theo quy định nên hai bên ch giấy tay với
nhau. Bà H yêu cầu bà Hồ Thị T.A nghĩa vụ ký hợp đồng hoàn tất thủ tục sang
tên theo quy định của pháp luật cho H hoặc cho bất cứ người nào do H chỉ
định và bà Hồ Thị T.A đồng ý. Sau đó bà Hồ Thị T.A đã hoàn tất thủ tục sang tên
nhà, đất theo quy định cho người mà bà H chỉ định. Năm 2014, bà Trần Hải H yêu
cầu Hồ Thị T.A chuyển nhượng cho ông Hồ Khắc P diện tích đất trên. vậy,
ngày 01 tháng 7 năm 2014, Hồ Thị T.A đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất
nêu trên cho ông Hồ Khắc P, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn T, T.H, huyện Q,
tỉnh Nghệ An. Nhưng sau đó vào cuối tháng 7 năm 2014, ông Hồ Khắc P cần tiền
làm ăn nên đã chuyển nhượng lại nhà và đất nêu trên cho bà Hồ Thị T.A. Hai bên
đã hoàn tất thủ tục giao tiền giao nhà đất theo quy định của pháp luật. Vic
chuyển nhượng tài sn này báo cho ông H biết, do không đủ tiền để hoàn
thiện nhà đã phải vay thêm của H số tiền 2.900.000.000 đồng việc vay
tiền này ông H biết rất rõ. Như vy, thửa đất nêu trên đã đưc đưa vào căn bit
th, không còn để chia nữa.
Ngoài ra hôn nhân không hạnh phúc nên Hồ Thị T.A ông Nguyễn H
đã ly n và không yêu cầu giải quyết chia tài sản chung. Đến ngày 20/5/2014,
ông Nguyễn H đã khởi kiện yêu cầu chia tài sản sau ly hôn với Bà tại Tòa án nhân
dân Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh. Trong đơn khởi kiện cũng như bn t khai
ông Hán cũng thừa nhn thửa đất C, tờ bản đồ D, địa chỉ xã P.T, huyện X, tỉnh Bà
Rịa- Vũng Tàu đã chuyển nhượng để y nhà vy ti bn thỏa thun chia i
sn chung không đưa thửa đất nêu trên vào phân chia.
Như vậy toàn bộ tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của ông H đã
được chuyển vào giá trị của căn nhà số A, đường B, khu phố C, phường T, Quận
D, Thành phố Hồ Chí Minh căn nhà số 58 đường 20, khu phố 4, phường H.B,
4
quận T.Đ, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà và ông Nguyễn H đã tự nguyện giải quyết
xong và hiện tại không còn tài sản chung nào chưa chia.
Nay ông Nguyễn H khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn
nhân đối với quyền sử dụng đất, n nhà cấp 4 tọa lạc tại thửa C, tờ bản đồ B, địa
chỉ P.T, huyện X, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu không cơ sở pháp lý, trái với sự
thật là bà Hồ Thị T.A và ông Nguyễn H đã giải quyết chia tài sản chung trong thời
kỳ hôn nhân xong không còn tài sản nào chưa chia, đề nghị Tòa án bác đơn
khởi kiện của ông Nguyễn H về việc tranh chấp chia tài sản chung sau ly hôn đối
với căn nhà cấp 4 tọa lạc tại thửa C, tờ bản đồ D, xã P.T, huyện X.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn Hồ Thị T.A Nguyễn Thị T
trình bày:
Bà Nguyễn Thị T vẫn giữ nguyên ý kiến như trong bản tự khai ngày
12/5/2016 lời khai tại phiên tòa thẩm của Hồ Thị T.A và đề nghị Tòa án
bác đơn khởi kiện của ông Nguyễn H về việc tranh chấp chia tài sản chung sau ly
hôn đối với căn nhà cấp 4 và quyền sử dụng đất tọa lạc tại thửa C, tờ bản đồ D tọa
lạc ti xã P.T, huyện X, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu.
Tại bản án hôn nhân gia đình thẩm số 41/2017/HNGĐ-ST ngày
09/6/2017, Tòa án nhân dân huyn Xuyên Mộc đã áp dụng khoản 1 Điều 28, Điều
35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 28, 29,33, 35 Luật hôn nhân gia
đình năm 2014; Điều 27 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án năm 2009. Tuyên xử:
1. Về chia tài sản chung:
Chia tài sản của ông Nguyễn H và bà Hồ Thị T.A như sau:
- Bà Hồ Thị T.A được quyền sử dụng đất thửa đất số C, tờ bản đồ số D, diện
tích 1.253m
2
(trong đó thổ 100 m
2
, 1.153m
2
đất cây lâu năm); tọa lạc tại
P.T, huyện X, tỉnh Rịa-Vũng Tàu, theo đồ vị trí tha đất do Văn phòng
Đăng ký quyền sử dụng đất huyện Xuyên Mộc lập ngày 08/6/2017. Bà Hồ Thị T.A
được quyền sở hữu căn ncấp 04 diện tích 100 m
2
trên thửa đất số C, tờ bản
đồ số D được mô tả theo biên bản định giá tài sản lập ngày 25/10/2016.
- Xác định tổng giá trị nhà, công trình vật kiến trúc, giá đất tại thửa đất số C,
tờ bản đồ sD tọa lạc tại xã P.T, huyện X, tỉnh Rịa-Vũng Tàu tổng cộng
967.922.000 đồng.
- Hồ Thị T.A nghĩa vụ thanh toán cho ông Nguyễn H ½ giá trị nhà,
đất, công trình vật kiến trúc nêu trên với số tiền là 483.961.000 đồng.
Việc giao nhận tài sản (nhà, đất, tiền) nêu trên được thực hiện đồng thời sau
khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Ngoài ra án thẩm còn tuyên án phí, trách nhiệm do chậm thi hành án
quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 14 tháng 6 năm 2017, H Th T.A làm đơn kháng cáo yêu cầu Tòa
phúc thẩm sửa án sơ thẩm, bác yêu cầu khởi kiện của Nguyn H.
5
Tại phiên tòa phúc thẩm bà H Th T.A vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng
cáo, ông Nguyn H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; các đương sự đã thỏa
thuận được với nhau về việc giải quyết toàn b vụ án.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc
tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, thưcác đương sự là đúng theo quy
định của pháp luật. V nội dung kháng cáo: Ti phiên tòa ông Nguyn H và bà H
Th T.A đã thỏa thuận được vic giải quyết tòan b v án, s thỏa thun ca các
đương s là t nguyn, không trái đạo đức, phù hợp vi pháp luật đề ngh Hội
đồng xét x công nhn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Đơn kháng cáo của bà H Th T.A nộp trong thời hạn và đúng thủ tục theo
quy định tại các Điều 271, 272, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự nên hợp lệ; Hội
đồng xét xử phúc thẩm xem xét lại bản án sơ thẩm theo th tc phúc thm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xem xét yêu
cầu kháng cáo nêu trên như sau:
Ti phiên tòa hôm nay ông Nguyn H H Th T.A đã thỏa thun với
nhau v vic gii quyết toàn b v án, c th như sau:
- H Th T.A được quyền sdụng đất, quyền s hữu nhà các tài sn
trên đất thửa số C, tờ bản đồ số D, diện tích 1.253m
2
(trong đó có 100m
2
thổ ,
1.153m
2
đất cây lâu năm) tọa lạc tại xã P.T, huyện X, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (theo
đồ vị trí thửa đất do Văn phòng Đăng quyền sử dụng đất huyện Xuyên Mộc
lập ngày 08/6/2017).
- Hồ Thị T.A nghĩa vụ thanh toán cho ông Nguyễn H ½ giá trị nhà,
đất, công trình vật kiến trúc trên đất là 250.000.000 (hai trăm năm mươi triệu)
đồng.
- V án phí hôn nhân gia đình sơ thm ông Nguyn H, H Th T.A phi
chịu mỗi người 12.500.000 ( mười hai triệu năm trăm ngàn) đồng.
- Ông Nguyn H cam kết không khởi kin bà H Th T.A v việc “Tranh
chp chia tài sản chung” của ông H và bà A.
S thỏa thun ca các đương s t nguyn, không trái đạo đc hội,
phù hợp vi pháp lut nên công nhn.
V án phí hôn nhân gia đình sơ thm các đương s thỏa thun vic chia i
sn chung theo giá tr khi nhn chuyn nhượng xây nhà, đây là tài sn chung
của v chng nên chp nhn và tính lại án phí sơ thm như các đương s đã thỏa
thun phù hp.
V án phí hôn nhân gia đình phúc thm H Th T.A phi chịu theo quy
định.
Vì lẽ trên,
6
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự sửa bn án n
nhân gia đình thẩm số 41/2017/HNGĐ-ST ngày 09/6/2017 của Tòa án nhân
dân huyn Xuyên Mc, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.
Áp dụng Điều 300 Bluật Ttụng dân sự ghi nhn s thỏa thun của ông
Nguyn H và bà H Th T.A, c th như sau:
- Hồ Thị T.A được quyền sử dụng đất, quyn s hữu nhà các tài sn
trên đất thửa số C, tờ bản đồ số D, diện tích 1.253m
2
(trong đó 100m
2
thổ cư,
1.153m
2
đất cây lâu năm) tọa lạc tại xã P.T, huyện X, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (theo
đồ vị trí thửa đất do Văn phòng Đăng quyền sử dụng đất huyện Xuyên Mộc
lập ngày 08/6/2017).
- Hồ Thị T.A nghĩa vụ thanh toán cho ông Nguyễn H ½ giá trị nhà,
đất, công trình vật kiến trúc trên đất là 250.000.000 (hai trăm năm mươi triệu)
đồng.
Kể từ ngày người được thi hành án đơn yêu cầu thi hành án, nếu người
phải thi hành không thực hiện nghĩa vụ của mình tphải chịu thêm một khoản
tiền lãi theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự tương ng với số
tiền chậm thi hành án.
- Ông Nguyn H cam kết không khởi kin bà H Th T.A v việc “Tranh
chp chia tài sản chung” của ông Nguyễn H và bà Hồ Thị T.A.
2. Về án phí:
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thm: Ông Nguyễn H phải nộp
12.500.000(mười hai triệu năm trăm ngàn) đồng nhưng được khấu trừ
12.000.000(mười hai triệu) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền
tạm ứng án phí số 02838 ngày 13/4/2016 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện
Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu. Như vậy, ông Nguyễn H còn phải nộp thêm
500.000 (năm trăm ngàn) đồng. Hồ Thị T.A phải nộp 12.500.000 (mười hai
triệu năm trăm ngàn) đồng.
- Án phí hôn nhân gia đình phúc thm: Hồ Thị T.A phi np 300.000
(ba trăm ngàn) đồng nhưng được khấu tr 300.000 đng tin tm ng án phí đã
np theo biên lai thu tin s 0006851 ngày 15/6/2017 của Chi cục Thi hành án
dân sự huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu, bà Hồ Thị Tú A đã np đủ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi nh án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 9 Luật thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi
hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (21/9/2017).
7
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh BRVT;
- TAND h.Xuyên Mộc;
- Các đương sự;
- Chi cục THA h.Xuyên Mộc;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
Đã ký tên, đóng dấu
Nguyễn Thị Phương Bắc
Tải về
Bản án số 16/2017/HNGĐ-PT Bản án số 16/2017/HNGĐ-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất