Bản án số 156/2025/DS-PT ngày 25/12/2025 của TAND tỉnh Thanh Hóa về y/c tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 156/2025/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 156/2025/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 156/2025/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 156/2025/DS-PT ngày 25/12/2025 của TAND tỉnh Thanh Hóa về y/c tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Y/c tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Thanh Hóa |
| Số hiệu: | 156/2025/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 25/12/2025 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Bà Lê Thị L yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ giữa ông V1, bà T với anh G, chị V tại VPCC H là vô hiệu. Sau khi xét xử sơ thẩm, chị V là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập kháng cáo đề nghị sửa bản án sơ thẩm. |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THANH HÓA
Bản án số: 156/2025/DS-PT
Ngày: 25-12-2025
V/v: Tranh chấp liên quan đến
yêu cầu tuyên bố văn bản công
chứng vô hiệu.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Mai Nam Tiến
Các Thẩm phán: bà Lê Thu Hương, bà Lê Thị Dung
- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Văn Tài - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:
bà Lữ Thị Phương Quý - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét
xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 124/2025/TLPT-DS ngày 03 tháng 11 năm
2025 về việc “Tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô
hiệu”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 99/2025/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực x - Thanh Hóa bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 131/2025/QĐ-PT ngày
24/11/2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: bà Lê Thị L, sinh năm 1947; số CCCD: 0381470xxxxx; địa
chỉ: thôn T, xã H, tỉnh Thanh Hóa; có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: anh Lê Đình C; địa chỉ: Công ty Luật W - Chi
nhánh số 01, thôn P, xã H, tỉnh Thanh Hóa; có mặt.
2. Bị đơn: Văn phòng Công chứng N; địa chỉ: số 227, đường T, xã H, tỉnh
Thanh Hóa.
Người đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Trọng H -Trưởng Văn phòng;
vắng mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Anh Lê Anh G, sinh năm 1972; số CCCD: 0380720xxxxx;
3.2. Chị Nguyễn Thị Thu V, sinh năm 1975; số CCCD: 0441750xxxxx;
2
Cùng địa chỉ: Số 521/xxx/xx Khu phố 1, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
(nay là số 521/xxx/xx Khu phố 1, phường L, tỉnh Đồng Nai); anh G có mặt, chị V vắng
mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của chị Nguyễn Thị Thu V: Anh Hồ Văn N, sinh
năm 1989 và chị Phạm Thị Yến N1, sinh năm 1998;
Cùng địa chỉ: 5/x, KP.4, phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là phường
T, tỉnh Đồng Nai); chị N1 có mặt, anh N vắng mặt.
3.3. Ông Lê Đức V1, sinh năm 1937; số CCCD: 0380370xxxxx; địa chỉ: số
47x/x T, Tổ 3, phường C, thành phố P, tỉnh Gia Lai (nay là số 47x/x T, Tổ 3, phường H, tỉnh
Gia Lai); vắng mặt.
3.4. Anh Lê Đức V2, sinh năm 1961; số CCCD: 0380610xxxxx; địa chỉ: số x,
đường đồi Cx, phường H, thành phố T (nay là số x, đường đồi Cx, phường H, tỉnh
Thanh Hóa); vắng mặt.
3.5. Chị Lê Thị T, sinh năm 1964; số CCCD: 0381640xxxxx; địa chỉ: tổ dân
phố 6, thị trấn P, huyện K, tỉnh Gia Lai (nay là tổ dân phố 6, xã P, tỉnh Gia Lai);
vắng mặt.
3.6. Chị Lê Thị H1, sinh năm 1972; số CCCD: 0381720xxxxx; địa chỉ: 47x/x
T, Tổ 3, phường C, thành phố P, tỉnh Gia Lai (nay là 47x/x T, Tổ 3, phường H, tỉnh Gia
Lai); vắng mặt.
3.7. Anh Lê Đức H2, sinh năm 1975; số CCCD: 0640750xxxxx; địa chỉ: tổ
dân phố 4, thị trấn P, huyện K, tỉnh Gia Lai (nay là tổ dân phố 4, xã P, tỉnh Gia Lai);
vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Lê Đức V1, anh Lê Đức V2, chị Lê Thị
T, chị Lê Thị H1, anh Lê Đức H2: chị Hà Thị P, sinh năm 2001; địa chỉ: thôn H, xã
H, tỉnh Thanh Hóa; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
3.8. Văn phòng công chứng Q; địa chỉ: thôn 6, xã H, tỉnh Thanh Hóa.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Văn N2 - Trưởng văn phòng; vắng
mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
3.9. Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai H; địa chỉ: xã H, tỉnh Thanh
Hóa.
Người đại diện theo pháp luật: Giám đốc Chi nhánh; vắng mặt.
4. Người kháng cáo: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn
Thị Thu V.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Tại đơn khởi kiện, lời khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên
đơn bà Lê Thị L trình bày:
Ngày 12/12/2018, bà L nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất (QSDĐ)
222m
2
đất ở và nhà ở trên đất tại thửa đất số 115a, tờ bản đồ số 09
(E_48_08_189_c), bản đồ địa chính xã H, địa chỉ tại thôn T, xã H, huyện H, tỉnh
Thanh Hóa từ vợ chồng ông Lê Đức V1 và bà Trương Thị T1. Việc chuyển
3
nhượng được lập thành hợp đồng bằng văn bản công chứng 2761/2018 tại Văn
phòng công chứng (VPCC) Q.
Cùng thửa đất trên, ngày 11/8/2021, VPCC H thực hiện công chứng hợp đồng
chuyển nhượng QSDĐ giữa bên chuyển nhượng là vợ chồng ông Lê Đức V1, bà
Trương Thị T1 với bên nhận chuyển nhượng là vợ chồng anh Lê Anh G, chị Nguyễn
Thị Thu V, số công chứng 4538/2021. Bà L không được biết về thông tin chuyển
nhượng này.
Ngay khi biết được sự việc, bà L đã liên lạc với vợ chồng ông V1 để hỏi rõ.
Ông V1 khẳng định với bà L: vợ chồng ông“không thực hiện chuyển nhượng mảnh
đất này cho bất kỳ một cá nhân nào khác ngoài bà L” và vợ chồng ông cũng
“không ký vào bất kì một văn bản chuyển nhượng QSDĐ nào ngoài bà L”. Ngày
11/8/2021, vợ chồng ông V1, bà T1 vẫn ở Gia Lai chứ không về Thanh Hóa để ký
hợp đồng chuyển nhượng tại H. Vì thế, chữ ký của vợ chồng ông V1 trong hợp
đồng là giả mạo (hiện nay bà T1 đã chết). Thời điểm tháng 8/2021, vợ chồng anh
G, chị V cũng đang ở Đồng Nai nên chữ ký của bên nhận chuyển nhượng cũng là
giả mạo, do người khác ký thay.
Như vậy, VPCC H vẫn công chứng hợp đồng chuyển nhượng giữa vợ
chồng ông V1 và vợ chồng anh G là vi phạm quy định của pháp luật công chứng.
Cụ thể là vi phạm quy định về thủ tục công chứng; vi phạm về hình thức thực
hiện công chứng; vi phạm quy định về hành vi bị nghiêm cấm trong Luật công
chứng năm 2014. Do Công chứng viên Nguyễn Văn C1 đã chết và VPCC H đã
giải thể, Sở Tư pháp tỉnh Thanh Hóa chỉ định VPCC N tiếp quản các hồ sơ từ
VPCC H. Vì vậy, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, bà L yêu cầu
Tòa án tuyên bố văn bản công chứng hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ và tài sản
gắn liền với đất ngày 11/8/2021 tại VPCC H số 4538, quyển sổ số: 03/2021
TP/CC-SCC/HĐGD vô hiệu.
2. Người đại diện của VPCC N trình bày:
VPCC N không thực hiện việc công chứng hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ
giữa ông Lê Đức V1, bà Trương Thị T1 với bên nhận chuyển nhượng là vợ chồng
anh Lê Anh G, chị Nguyễn Thị Thu V đối với thửa đất số 115a, tờ bản đồ số 09,
bản đồ địa chính xã H, địa chỉ tại thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi
VPCC H dừng hoạt động, VPCC N được chỉ định tiếp nhận lưu giữ hồ sơ đã thực
hiện việc công chứng trước đây của VPCC H. Do vậy, VPCC N không đưa ra quan
điểm về việc công chứng đã thực hiện là đúng hay sai. Đề nghị Tòa án căn cứ pháp
luật để giải quyết.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Đức V1 trình bày:
- Ông và vợ là bà Nguyễn Thị T1 có một thửa đất diện tích 222m
2
và nhà ở
trên đất tại thửa số 115a, tờ bản đồ số 09, được UBND huyện H cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) cho vợ chồng ông ngày 13/01/2015. Do gia
đình ông không có nhu cầu sử dụng nữa thống nhất chuyển nhượng cho bà Lê Thị
L. Sau khi được vợ ông ủy quyền bằng văn bản hợp pháp, ngày 12/12/2018, ông
có mặt tại VPCC Q để chuyển nhượng QSDĐ và nhà ở có thông tin như trên cho
4
bà L. Việc chuyển nhượng là có thật. Chữ ký trong hợp đồng chuyển nhượng là
của ông. Sự kiện chuyển nhượng này, ông đã họp bàn và thống nhất với vợ và các
con.
- Về hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ giữa vợ chồng ông với vợ chồng anh
Lê Anh G, chị Nguyễn Thị Thu V ngày 11/8/2021 tại VPCC H, tỉnh Thanh Hóa,
thì gần đây khi bà L gọi hỏi ông mới biết. Ông khẳng định ông và vợ không ký
vào hợp đồng này, chữ ký trong hợp đồng không phải của ông. Thời điểm tháng
08/2021, vợ chồng ông vẫn ở Gia Lai, không về Thanh Hóa. Ngoài việc chuyển
nhượng nhà, đất nêu trên cho bà L thì vợ chồng ông không chuyển nhượng hoặc
nhận tiền của bất cứ ai khác.
Vợ ông là bà Trương Thị T1 đã chết ngày 04/04/2023. Ông và vợ có 04
người con chung là: Lê Đức V2, Lê Thị T, Lê Thị H1, Lê Đức H2. Ông đồng ý
với yêu cầu khởi kiện của bà L, đề nghị Tòa án tuyên vô hiệu đối với văn bản
công chứng số 4538, quyển sổ số: 03/2021 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 11/8/2021
của VPCC H.
4. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Đức V2, chị Lê Thị
T, chị Lê Thị H1, anh Lê Đức H2 trình bày: Thống nhất như quan điểm trình bày
của ông Lê Đức V1.
5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Anh G trình bày:
Mối quan hệ giữa anh và bà Lê Thị L là mẹ con ruột, còn giữa anh và ông
V1, bà T1 là bác cháu ruột với nhau.
Năm 2018 ông Lê Đức V1 và bà Trương Thị T1 có bán cho mẹ anh một
thửa đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 09, diện tích 222m
2
, địa chỉ tại
thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Việc chuyển nhượng thửa đất nêu trên
giữa ông V1, bà T1 và bà L đã được lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu
nhà ở và QSDĐ ở tại VPCC Q, số công chứng 2761, ngày 12/12/2018.
Sau khi bà L nhận chuyển nhượng thửa đất của ông V1, bà T1 nhưng chưa
làm thủ tục sang tên sổ đỏ (do diện tích thửa đất có sự biến động). Đến năm 2021
do nhu cầu cần tiền vốn để làm ăn nên anh nhờ một người bạn làm ở VPCC giúp
anh làm các thủ tục giấy tờ mục đích sang tên thửa đất của bà L đã mua của ông
V1 để sang tên cho anh để anh vay vốn ngân hàng. Thời điểm này ông V1 và bà
T1 đang ở trong Gia Lai, vợ anh là chị V cũng ở trong Đồng Nai. Mọi giấy tờ của
bà L là do anh cất giữ nên khi làm thủ tục chuyển nhượng thửa đất của bà L sang
cho vợ chồng anh thì bà không biết. Đối với hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ và
tài sản gắn liền với đất ngày 11/8/2021, số 4538 tại VPCC H do công chứng viên
Nguyễn Văn C1 xác nhận là do anh nhờ người làm nên chữ ký và điểm chỉ của
ông V1 và bà T1 trong hợp đồng là giả mạo, không phải chữ ký của ông V1, bà
T1. Còn chữ ký Lê Anh G là đúng chữ ký của anh. Đối với chữ ký của vợ anh là
Nguyễn Thị Thu V cũng không phải vì thời điểm đó đang dịch Covid-19 giãn
cách xã hội nên ông V1, bà T1 ở trong Gia Lai còn vợ anh trong Đồng Nai.
Sau đó đến ngày 04/5/2023 Văn phòng đăng ký đất đai (VPĐKĐĐ) huyện
H đã xác nhận bìa sau của sổ đỏ thông tin chuyển nhượng thửa đất nói trên sang
5
cho vợ chồng anh nhưng bìa đỏ vẫn đứng tên ông Lê Đức V1 và bà Trương Thị
T1.
Thời gian gần đây, khoảng tháng 01/2024 do vợ chồng anh mâu thuẫn với
nhau nên bà L mới được biết sự việc thửa đất sang tên chuyển nhượng cho vợ
chồng anh. Hiện nay bà L đang ở thửa đất nói trên còn vợ chồng anh đã có nhà
cửa và định cư ở trong Đồng Nai. Nay bà L làm đơn yêu cầu tuyên bố văn bản
công chứng là Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ và tài sản gắn liền với đất số
công chứng 4538 tại VPCC H ngày 11/8/2021 là vô hiệu, quan điểm của anh
hoàn toàn đồng ý vì thực tế thửa đất này là của ông V1, bà T1 bán cho mẹ anh
chứ không có việc ông V1, bà T1 bán cho vợ chồng anh, chữ ký trong hợp đồng
chuyển nhượng cũng không phải chữ ký của ông V1, bà T1 và chị V.
6. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Thu V gửi văn
bản trình bày:
Chị là vợ anh Lê Anh G. Trong quá trình chung sống, vợ chồng có tạo lập
được một khối tài sản chung, trong đó có thửa đất số 115a nói trên. Về nguồn gốc
thửa đất này là do ông Lê Đức V1 (bác ruột của anh G) và bà Trương Thị T1 để
lại cho bà L sử dụng. Trong quá trình chung sống bà L đã cho vợ chồng chị mảnh
đất này và bảo vợ chồng chị làm giấy tờ đất để sang tên trên GCNQSDĐ đứng tên
hai vợ chồng. Do đất vẫn đứng tên ông V1, bà T1 nên vào năm 2021 vợ chồng
chị đã làm thủ tục nhận chuyển nhượng trực tiếp từ ông V1, bà T1.
Khi làm thủ tục chuyển nhượng do tình hình dịch bệnh Covid-19 và có con
nhỏ nên chị không thể cùng anh G về quê để làm giấy tờ được. Vì tin tưởng
chồng nên chị để cho anh G về Thanh Hóa làm các giấy tờ nhà đất, mọi giấy tờ
thủ tục đều do anh G lo liệu làm. Việc làm GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và
tài sản khác gắn liền với đất thì bà L biết và cũng không có bất cứ phản đối gì. Do
vậy đến năm 2023, tên chị và anh G được ghi nhận và cập nhật tại mục IV -
Những thay đổi sau khi cấp giấy chứng nhận của GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà
ở và tài sản khắc gắn liền với đất số BX 736xxx vào ngày 04/05/2023. Từ khi
nhận chuyển nhượng đến nay vợ chồng chị có nhờ bà Lê Thị L trông coi, quản lý
giùm.
Tuy nhiên, vào cuối năm 2023 do vợ chồng chị mâu thuẫn phải gửi đơn
đến TAND thành phố B yêu cầu ly hôn và chia tài sản chung khi ly hôn. Trong
quá trình giải quyết vụ việc ly hôn tại TAND thành phố B, Tòa án có thực hiện
thủ tục trích lục hồ sơ đối với các thửa đất tranh chấp tại VPĐKĐĐ. Theo Văn
bản số 541/CNVPĐKĐĐ ngày 08/4/2024 của Chi nhánh VPĐKĐĐ huyện H về
việc cung cấp dữ liệu đất đai thì chị mới phát hiện ra vụ việc mẹ chồng chị là bà
Lê Thị L đang cố tình làm thủ tục sang tên thửa đất nêu trên cho chính bà mà
không được sự đồng ý của chị. Tuy nhiên, bà L và anh G không thực hiện được
thủ tục này do chị đã làm đơn ngăn chặn về việc đăng ký biến động đối với thửa
đất và gửi về cơ quan có thẩm quyền.
Đến tháng 5/2024 chị nhận được Thông báo thụ lý vụ án của TAND huyện
H, tỉnh Thanh Hóa về việc bà L đang “Tranh chấp yêu cầu tuyên bố văn bản công
6
chứng vô hiệu” mà chị là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Theo đó, bà L
đã cung cấp cho Tòa án 01 Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ số công chứng 2761
do VPCC Q lập ngày 12/12/2018 giữa ông Lê Đức V1 và bà Lê Thị L về việc ông
V1 đã chuyển nhượng thửa đất nêu trên cho bà L và cho rằng ông V1 chưa từng
ký bất cứ văn bản nào về việc sang nhượng thửa đất nêu trên cho vợ chồng chị.
Từ đó, bà L đưa ra yêu cầu đề nghị Tòa án tuyên Hợp đồng chuyển nhượng vào
ngày 11/8/2021 tại VPCC H, số công chứng 4538, quyển số 03/2021 TP/CC-
SCC/HĐGD là vô hiệu. Chị không đồng ý với yêu cầu mà bà L đưa ra, lý do:
- Ông V1 trình bày ông không ký vào hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ cho
vợ chồng chị là không đúng, vì kết luận giám định đã kết luận chữ ký, chữ viết họ
tên trong hợp đồng là của ông V1.
- Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ số công chứng 2761 do VPCC Q lập ngày
12/12/2018 giữa ông Lê Đức V1 và bà Lê Thị L có rất nhiều điểm bất hợp lý, không
minh bạch, không rõ ràng, có dấu hiệu giả mạo:
+ Vợ chồng chị vốn đã được cơ quan có thẩm quyền là Chi nhánh
VPĐKĐĐ huyện H ghi nhận là người có QSDĐ hợp pháp từ năm 2023 và không
hề có tranh chấp với ai, cho đến đầu năm 2024 khi chị ly hôn với anh G thì mới
phát sinh tranh chấp với bà L. Theo bà L và anh G trình bày, bà L nhận chuyển
nhượng đất từ ông V1 vào năm 2018, và bà vốn ở tại thôn T là nơi có thửa đất
nhưng vẫn không tiến hành làm thủ tục sang tên mà phải chờ đến năm 2024 khi
sự việc ly hôn của vợ chồng chị xảy ra thì bà L mới tìm mọi cách để được công
nhận QSDĐ nêu trên.
+ Khi biết thông tin vợ chồng chị ly hôn, thì bà L cùng anh G liên tục tìm
mọi cách để tẩu tán tài sản chung của vợ chồng chị dưới nhiều hình thức nhằm
mục đích chiếm đoạt tài sản để không phải phân chia tài sản chung là thửa đất nêu
trên cho chị, cụ thể bà L và anh G định làm thủ tục tặng cho bà L thửa đất này,
nhưng không thực hiện được là do chị đã làm đơn yêu cầu ngăn chặn đăng ký
biến động đối với các thửa đất đang tranh chấp khi yêu cầu giải quyết ly hôn (thể
hiện tại văn bản số 541/CNVPĐKĐĐ-TTLT ngày 08/4/2024 của Chi nhánh
VPĐKĐĐ huyện H).
+ Do không làm thủ tục tặng cho được, nên bà L mới đưa ra tiếp 01 hợp
đồng chuyển nhượng từ những năm 2018 giữa chủ cũ thửa đất là ông Lê Đức V1
để làm căn cứ yêu cầu khởi kiện vụ án này nhằm mục đích cho rằng thửa đất nêu
trên là thuộc QSD của bà L mà không phải của vợ chồng chị để chị không được
phân chia tài sản chung.
- Về nội dung của Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ số công chứng 2761
ngày 12/12/2018 ghi ông V1 chuyển nhượng cho bà L 222m
2
, nhưng trước đó
vào ngày 25/4/2017 đã có quyết định thu hồi một phần diện tích đất là 132,8m
2
được thể hiện tại trang 4 GCNQSDĐ, nên thửa đất chỉ còn lại 89,2m
2
mà thôi.
Như vậy, nội dung Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ số công chứng 2761 đã ghi
nhận không đúng, không chính xác về đối tượng chuyển nhượng.

7
- Về hình thức của Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ số công chứng 2761:
Trong hợp đồng chỉ có chữ ký mà không có dấu vết vân tay của các bên liên
quan. Cuối Điều 1 của Hợp đồng có để trống mục “*Khác: …….” và không ghi
bất cứ nội dung gì trong mục này là vi phạm Luật công chứng.
- Bên cạnh đó, chị và anh Lê Anh G đã được cơ quan có thẩm quyền là Chi
nhánh VPĐKĐĐ huyện H ghi nhận là người có QSDĐ theo đúng trình tự, quy
định của pháp luật. Vì vậy, chủ quyền đối với thửa đất nêu trên là đã được pháp
luật công nhận, bảo vệ.
Quan điểm của chị V:
- Yêu cầu Tòa án tuyên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu nhà ở và
QSDĐ ở từ ông Lê Đức V1 sang cho bà Lê Thị L đối với phần diện tích thuộc
thửa đất số 115a, tờ bản đồ số 09, ký ngày 12/12/2018 tại VPCC Q, số công
chứng 2761 quyển số 03/2018 TP/CC-SCC/HĐGD vô hiệu do vi phạm pháp luật.
- Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị L về việc tuyên bố Văn bản
công chứng là Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ và tài sản gắn liền với đất ngày
11/8/2021 tại VPCC H, số 4538, quyển số: 03/2021 TP/CC-SCC/HĐGD là vô
hiệu.
7. Ý kiến của VPCC Q đối với yêu cầu độc lập của chị Nguyễn Thị Thu V:
Nội dung thứ 1: Việc thửa đất đã có quyết định thu hồi một phần diện tích
đất là 132,8m
2
từ ngày 25/4/2017 và được cập nhật tại mục IV - Những thay đổi
sau khi cấp giấy chứng nhận. Việc cập nhật nội dung thu hồi tại thời điểm công
chứng ông V1 và bà L xuất trình tại VPCC để công chứng Hợp đồng giao dịch
không có thông tin này (giấy chứng nhận kèm theo).
02 - Nội dung biến động trên trang 4 của giấy chứng nhận được thực hiện
vào ngày 28/12/2018 sau khi đã công chứng tại VPCC.
Tại khoản 3 - Điều 1 của Hợp đồng công chứng số: 2761. Quyển
3.2018/TP - CC ký ngày 12/12/2018 có ghi “Bên đồng ý nhận chuyển nhượng
QSDĐ và tài sản gắn liền với đất (nếu có) theo hiện trạng và chấp nhận mọi yêu
cầu chuyển dịch theo quy hoạch của nhà nước (nếu có sau này) đối với QSDĐ đã
nhận chuyển nhượng.
Căn cứ vào Hợp đồng đã công chứng bà L đã nộp hồ sơ và thực hiện việc
biến động trên trang 4 của giấy chứng nhận theo quy định. Diện tích công nhận
thực tế: 259,0m
2
; diện tích thu hồi: 125,5m
2
.
Cũng căn cứ vào Hợp đồng này bà L là người được nhận tiền và đất tái
định cư đối với diện tích đất đã bị thu hồi trên.
Nội dung thứ 2: Bà V cho rằng hầu hết các VPCC khi thực hiện công
chứng các Hợp đồng thì vẫn luôn yêu cầu các bên trong Hợp đồng lăn tay trong
Hợp đồng công chứng:
Tại thời điểm công chứng ông V1 và bà L đều không thuộc các trường hợp
sử dụng điểm chỉ (đọc được, ký được) và không có yêu cầu lăn tay vào Hợp đồng.
Mặt khác tại thời điểm công chứng ông V1 và bà L làm việc với công chứng viên

8
với trạng thái khỏe mạnh bình thường, tinh thần minh mẫn, tự nguyện thực hiện
giao dịch không có sự ép buộc nào, nên thuộc trường hợp không bắt buộc phải
điểm chỉ theo quy định tại Điều 48 Luật Công chứng năm 2014.
Nội dung thứ 3: Thời điểm thực hiện giao dịch, Căn cứ Luật công chứng
năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật công chứng, việc thực hiện
chứng nhận Hợp đồng, công chứng viên Lê Văn N2 đã thụ lý hồ sơ do các bên
xuất trình kiểm tra đối chiếu giấy tờ về QSDĐ (bản chính), chứng minh nhân dân,
sổ hộ khẩu (bản gốc); hợp đồng ủy quyền của bà T1 cho ông V1 (bản chính), dự
thảo Văn bản Hợp đồng do nhân viên pháp lý của VPCC soạn thảo. Tại thời điểm
ký xác nhận hợp đồng theo quy định các bên đã tự kiểm tra đối chiếu thông tin cá
nhân, công chứng viên đã kiểm tra năng lực hành vi dân sự của các bên tham gia
theo quy định, các bên tham gia đã tự đọc đối chiếu thông tin và nội dung của hợp
đồng chuyển nhượng và ký vào hợp đồng tại trụ sở của VPCC Q theo quy định.
Thời điểm công chứng GCNQSDĐ số BX 736xxx do UBND huyện H cấp cho
ông Lê Đức V1 và bà Trương Thị T1 không có đơn ngăn chặn giao dịch từ cá
nhân hay tổ chức nào.
Như vậy Hợp đồng 2761. Quyển 3.2018/TP-CC ký ngày 12/12/2018 do công
chứng viên Lê Văn N2 đã thực hiện là đúng với quy định của pháp luật.
8. Kết luận giám định chữ ký và chữ viết của ông Lê Đức V1:
- Tại kết luận giám định số 1102 ngày 20/3/2025 của Phòng KTHS Công an
tỉnh Thanh Hóa kết luận đối với chữ ký dạng chữ viết trong Hợp đồng chuyển
nhượng QSDĐ và tài sản gắn liền với đất ngày 11/8/2021, số 4538 quyển số 03/2021
TP/CC-SCC/HĐGD kết luận chữ ký dạng chữ viết là của ông Lê Đức V1.
- Tại kết luận giám định số 174/KL-KTHS, ngày 31/7/6/2025 của Viện
khoa học hình sự Bộ Công an kết luận:
Chữ ký “V1” trong hợp đồng (A-1, A-2) và mẫu so sánh không phải của
ông Lê Đức V1;
Chữ ký, chữ viết đứng tên Lê Đức V1 tại trang (A-3) do cùng một người
ký, viết ra.
Chữ ký “V” tại trang ký hiệu A-1, A-2 chữ ký, chữ viết đứng tên Nguyễn
Thị Thu V tại trang ký hiệu A-3 trên mẫu giám định so với chữ ký chữ viết của
Nguyễn Thị Thu V trên các mẫu so sánh không phải do cùng một người ký, viết
ra.
- Tại công văn số 2275/C09-P5 ngày 31/7/2025 của Viện khoa học hình sự
Bộ công an xác định: “quá trình giám định phát hiện mẫu cần giám định đã bị
thay trang ký hiệu A-3”.
9. Thông tin quản lý đất đai từ Chi nhánh VPĐKĐĐ H:
- Ngày 17/7/2009 chủ sử dụng đất: Lê Đức V1 - Trương Thị T1 (địa chỉ: tổ 3,
phường C, thành phố P, tỉnh Gia Lai) được UBND huyện H cấp GCNQSDĐ số phát
hành AG 126xxx, số vào sổ đăng ký H 00xxx, tại thửa 115 tờ bản đồ số 9, bản đồ
địa chính xã H, diện tích 444,0m
2
.

9
- Ngày 13/01/2015, chủ sử dụng đất: Lê Đức V1 - Trương Thị T1 được
UBND huyện H cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với
đất số phát hành BX 763xxx số vào sổ đăng ký CH 01xxx, tại thửa đất số 115a, tờ
bản đồ số 9 bản đồ địa chính xã H diện tích 222,0m
2
(là thửa đất mới tạo thành
sau khi thực hiện đăng ký tách thửa và chuyển nhượng một phần thửa đất số 115
tờ bản đồ số 9 bản đồ địa chính xã H).
- Ngày 25/4/2017 UBND huyện thu hồi 132,8m
2
diện tích thửa đất nêu trên
tại quyết định số 2017/QĐ-UBND về việc thu hồi của UBND xã H và các hộ gia
đình, cá nhân để thực hiện dự án xây dựng công trình: Nâng cấp cải tạo đường
Quốc lộ 1A đi khu du lịch H, huyện H (giai đoạn 1), đợt 1.
- Ngày 28/12/2018 UBND huyện H công nhận QSDĐ theo thực tế sử dụng,
diện tích 259,0m
2
. Điều chỉnh diện tích thu hồi từ 132,8m
2
thành 125,5m
2
, diện
tích còn lại 133,5m
2
.
- Ngày 04/5/2023 chuyển nhượng toàn bộ QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và
tài sản khác gắn liền với đất cho anh Lê Anh G và chị Nguyễn Thị Thu V.
10. Kết quả thẩm định, định giá tài sản tranh chấp:
- Diện tích thửa đất sau khi Nhà nước đã thu hồi để làm đường là 133,5m
2
.
Trị giá tài sản QSDĐ: 2.487.452.000 đồng.
- Tài sản trên đất: Bán bình mái tôn, diện tích xây dựng 109,76m
2
. Trị giá
tài sản trên đất: 16.735.305 đồng.
Tổng cộng: 2.504.187.305 đồng.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 99/2025/DS-ST ngày 26/9/2025 và Quyết
định sửa chữa bản án số 99A/2025/TB-TA ngày 05/11/2025 của Tòa án nhân dân
khu vực x - Thanh Hóa đã quyết định:
- Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1, điểm m khoản 2 Điều 39,
Điều 147, Điều 165, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng
dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025;
- Căn cứ Điều 117, 122, 123, Điều 131 của Bộ luật Dân sự;
- Điểm b, m khoản 1 Điều 7, Điều 48 của Luật Công chứng.
- Khoản 2, 3 Điều 49 Luật Đất đai năm 2013 quy định về thực hiện quy
hoạch, kế hoạch sử dụng đất:
- Căn cứ khoản 2 Điều 26; khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/
UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức
thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Tuyên bố Hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Lê Đức V1, bà Trương Thị T1 và anh
Lê Anh G, chị Nguyễn Thị Thu V đối với thửa đất số 115a, tờ bản đồ số 9
(E_48_08_189_c) theo GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với
đất số phát hành BX 736xxx, số vào sổ cấp GCN: CH 01xxx do UBND huyện H

10
cấp ngày 13/01/2015 tại thôn T, xã H. Được Công chứng số 4538, quyển số:
03/2021TP/CC- SCC/HĐGD ngày 11/8/2021 tại VPCC H (nay là VPCC N) là vô
hiệu.
2. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của chị Nguyễn Thị Thu V về việc:
Yêu cầu Tòa án tuyên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu nhà ở và quyền sử
dụng đất ở từ ông Lê Đức V1 sang cho bà Lê Thị L đối với phần diện tích thuộc
thửa đất số 115a, tờ bản đồ số 09 (E_48_08_189_c) theo GCNQSDĐ, quyền sở
hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số phát hành BX 736xxx, số vào sổ cấp
GCN: CH 01xxx do UBND huyện H cấp ngày 13/01/2015 tại thôn T, xã H ký
ngày 12/12/2018 tại VPCC Q, số công chứng 2761 quyển số 03/2018 TP/CC-
SCC/HĐGD vô hiệu do vi phạm pháp luật.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ thi hành án, án phí và
quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 08/10/2025 chị Nguyễn Thị Thu V kháng cáo với nội dung:
Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa toàn bộ bản án sơ thẩm theo hướng
không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đồng thời chấp nhận
toàn bộ yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, người đại
diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị
Thu V không rút đơn kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau
về việc giải quyết vụ án.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử (HĐXX), Thư ký Tòa án
và các bên đương sự đã tuân thủ, thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân
sự (BLTTDS) tại cấp phúc thẩm.
- Về nội dung: Đề nghị HĐXX phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều 308
BLTTDS, không chấp nhận kháng cáo của chị Nguyễn Thị Thu V, giữ nguyên
bản án dân sự sơ thẩm số 99/2025/DS-ST ngày 26/9/2025 của Tòa án nhân dân
khu vực x - Thanh Hóa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX phúc thẩm thấy rằng:
[1] Về thủ tục tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan là chị Nguyễn Thị Thu V có đơn kháng cáo trong thời hạn quy định
của BLTTDS, nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Đại diện VPCC N và Chi nhánh VPĐKĐĐ H vắng mặt tại phiên tòa lần
thứ hai, một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng đã có
người đại diện tham gia phiên tòa, một số người có đơn đề nghị xét xử vắng mặt,
nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự,
HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt những người này.
[2] Xét nội dung kháng cáo của chị Nguyễn Thị Thu V:

11
* Đối với yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ ngày 12/12/2018
giữa ông Lê Đức V1, bà Trương Thị T1 và bà Lê Thị L là vô hiệu:
Ngày 12/12/2018, ông Lê Đức V1 và bà Lê Thị L ký Hợp đồng chuyển
nhượng QSDĐ tại VPCC Q đối với thửa đất số 115a, tờ bản đồ số 9, diện tích
222m
2
, địa chỉ: thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Bà Trương Thị T1 là vợ
ông V1 đã có giấy ủy quyền cho ông V1.
Khi tham gia ký kết hợp đồng các bên đương sự đều có năng lực pháp luật
và năng lực hành vi dân sự, việc ký kết hợp đồng là tự nguyện, không bị lừa dối,
ép buộc. Mục đích, nội dung giao kết hợp đồng: Không vi phạm điều cấm của
luật, không trái đạo đức xã hội. Hình thức của hợp đồng: Hợp đồng được lập
thành văn bản và được công chứng tại Văn phòng công chứng là đúng với quy
định của pháp luật. Bên nhận chuyển nhượng là bà L đã thanh toán khoản tiền
chuyển nhượng QSDĐ là 50.000.000 đồng cho bên chuyển nhượng là ông V1, bà
T1; ông V1, bà T1 đã bàn giao đất cho bà L. Các bên đã thực hiện đầy đủ các
quyền, nghĩa vụ dân sự của mình nêu trong hợp đồng. Khi chuyển nhượng QSDĐ
thì ông V1, bà T1 đang có GCNQSDĐ, đủ điều kiện để chuyển nhượng.
Như vậy, Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ đảm bảo đầy đủ các điều kiện
có hiệu lực của hợp đồng theo quy định tại các Điều 117, 118, 119 và Điều 500,
501, 502 Bộ luật dân sự năm 2015; đảm bảo đầy đủ các điều kiện chuyển nhượng
QSDĐ theo Điều 188 Luật đất đai. Hiện tại bà L là người đang quản lý, sử dụng
thửa đất này.
- Việc chị V cho rằng thửa đất đã có quyết định thu hồi một phần diện tích
đất là 132,8m
2
từ ngày 25/4/2017 và được cập nhật tại mục IV sau khi cấp giấy
chứng nhận nhưng khi chuyển nhượng trong hợp đồng vẫn ghi là chuyển nhượng
toàn bộ thửa đất là 222m
2
:
Việc cập nhật nội dung thu hồi 132,8m
2
ngày 25/4/2017 tại mục IV của
GCNQSDĐ không có xác nhận tại phần xác nhận của cơ quan có thẩm quyền,
nên không có căn cứ xác định ngày cơ quan có thẩm quyền cập nhật biến động
vào trang 4 giấy chứng nhận là ngày 25/4/2017.
Tại khoản 3 Điều 1 của Hợp đồng công chứng số: 2761. Quyển 3.2018/TP-
CC ký ngày 12/12/2018 có ghi “Bên đồng ý nhận chuyển nhượng QSDĐ và tài
sản gắn liền với đất (nếu có) theo hiện trạng và chấp nhận mọi yêu cầu chuyển
dịch theo quy hoạch của nhà nước (nếu có sau này) đối với QSDĐ đã nhận
chuyển nhượng, nghĩa là bên nhận chuyển nhượng đồng ý theo hiện trạng sử
dụng đất và chấp nhận mọi yêu cầu chuyển dịch theo quy hoạch của Nhà nước
đối với QSDĐ. Do đó, căn cứ vào Hợp đồng này bà L là người được nhận tiền và
đất tái định cư đối với diện tích đất đã bị thu hồi trên.
- Chị V cho rằng hợp đồng chuyển nhượng không có dấu vân tay của các
bên:
Theo quy định tại Điều 48 Luật Công chứng năm 2014, việc điểm chỉ trong
văn bản công chứng sẽ được thực hiện trong các trường hợp sau đây:

12
- Sử dụng điểm chỉ thay cho việc ký: Người yêu cầu công chứng không ký
được bởi các nguyên nhân: do khuyết tật; không biết ký.
- Sử dụng điểm chỉ đồng thời với việc ký: Người yêu cầu công chứng thực
hiện việc ký đồng thời sử dụng điểm chỉ trong trường hợp công chứng:
+ Di chúc;
+ Do người yêu cầu công chứng đề nghị;
+ Khi công chứng viên cảm thấy cần thiết phải sử dụng việc điểm chỉ đồng
thời với ký để bảo vệ quyền lợi cho người yêu cầu công chứng.
Tại thời điểm công chứng ông V1 và bà L đều không thuộc các trường hợp
sử dụng điểm chỉ (đọc được, ký được) và không có yêu cầu lăn tay vào Hợp đồng.
Mặt khác tại thời điểm công chứng ông V1 và bà L làm việc với công chứng viên
với trạng thái khỏe mạnh bình thường, tinh thần minh mẫn, tự nguyện thực hiện
giao dịch không có sự ép buộc nào, nên thuộc trường hợp không bắt buộc phải
điểm chỉ theo quy định tại Điều 48 Luật Công chứng năm 2014.
Ngoài ra, bản thân chị V cũng thừa nhận nguồn gốc thửa đất này là do ông
Lê Đức V1 và bà Trương Thị T1 để lại cho bà L sử dụng. Trong quá trình chung
sống bà L đã cho vợ chồng chị mảnh đất này và bảo vợ chồng chị làm giấy tờ đất
để sang tên trên GCNQSDĐ đứng tên hai vợ chồng, tuy nhiên không có tài liệu
nào thể hiện bà L đã tặng cho vợ chồng anh G, chị V.
Như vậy, xác định thửa đất nêu trên ông V1, bà T1 đã chuyển nhượng cho
bà L. Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ số 2761. Quyển 3.2018/TP-CC ký ngày
12/12/2018 lập tại VPCC Q giữa ông Lê Đức V1, bà Trương Thị T1 với bà Lê Thị
L thực hiện đúng quy định của pháp luật. Do đó, hợp đồng không bị vô hiệu.
* Đối với yêu cầu Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị L về
việc tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ ngày 11/8/2021 giữa ông Lê Đức V1,
bà Trương Thị T1 với anh Lê Anh G, chị Nguyễn Thị Thu V là vô hiệu:
Theo lời trình bày của anh Lê Anh G: Năm 2021 do nhu cầu cần tiền vốn để
làm ăn nên anh nhờ một người bạn làm ở Văn phòng công chứng giúp anh làm
các thủ tục giấy tờ mục đích sang tên thửa đất của bà L đã mua của ông V1 để
sang tên cho anh để anh vay vốn ngân hàng. Mọi giấy tờ của bà L là do anh cất
giữ nên khi làm thủ tục chuyển nhượng thửa đất của bà L sang cho vợ chồng anh
thì bà L không biết. Trong hợp đồng chỉ có chữ ký của anh là đúng, còn chữ ký,
điểm chỉ của ông V1, bà T1 và chữ ký của chị V là không đúng.
Chị V cũng thừa nhận là năm 2021 bà L có gọi vợ chồng chị về nhà để làm
giấy tờ sang tên đất, tuy nhiên do tình hình dịch bệnh Covid-19 và có con nhỏ nên
chị không thể cùng anh G về quê để làm giấy tờ được. Vì tin tưởng chồng nên chị
để cho anh G về Thanh Hóa làm các giấy tờ nhà đất, mọi giấy tờ thủ tục đều do
anh G lo liệu làm. Kết luận giám định của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết
luận chữ ký trong hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ không phải chữ ký của chị V.
Như vậy, chữ ký Nguyễn Thị Thu V trong hợp đồng là giả.
13
Theo quy định tại khoản 1 Điều 48 Luật Công chứng, thì: “Người yêu cầu
công chứng, người làm chứng, người phiên dịch phải ký vào hợp đồng, giao dịch
trước mặt công chứng viên”. Chị V không có mặt và không trực tiếp ký vào hợp
đồng (văn bản công chứng) nhưng công chứng viên vẫn thực hiện việc công
chứng văn bản là trái pháp luật.
Đối với chữ ký, điểm chỉ của ông Lê Đức V1: Qua giám định thì không đủ
cơ sở để xác định dấu vân tay là của ai, chữ ký tại trang 1, trang 2 của hợp đồng
không phải là chữ ký của ông V1, còn chữ ký, chữ viết họ tên tại trang 3 là chữ
ký, chữ viết của ông V1 nhưng trang 3 của hợp đồng đã bị thay, nên không đủ căn
cứ để khẳng định toàn bộ chữ ký trong hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ là của
ông Lê Đức V1.
Như vậy, hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ này là hợp đồng giả tạo, vi
phạm điều cấm của luật nên là hợp đồng vô hiệu.
Mặt khác, như phân tích ở phần trên, thì hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ
theo hợp đồng công chứng số: 2761. Quyển 3.2018/TP-CC ký ngày 12/12/2018
giữa ông Lê Đức V1, bà Trương Thị T1 với bà Lê Thị L tại VPCC Q đang có
hiệu lực pháp luật, nên hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ theo hợp đồng công
chứng số 4538, quyển số: 03/2021 TP/CC-SCC/HĐGD ký ngày 11/8/2021 giữa
ông Lê Đức V1, bà Trương Thị T1 với anh Lê Anh G, chị Nguyễn Thị Thu V tại
VPCC H đối với cùng một thửa đất là không có hiệu lực pháp luật.
Do đó, việc căn cứ vào hợp đồng vô hiệu để thực hiện đăng ký biến động
tại Chi nhánh VPĐKĐĐ huyện H là không hợp pháp, nên nội dung đăng ký biến
động: chuyển nhượng cho ông Lê Văn G, sinh năm 1972, CMND: 2715xxxxx và
bà Nguyễn Thị Thu V, sinh năm 1975, CMND: 2726xxxxx cùng thường trú
521/xxx/xx, KP1, phường L, B, Đồng Nai. Mã hồ sơ 018926. CN.004 cũng
không có hiệu lực pháp luật.
Như vậy, nội dung kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
chị Nguyễn Thị Thu V là không có căn cứ, nên HĐXX không chấp nhận kháng
cáo của chị V, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 99/2025/DS-ST ngày
26/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực x - Thanh Hóa như đề nghị của đại diện
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa là phù hợp.
[4] Về án phí: Do kháng cáo của chị Nguyễn Thị Thu V không được chấp
nhận nên chị Vân phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị, HĐXX không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn
kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 29
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu,
miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
14
1. Không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
chị Nguyễn Thị Thu V. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 99/2025/DS-ST
ngày 26/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực x - Thanh Hóa.
2. Về án phí: chị Nguyễn Thị Thu V phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn
đồng) án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự
phúc thẩm đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án
phí, lệ phí Tòa án số 0001243 ngày 08/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh
Thanh Hóa (do chị Phạm Thị Yến N1 nộp thay), chị V đã nộp đủ án phí dân sự
phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- TAND khu vực x - Thanh Hóa;
- VKSND tỉnh Thanh Hóa;
- Phòng THADS khu vực x - Thanh Hóa;
- Các đương sự;
- Lưu HS vụ án; Tòa DS.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Mai Nam Tiến
15
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng