Bản án số 155/2024/DS-PT ngày 12/07/2024 của TAND tỉnh Bắc Giang về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 155/2024/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 155/2024/DS-PT ngày 12/07/2024 của TAND tỉnh Bắc Giang về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Bắc Giang
Số hiệu: 155/2024/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 12/07/2024
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ông THiết kiện đòi tiền bà Chín
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC GIANG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 155/2024/DS-PT
Ngày 12 tháng 7 năm 2024
V/v : Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà: Ngọ Thị Thanh Hảo
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hương Giang; bà Triệu Thị Luyện
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Mai Hương
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang: Thị Hải - Kiểm
sát viên tham gia phiên toà
Trong ngày 12 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc
Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số 77/2024/TLPT-DS ngày 15
tháng 5 năm 2024, về “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá”
Do bản án dân sự thẩm số 14/2024/DS-ST ngày 09 tháng 04 năm 2024
của Toà án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa ván ra xét xử phúc thẩm số: 135/2024/QĐPT-DS
ngày 04 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ông Phan Văn T, sinh năm 1966, địa chỉ trú: Thôn T,
Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang, (có mặt).
* Bị đơn: Nguyễn Thị C, sinh năm 1969 ông Thân Văn Ú, sinh năm
1971, địa chỉ cư trú: Thôn A, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang, (có mặt).
* Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Thị C1, sinh năm
1965, địa chỉ cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang, (có mặt).
* Người làm chứng: Chị Thân Thị H, sinh năm 1984, địa chỉ cư trú: Thôn T,
xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang, (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
+ Theo đơn khởi kiện đề ngày 15/6/2023, bản tự khai, quá trình tiến hành
tố tụng cũng như tại phiên tòa nguyên đơn ông Phan Văn T trình bày:
Gia đình ông làm nghề buôn bán thức ăn chăn nuôi, năm 2012 ông bán
cám cho vợ chồng ông Thân Văn Ú Nguyễn Thị C. Khi mua bán hai bên
thỏa thuận gia đình ông đầu cám cho ông Ú, C chăn nuôi sau mỗi lứa
thì ông Ú, bà C trả anh số tiền mua cám đã đầu tư. Đến ngày 27/4/2013, ông Ú,
C không lấy cám nữa thống nhất chốt sổ ông Ú, C còn nợ lại ông số tiền
mua cám 136.480.000 đồng. Từ đó đến nay vợ chồng ông Ú, C trả vchồng
ông được 02 lần tổng số tiền 58.520.000 đồng, cụ thể: ngày 19/12/2019 trả số
tiền 35.000.000 đồng, vào ngày 20/12/2020 trả số tiền 10.000.000 đồng. Vợ chồng
ông Ú, C hiện còn nợ ông 77.960.000 đồng ông vào đòi nhiều lần từ năm
2020 đến nay nhưng vợ chồng ông Ú, bà C không trả.
Nay ông yêu cầu C, ông Ú phải trả số tiền mua cám còn nợ là 77.960.000
đồng tiền lãi tính tngày 20/12/2020 đến khi trả hết nợ với mức lãi xuất
0.83%/tháng đến khi trả hết nợ.
+ Tại biên bản lấy lời khai bị đơn Nguyễn Thị C ông Thân Văn Ú
trình bày: Gia đình ông trước kia chăn nuôi lấy cám của ông Phan
Văn T từ năm 2012. Khi mua bán hai bên thỏa thuận ôngThiết cung cấp cám cho
gia đình ông nuôi đến khi bán thì vợ chồng ông trả ông T số tiền cám
đã lấy. Nhưng trong qtrình chăn nuôi thô lỗ mỗi lứa nợ lại một ít nên
không thể tất toán cho gia đình ông T được. Đến ngày 27/4/2013 do không chăn
nuôi nữa nên hai bên chốt sổ vợ chồng ông còn nợ lại ông T số tiền
136.480.000 đồng. Sau khi chốt nợ, từ năm 2013 đến năm 2020 vợ chồng ông
trả ông T hết số tiền mua cám còn nợ trên vào các lần cụ thể: năm 2013 (không
nhớ ngày tháng) trả số tiền: 1.350.000 đồng; ngày 18-12-2013 trả số tiền:
5.500.000 đồng; ngày 26-7-2014 trả số tiền: 6.000.000 đồng; ngày 30-12-2014 trả
số tiền: 4.000.000 đồng; năm 2015 (không nhớ ngày tháng) trả stiền: 5.000.000
đồng; ngày 29-12-2015 trả số tiền: 4.000.000 đồng; ngày 23-6-2016 trả số tiền:
2.000.000 đồng; năm 2016 (không nhớ ngày tháng) trả số tiền: 2.000.000 đồng;
khoảng năm 2017 (không nhớ ngày tháng năm) đưa cho chị H trả hộ:
14.000.000 đồng; năm 2017 (không nhớ ngày tháng) trả số tiền: 3.000.000 đồng;
ngày 18-12-2017 trả số tiền: 10.000.000 đồng; ngày 14-9-2018 trả s tiền:
10.000.000 đồng; cuối năm 2018, đầu năm 2019 (không nhớ ngày tháng) trả số
tiền: 20.000.000 đồng; ngày 07-4-2019 trả số tiền 15.000.000 đồng; ngày 19-12-
2019 trả số tiền 35.000.000 đồng; ngày 20-12-2020 trả số tiền: 10.000.000 đồng.
Tổng số tiền vợ chồng đã trả cho ông T, C1 số tiền mua cám còn nợ
146.820.000 đồng. Vợ chồng ông đã trả cho ông T, C1 vượt quá số tiền vợ
chồng ông nợ ông T, C1 đmua bán cám. Nay ông T yêu cầu vợ chồng ông
trả 77.960.000 đồng tiền lãi tính tngày 20/12/2020 đến khi trả hết nợ, ông
bà không đồng ý trả.
+ Tại biên bản lấy lời khai người quyền lợi nghĩa vụ liên quan
Nguyễn Thị C1 trình bày: hoàn toàn đồng ý với ý kiến của ông T, vợ chồng
ông Ú, C mua cám đến ngày 27/4/2013 còn nlại 136.480.000 đồng. Từ
đó đến nay trả lẻ các lần 13.520.000 đồng trả 02 lần với tổng tiền
45.000.000 đồng còn nợ lại 77.960.000 đồng. Nay yêu cầu vợ chồng ông Ú,
C trả vợ chồng số tiền 77.960.000 đồng tiền lãi tính từ ngày 20/12/2020 đến
khi trả hết nợ với mức lãi xuất là 0.83%/tháng
+ Tại biên bản lấy lời khai người làm chứng chị Thân Thị H trình bày: Chị
cháu của ông Thân Văn Ú, chị cầm tiền từ ông Ú, C đtrả tiền cám cho
ông T với số tiền là 14.000.000 đồng (Mười bốn triệu đồng). Khi trả tiền thì chị
ký vào sổ của ông T. Sau khi được Tòa án cho xem bút lục số "56f" trong hồ sơ chị
xác định chữ bên cạnh mục ghi "29/01 H trả 14.000.000" chữ của chị
nhưng chị không nhớ được ngày, tháng, năm trả tiền vì thời gian đã lâu rồi.
Với nội dung trên, Bản án dân sự sơ thẩm số 14/2024/DS-ST ngày
09/4/2024 của Toà án nhân dân huyện Yên Thế đã quyết định:
Căn cứ Điều 288, Điều 430, Điều 440, Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân
sự; Điều 27, Điều 37 của Luật hôn nhân gia đình; khoản 2 Điều 26 của Nghị
quyết số 326/2016/NQ- UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ
Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí, lệ phí Tòa
án, xử:
1. Về nghĩa vụ trả nợ: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc
chị Nguyễn Thị C, anh Thân Văn Ú phải trách nhiệm trả anh Phan Văn T, chị
Nguyễn Thị C1 số tiền 103.627.031 đồng (một trăm linh ba triệu, sáu trăm hai
mươi bẩy nghìn, không trăm ba mươi mốt đồng), trong đó tiền cám còn nợ
77.960.000 đồng (bảy mươi bẩy triệu, chín trăm sáu mươi nghìn đồng) tiền lãi
25.667.031 đồng (hai mươi lăm triệu, sáu trăm sáu mươi bẩy nghìn, không trăm ba
mươi mốt đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử thẩm cho đến khi thi hành án xong,
bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại
khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015.
2. Về tiền án phí: Anh Phan Văn T không phải chịu tiền án phí dân sự
thẩm. Hoàn trả anh Phan Văn T số tiền 2.553.000 đồng (Hai triệu, năm trăm m
mươi ba nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0000376 ngày
20/10/2023 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Thế thu.
Chị Nguyễn Thị C anh Thân Văn Ú phải liên đới chịu 5.181.352 đồng
(năm triệu, một trăm tám mươi mốt nghìn, ba trăm năm mươi hai đồng) tiền án phí
dân sự sơ thẩm.
Ngoài ra bản án còn tuyên về quyền kháng cáo, quyền thi hành án đối với
các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm:
Ngày 19/4/2024, ông Thân Văn Ú kháng cáo, đề nghị Tòa án phúc thẩm sửa
bản án thẩm số 14/2024/DS-ST ngày 09/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện
Yên Thế.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
+ Ông Thân Văn Ú vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo trình bày số tiền
14.000.000 đồng ông đưa cho chị H để trả cho ông T, C1 làm ba lần, cụ thể hai
lần mỗi lần 5.000.000 đồng, một lần 4.000.000 đồng, trả o thời điểm khoảng
năm 2014, lâu rồi ông không nhớ cụ thể ngày trả.
+ Nguyễn Thị C xuất trình sổ ghi chép nhưng trong sổ không
tiền nào thể hiện ông Ú, C đưa tiền cho chị H để trả cho ông T, C1 trong
sổ không chữ ký của ông T, C1. nhất trí như ý kiến của ông Ú đã trình
bày.
+ Ông Phan Văn T bà Nguyễn Thị C1 không nhất trí với kháng cáo của
ông Ú, vợ chồng ông kinh doanh bao nhiêu năm mỗi lần ông Ú, C trả tiền
ông đều đưa sổ để C, ông Ú ký, ông nhận số tiền 14.000.000 đồng tchị
H trả hộ ông Ú, bà C o ngày 29/01/2013, ngoài ra ông bà không nhận số tiền nào
khác.
Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang phát biểu:
- Ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm
phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ theo đúng các quy định của pháp
luật Tố tụng dân sự trong quá trình thụ lý, giải quyết và xét xử vụ án. Nguyên đơn,
bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã chấp hành đúng các quy định của
pháp luật Tố tụng dân sự.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1
Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông Thân Văn Ú,
giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Thân Văn Ú phải chịu án phí dân sự phúc
thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại phiên
toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Người làm chứng đã được Toà án triệu tập hợp lệ
nhưng vắng mặt tại phiên tòa mlần thứ hai. Tòa án xét xử vắng mặt người làm
chứng là phù hợp với quy định tại Điều 229 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Xét kháng cáo của ông Thân Văn B thì thấy: Ông Thân Văn Ú kháng
cáo, đề nghị Tòa án phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm s 14/2024/DS-ST ngày
09/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thế. do kháng cáo ông Ú không
đồng ý với số tiền gốc còn n 77.960.000 đồng, ông Ú cho rằng số tiền
14.000.000 đồng ông nhờ chị H trả cho ông T C1 nhưng chưa được trừ vào tiền
gốc ông đã trả. Ông không đồng ý trả số tiền lãi 25.667.031 đồng, khi mua
bán hai bên không thoả thuận tiền lãi.
[2.1]. Đối với kháng cáo của ông Ú không đồng ý với stiền gốc còn nợ
77.960.000 đồng, vì ông Ú cho rằng số tiền 14.000.000 đồng ông nhờ chị H trả cho
ông T C1 nhưng chưa được trừ vào tiền gốc ông đã trả thì thấy: Theo các tài
liệu trong hồ sơ lời khai của chị H thể hiện, việc ông Ú nhờ chị H trả số
tiền 14.000.000 đồng cho ông T, C1 theo sổ sách ghi chép của ông T, C1
tại (bút lục 56f ), thể hiện: “…29/2 Huyền trả 14.000.000” chữ của chị H
bên cạnh số tiền trả, theo như sổ sách thì thời điểm chị H trả số tiền 14.000.000
đồng là ngày 29/01/2013. Như vậy, chị H có trả cho ông T, C1 số tiền
14.000.000 đồng do ông Ú đưa đã được ông T C1 trừ vào số tiền mua cám
còn nợ trước khi hai bên chốt số tiền cám ông Ú, bà C còn nợ vào ngày 27/4/2013.
Tại phiên toà phúc thẩm ông Ú trình bày số tiền đưa cho chị H trả cho ông T bà C1
vào năm 2014, sau khi các bên đã chốt nợ, đưa làm ba lần, tổng số tiền đưa cho chị
H 14.000.000 đồng. Tại phiên toà phúc thẩm C cung cấp quyển sổ ghi
chép của bà C về việc trả tiền cho ông T C1 nhưng trong sổ không chữ
của ông T C1 cũng nchữ ký của chị H. Ngoài tài liệu chứng cứ ông T C1
đã cung cấp cho Toà án thể hiện số tiền 14.000.000 đồng đã được trừ trước khi
chốt nợ, ông Ú không có tài liệu chứng cứ nào thể hiện sau khi chốt nợ có đưa cho
chị H số tiền 14.000.000 đồng để trả nợ cho ông T, bà C1.
Toà án cấp thẩm buộc ông Ú, C phải trả cho ông T C1 số tiền còn
nợ cám là 77.960.000 đồng là có căn cứ.
[2.2]. Đối với kháng cáo của ông Ú không đồng ý trả số tiền lãi
25.667.031 đồng vì khi mua bán hai bên không thoả thuận tiền lãi thì thấy: Các bên
thừa nhận có việc mua bán cám và có việc ngày 27/4/2013, hai bên chốt số nợ mua
cám 136.480.000 đồng, chữ của C, ông Ú. Sau khi chốt nợ ngày
19/12/2019, ông Ú, C trả 35.000.000 đồng; ngày 20/12/2020, ông Ú, C đã
trả 10.000.000 đồng cho ông T, C1, tổng số tiền hai lần trả 58.520.000 đồng,
số tiền còn nợ 77.960.000 đồng. Số tiền ông Ú, C còn nợ ông T, C1 xuất
phát từ việc giao dịch mua bán cám, ông Ú, bà C phải nghĩa vụ trả nợ cho
ông T, bà C1 nhưng ông Ú, bà C không trả.
Tại Điều 357 Bộ luật dân dự quy định về, Trách nhiệm do chậm thực hiện
nghĩa vụ trả tiền, như sau: “1/Trường hợp bên nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên
đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. 2/Lãi
suất phát sinh do chậm trtiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng
không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật
này; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của
Bộ luật này.”.
Ông Ú, C phải trả tiền lãi là phù hợp với quy định tại Điều 357 bộ luật
dân sự Tòa án cấp thẩm chấp nhận yêu cầu tính tiền lãi của ông T căn
cứ.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thẩm chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Tại cấp phúc thẩm ông Ú không đưa ra được tài
liệu chứng cứ chứng minh cho kháng o, nên không căn cứ để chấp nhận
kháng cáo của ông Ú, cần giữ nguyên bản án thẩm như đề nghị của đại diện
Viện kiểm sát tỉnh Bắc Giang.
[3]. Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét, giải quyết các quyết định
khác của bản án sơ thẩm mà không có kháng cáo, kháng nghị.
[4]. Về án phí phúc thẩm: Do giữ nguyên bản án thẩm, vậy ông Ú phải
chịu án phí dân sự phúc thẩm theo khoản 1 Điều 29 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức
thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật T tụng dân sự, không chấp nhận
kháng cáo của ông Thân Văn Ú. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Căn cứ Điều 288, Điều 430, Điều 440, Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân
sự ; Điều 27, Điều 37 của Luật hôn nhân gia đình; khoản 2 Điều 26 của Nghị
quyết số 326/2016/NQ- UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ
Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sdụng án phí, lphí Tòa
án. Xử:
1. Buộc Nguyễn Thị C, ông Thân Văn Ú phải trách nhiệm trả ông
Phan Văn T, Nguyễn Thị C1 số tiền 103.627.031 đồng (một trăm linh ba triệu,
sáu trăm hai mươi bẩy nghìn, không trăm ba mươi mốt đồng), trong đó số tiền mua
cám còn nợ 77.960.000 đồng (bảy mươi bẩy triệu chín trăm sáu mươi nghìn
đồng) tiền lãi 25.667.031 đồng (hai mươi lăm triệu sáu trăm sáu mươi bẩy nghìn
không trăm ba mươi mốt đồng).
2. Nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày bản án hiệu lực pháp luật (đối
với các trường hợp quan thi hành án quyền chủ động ra quyết định thi hành
án) hoặc kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối
với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án
xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án n phải chịu khoản
tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều
468 Bộ luật Dân sự.
3. Án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Phan Văn T không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả ông
Phan Văn T số tiền 2.553.000 đồng (Hai triệu, năm trăm m mươi ba nghìn đồng)
tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000376 ngày 20/10/2023 tại Chi cục
Thi hành án dân sự huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.
- Nguyễn Thị C ông Thân Văn Ú phải liên đới chịu 5.181.352 đồng
(năm triệu, một trăm tám mươi mốt nghìn, ba trăm năm mươi hai đồng) tiền án phí
dân sự sơ thẩm.
4. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Thân Văn Ú phải chịu 300.000 đồng án
phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc
thẩm ông Ú đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0004912
ngày 22/4/2024 tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.
5. Hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo
quy định tại Điều 2- Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự,
người phải thi hành án dân sự quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi
hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các
Điều 6; 7, 7a, 7b và 9 - Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực
hiện theo quy định tại Điều 30 - Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
-VKS Tỉnh Bắc Giang;
- Toà án nhân dân huyện Yên Thế;
- CCTHADS huyện Yên Thế;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚCTHẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
- Cục THA tỉnh Bắc Giang;
- Cổng thông tin điện TAND tối cao;
- Các đương sự;
- Lưu HS, VP./.
Ngọ Thị Thanh Hảo
Tải về
Bản án số 155/2024/DS-PT Bản án số 155/2024/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 155/2024/DS-PT Bản án số 155/2024/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất