Bản án số 158/2022/DS-ST ngày 27/07/2022 của TAND huyện Châu Phú, tỉnh An Giang về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 158/2022/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 158/2022/DS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 158/2022/DS-ST ngày 27/07/2022 của TAND huyện Châu Phú, tỉnh An Giang về tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Châu Phú (TAND tỉnh An Giang) |
| Số hiệu: | 158/2022/DS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 27/07/2022 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả nợ |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU PHÚ
TỈNH AN GIANG
Bản án số: 158/2022/DS-ST
Ngày: 27/7/2022
V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Ngọc Điệp
Các Hội thẩm nhân dân:
1.Ông Nguyễn Văn Giữ
2. Bà Trương Thị Thu Thủy
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Trung, Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân
huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú tham gia phiên toà: Bà Lê
Thị Kim Trang - Kiểm sát viên
Ngày 27 tháng 7 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An
Giang xét xử sơ thẩm công khai
vụ án dân sự thụ lý số: 44/2022/TLST-DS ngày 31
tháng 3 năm 2022 về Tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét
xử số: 190/2022/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 7 năm 2022, giữa các đương sự:
-Nguyên đơn: Bà Trần Thị Bích V, sinh năm 1979; nơi cư trú: Tổ 13, ấp B, xã
B, huyện C, tỉnh An Giang. (có mặt)
-Bị đơn: Bà Lâm Thị Đ, sinh năm 1970. (có mặt)
Ông Hồ Ngọc A, sinh năm 1962. ( vắng mặt)
Cùng nơi cư trú: Tổ 02, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang
Người đại diện hợp pháp của ông Hồ Ngọc A: Bà Lâm Thị Đ, sinh năm 1970;
nơi cư trú: Tổ 02, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang (đại diện theo ủy quyền, văn
bản ủy quyền ngày 067/2022), (có mặt)
-Người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng: Lê Thị Mỹ L, sinh năm 1977; nơi cư trú: Ấp V, TT. C, huyện
P, tỉnh An Giang (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn bà Trần Thị Bích V trình bày:
Ngày 27/3/2021, bà Lâm Thị Đ vay của bà số tiền 150.000.000đồng (Một trăm
năm mươi triệu đồng), khi vay hai bên thỏa thuận mỗi ngày trả 1.000.000đồng cho đến
khi đủ 150.000.000đồng. Khi vay hai bên không làm văn bản chỉ thỏa thuận bằng lời
2
nói. Bà Đ đã trả được 22 ngày. Sau đó bà Đ không trả tiền cho bà. Tại Đơn khởi kiện
ngày 28/3/2022 bà yêu cầu bà Lâm Thị Đ và ông Hồ Ngọc A cùng có trách nhiệm liên
đới trả cho bà số tiền nợ gốc 150.000.000đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng). Quá
trình giải quyết vụ án bà thay đổi yêu cầu khởi kiện, trình bày bà Lâm Thị Đ đã trả
được 21.000.000đồng, chỉ yêu cầu bà Lâm Thị Đ trả cho bà số tiền vay còn nợ là
129.000.000đồng (Một trăm hai mươi chín triệu đồng), không yêu cầu tính lãi, không
yêu cầu ông Hồ Ngọc A. Chứng cứ chứng minh: Có bà Lê Thị Mỹ L là người làm
chứng và biết sự việc.
- Bị đơn bà Lâm Thị Đ trình bày: Bà có vay của bà Trần Thị Bích V số tiền
50.000.000đồng (Năm mươi triệu đồng), vay ngày nào thì không nhớ, nhưng nhớ là
sau khi bà bán cơm được một thời gian thì bà bắt đầu vay của bà V, hai bên thỏa
thuận lãi suất 5%/tháng. Ngày 27/3/2021, bà không vay số tiền 150.000.000đồng (Một
trăm năm mươi triệu đồng) như bà V trình bày. Bà chỉ vay của bà V số tiền
50.000.000đồng, bà có trả lãi. Sau dịch Covid-19, bà với bà V thống nhất trả mỗi ngày
1.000.000đồng (Một triệu đồng), bà đã góp được khoảng 21.000.000đồng như bà V
trình bày.
- Bị đơn ông Hồ Ngọc A vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên
tòa, không có văn bản ghi ý kiến.
- Người làm chứng bà Lê Thị Mỹ L trình bày: Bà với bà Trần Thị Bích V là bạn
với nhau hơn 10 năm, ngày nào cũng gặp nhau vì mua bán ở chợ kế bên nhau. Bà với
bà Trần Thị Bích V và Lâm Thị Đ không có mối quan hệ bà con thân thích. Bà biết bà
Đ bán cơm. Bà Trần Thị Bích V mượn của bà số tiền 150.000.000đồng (Một trăm năm
mươi triệu đồng) để cho bà Lâm Thị Đ vay. Bà Trần Thị Bích V cho bà Lâm Thị Đ
vay số tiền 150.000.000đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng) vào ngày 27/3/2021. Bà
Đ nhận tiền vay bà V vào khoảng 14 giờ ngày 27/3/2021 tại nhà của bà
-Tại phiên tòa:
Nguyên đơn bà Trần Thị Bích V yêu cầu bà Lâm Thị Đ trả cho bà số tiền còn
nợ là 129.000.000đồng (Một trăm hai mươi chín triệu đồng) vay ngày 27/3/2021,
không yêu cầu tính lãi
Bị đơn bà Lâm Thị Đ không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị
Bích V. Ngày 27/3/2021 bà không vay của bà Trần Thị Bích V số tiền
150.000.000đồng.
Bà Lê Thị Mỹ L trình bày: Ngày 27/3/2021, Bà V điện thoại hỏi vay bà số tiền
150.000.000đồng và nói bà đưa cho bà Lâm Thị Đ. Do là bạn bè thân thiết nên bà đưa
150.000.000đồng cho bà Đ, không ký nhận. Bà đưa số tiền 150.000.000đồng bà V vay
của bà cho bà Đ tại nhà của bà. Thời điểm bà Đ nhận 150.000.000đồng vào khoảng 14
giờ ngày 27/3/2021, chỉ có bà với bà Đ, không có bà V.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú phát biểu:
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng quy định của
pháp luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng
của mình.
Về nội dung: Giữa nguyên đơn bà Trần Thị Bích V với bị đơn bà Lâm Thị Đ có
hợp đồng vay tiền nhưng không thống nhất số tiền và thời gian vay. Bà V trình bày bà
Đ vay số tiền 150.000.000đồng ngày 27/3/2021. Bà Đ không thừa nhận ngày
3
27/3/2021 có vay của bà V số tiền 150.000.000đồng, mà thừa nhận trước đó vào
khoảng năm 2016, bà có vay của bà V số tiền 50.000.000đồng. Bà L có mối quan hệ
thân thiết với bà V nên lời khai không khách quan. Bà V không cung cấp được chứng
cứ chứng minh ngày 27/3/2021 bà Đ vay 150.000.000đồng. Vì vậy, bà V khởi kiện
yêu cầu bà Đ trả số tiền 129.000.000đồng không có căn cứ để chấp nhận. Bà V rút yêu
cầu khởi kiện đối với ông Hồ Ngọc A và số tiền 21.000.000đồng, đề nghị Hội đồng xét
xử đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện này của bà V.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng
[1.1] Bà Trần Thị Bích V khởi kiện yêu cầu bà Lâm Thị Đ trả tiền vay nên Đ là
tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân
sự. Bà Lâm Thị Đ cư trú tại huyện Châu Phú, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân
huyện Châu Phú thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo điểm a khoản 1 Điều
35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Khoản 1 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự quy định Đương sự yêu cầu Tòa
án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho
Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp. Bà
V khởi kiện yêu cầu bà Đ trả số tiền 129.000.000đồng còn nợ theo hợp đồng vay tài
sản ngày 27/3/2021. Vì vậy, bà Trần Thị Bích V phải có nghĩa vụ chứng minh bà Đ có
nghĩa vụ trả số tiền 129.000.000đồng còn nợ theo hợp đồng vay tài sản ngày
27/3/2021. Khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự quy định: Đương sự có nghĩa vụ
đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ
chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được
có trong hồ sơ vụ việc. Tòa án đã thông báo các đương sự giao nộp chứng cứ và đã
tiến hành thu thập chứng cứ. Vì vậy, Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những
chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc.
[1.3] Tại Đơn khởi kiện bà Trần Thị Bích V yêu cầu ông Hồ Ngọc A cùng có
nghĩa vụ với bà Lâm Thị Đ trả số tiền 150.000.000đồng, quá trình giải quyết vụ án bà
chỉ yêu cầu bà Lâm Thị Đ trả số tiền 129.000.000đồng. Vì vậy, Hội đồng xét xử đình
chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Bịch V đối với ông Hồ Ngọc A và số tiền
21.000.000đồng.
[2] Về nội dung vụ án
[2.1] Bà Trần Thị Bích V trình bày ngày 27/3/2021 bà có cho bà Lâm Thị Đ vay
số tiền 150.000.000đồng nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh
ngày 27/3/2021 bà Lâm Thị Đ vay của bà số tiền 150.000.000đồng. Bà Lâm Thị Đ
không thừa nhận ngày 27/3/2021 bà có vay của bà Trần Thị Bích V số tiền
150.000.000đồng. Bà Lâm Thị Đ không thừa nhận ngày 27/3/2021 bà có nhận
150.000.000đồng tiền từ bà Lê Thị Mỹ L.
[2.2] Người làm chứng bà Lê Thị Mỹ L là bạn bè thân thiết với bà Trần Thị
Bích V đã 10 năm. Tại Biên bản lấy lời khai ngày 18/5/2022, bà L trình bày: “Ngày
27/3/2021, tôi đưa cho bà Trần Thị Bích V số tiền 150.000.000đồng tại nhà tôi và bà
Trần Thị Bích V đưa số tiền 150.000.000đồng cho bà Đ tại sân nhà tôi. Thời điểm bà
Đ nhận tiền của bà V vào khoảng 14 giờ ngày 27/3/2021. Tôi thấy bà Lâm Thị Đ nhận
số tiền 150.000.000đồng, không ký biên nhận. Số tiền 150.000.000đồng bao tiền mệnh
4
giá 500.000đồng, tiền mệnh giá 200.000đồng. Nhà tôi kế bên cô Phượng, đối diện tiệm
nét TN. Ngoài tôi với bà V và bà Đ thì không có ai thấy việc giao tiền”. Tại Biên bản
đối chất ngày 07/7/2022, bà L trình bày: “Ngày 27/3/2021, bà Trần Thị Bích V điện
thoại cho tôi để vay của tôi số tiền 150.000.000đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng)
và nói đưa cho bà Lâm Thị Đ nhận. Khoảng 14 giờ chiều ngày 27/3/2021, Tôi là
người trực tiếp giao 150.000.000đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng) cho bà Lâm
Thị Đ. Khi tôi giao tiền cho bà Lâm Thị Đ thì bà Đ không ký biên nhận. Ngoài tôi với
bà Lâm Thị Đ thì không ai thấy việc tôi đưa số tiền 150.000.000đồng (Một trăm năm
mươi triệu đồng) mà bà V vay của tôi đưa cho bà Lâm Thị Đ vay”. Lời trình bày của
bà Lê Thị Mỹ L có sự mâu thuẫn, không thống nhất với nhau và bà L có mối quan hệ
thân thiết với bà V nên lời khai của bà L không được xem là chứng cứ.
Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa
thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên
vay phải hoàn trả cho bên vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ
phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định”. Bà V không chứng minh
được ngày 27/3/2021 bà có giao số tiền 150.000.000đồng (Một trăm năm mươi triệu
đồng) cho bà Lâm Thị Đ vay. Như vậy, Không có căn cứ xác định Ngày 27/3/2021
giữa bà Lâm Thị Đ với bà Trần Thị Bích V không có hợp đồng vay số tiền
150.000.000đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng).
[2.3] Khoản 1 Điều 275 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định nghĩa vụ phát sinh
từ căn cứ hợp đồng. Bà Trần Thị Bích V khởi kiện yêu cầu bà Lâm Thị Đ thực hiện
nghĩa vụ trả 129.000.000đồng tiền còn nợ theo hợp đồng vay số tiền 150.000.000đồng
ngày 27/3/2021. Ngày 27/3/2021 giữa bà Trần Thị Bích với bà bà Lâm Thị Đ không
có hợp đồng vay số tiền 150.000.000đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng). Bà Lâm
Thị Đ không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Bích V. Vì vậy, bà Lâm
Thị Đ không có nghĩa vụ trả số tiền 129.000.000đồng theo yêu cầu khởi kiện của Trần
Thị Bích V.
Căn cứ Điều 275 và Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015, bà Trần Thị Bích V
khởi kiện yêu cầu bà Lâm Thị Đ phải trả số tiền 129.000.000đồng (Một trăm hai mươi
chín triệu đồng) còn nợ theo hợp đồng vay 150.000.000đồng (Một trăm năm mươi
triệu đồng) ngày 27/3/2021 không được chấp nhận.
[3] Về án phí: Bà Trần Thị Bích V khởi kiện không được chấp nhận nên phải
chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,
Điều 147, Điều 235 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 275 và Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng
án phí và L phí Tòa án;
X ử:
5
Không chấp yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Bích V buộc bà Lâm Thị Đ trả
129.000.000đồng (Một trăm hai mươi chín triệu đồng) còn nợ theo hợp đồng vay
150.000.000đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng) ngày 27/3/2021.
Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Bích V đối với ông Hồ Ngọc A,
Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Bích V đối với số tiền
21.000.000đồng (Hai mươi mốt triệu đồng)
Về án phí:
Bà Trần Thị Bích V phải chịu 6.450.000đồng (Sáu triệu bốn trăm mươi mươi
nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ 3.750.000đồng (Ba triệu bảy trăm
năm mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí L
phí Tòa án số 0003609 ngày 31/3/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu
Phú, tỉnh An Giang. Bà Trần Thị Bích V phải nộp thêm 2.700.000đồng (Hai triệu bảy
trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Thời hạn kháng cáo đối với bản án của các đương sự có mặt tại phiên tòa là 15
ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn
kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc
bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân
sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- Đương sự;
- VKSND huyện Châu Phú;
- Chi cục THADS huyện Châu Phú;
- TAND tỉnh An Giang;
- VKSND tỉnh An Giang;
- Lưu VP; hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Ngọc Điệp
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 30/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 30/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 28/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 28/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Bản án số 156/2026/DS-PT ngày 26/01/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Ban hành: 26/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 22/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 22/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 21/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 21/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 21/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 20/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Bản án số 113/2026/DS-PT ngày 20/01/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Ban hành: 20/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 16/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 15/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 14/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 13/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 13/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 13/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 12/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 12/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm